Văn lớp 10 – Đề đề xuất Thi các trường chuyên Duyên Hải tỉnh Tuyên Quang

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

TUYÊN QUANG

——–

 

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

Đề thi có 01 trang

KỲ THI HỌC SINH GIỎI

CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN

KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

NĂM 2018

Môn: NGỮ VĂN- LỚP 10

(Thời gian: 180 phút – không kể thời gian giao đề)

 

Câu 1 (8 điểm):

Dù bạn là ai hoặc bạn bao nhiêu tuổi, nếu muốn thành đạt thì động lực cho sự thành đạt đó nhất thiết phải xuất phát từ chính bên trong con người bạn.” (Paul J.Mayer)

          Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

 

Câu 2 (12 điểm):

Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư.( Lê Ngọc Trà)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ ý kiến qua các bài thơ: Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi và Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du.

 

– Hết –

Người ra đề: Nguyễn Thị Thanh Hải- 0919.013.812

HƯỚNG DẪN CHẤM THI

MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 10

 

1/ CÂU HỎI 1

            1/ Yêu cầu về kĩ năng

– Nắm bắt và vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp làm bài nghị luận xã hội.

– Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, không mắc các lỗi chính tả và diễn đạt.

– Trình bày bài sạch, đẹp, khoa học.

            2/ Yêu cầu về kiến thức

a/ Giải thích

Động lực: là cái đến từ bên trong mỗi cá nhân, thúc đẩy ta hành động. Nói cách khác, mọi hành động của chúng ta đều có động cơ, có lí do. Chúng xuất phát từ những nhu cầu sâu xa bên trong.

=> Câu nói khẳng định tự tạo động lực chính là phẩm chất tạo khác biệt lớn nhất giữa người thành công và người thất bại, không phân biệt danh tính hay tuổi tác.

b/ Phân tích, chứng minh

* Sự thành đạt nhất thiết phải xuất phát từ chính động lực bên trong mỗi người:

– Động lực xuất phát từ nhu cầu tự bên trong, xuất phát từ những suy tư, trăn trở, khác với sự hô hào, lên gân từ bên ngoài.

– Những yếu tố để tạo động lực thực sự là:

+ Khát vọng: là hạt giống mà từ đó thành công nảy nở và phát triển. Chính khát vọng tạo nên điều kiện để người bình thường đạt được những điều phi thường.

+ Niềm tin: không nản chí khi theo đuổi con đường đã chọn dù gặp phải những trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua. Cơ hội dẫn đến thành công luôn được đo bởi chính niềm tin của mỗi người.

+ Biết tưởng tượng, hình dung ra trước kết quả: khi hình dung, hành động của chúng ta càng rõ ràng và càng thường xuyên bao nhiêu thì khả năng thực hiện càng nhiều bấy nhiêu.

…..

(Dẫn chứng, phân tích).

* Động lực thúc đẩy con người vượt qua khó khăn, thử thách, đánh thức tài năng trong con người (dẫn chứng, phân tích).

c/ Bình luận, đánh giá

– Con đường đi đến thành công ngắn nhất là phải tự tạo động lực cho chính mình. Đừng trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào những yếu tố bên ngoài.

– Nếu không có động lực chân chính, con người không thể đạt được thành công trong cuộc sống.

– Phê phán những người chỉ biết chờ đợi vào người khác, thụ động thay vì tự thân vận động.

3/ Biểu điểm

– Điểm 7 – 8: Đáp ứng tốt những yêu cầu nêu trên. Bài viết giàu sức thuyết phục bởi bố cục hợp lí, nội dung phong phú, lập luận chặt chẽ, sắc sảo, dẫn chứng sinh động, tiêu biểu. Có nhiều ý sáng tạo. Diễn đạt trong sáng, trôi chảy, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả, dùng từ

– Điểm 5 – 6: Đáp ứng được đa số các yêu cầu của đề bài. Bố cục nội dung tương đối hợp lí. Lập luận có sức thuyết phục, dẫn chứng đa dạng, chọn lọc. Diễn đạt tương đối tốt. Có thể mắc một vài lỗi chính tả và diễn đạt.

– Điểm 3 – 4: Hiểu đúng ý nghĩa câu nói nhưng còn lúng túng trong bàn luận, diễn đạt chưa chặt chẽ, thuyết phục

– Điểm 1 – 2: Hiểu nội dung ý kiến nhưng còn nông, bài viết sơ sài, lan man, lập luận lộn xộn, dẫn chứng nghèo nàn, mắc nhiều lỗi chính tả và diễn đạt.

– Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc về nội dung, phương pháp hoặc bỏ giấy trắng

(Khuyến khích những bài viết sáng tạo, có thể có thêm những suy nghĩ khác nhưng phải đảm bảo tư tưởng đúng đắn, tiến bộ, hành văn mạch lạc, lập luận logic, giàu sức thuyết phục)

2/ CÂU HỎI 2

1/ Yêu cầu về kĩ năng

– Cần xác định đây là kiểu bài nghị luận văn học có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề lí luận văn học qua phâm tích một số tác phẩm văn học cụ thể

– Vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác nghị luận.

– Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, không mắc các lỗi chính tả và diễn đạt.

– Trình bày bài sạch, đẹp, khoa học.

            2/ Yêu cầu về kiến thức

Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo một số nội dung sau:

a/ Giải thích:

– Nghệ thuật: Nghệ thuật là một lĩnh vực của cuộc sống khác các lĩnh vực khoa học. Nghệ thuật mà Lê Ngọc trà đặc biệt nhấn mạnh  ở đây là văn học – những tác phẩmnghệ thuật ngôn từ có hình tượng.

– Bao giờ: luôn luôn.

– Là tiếng nói tình cảm con người: Tình cảm của con người được thể hiện  trong tác phẩm và tình cảm của chủ thể sáng tạo – nhà văn – người nghệ sĩ.

Là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư: những tình cảm  ấy được nói ra, được viết ra xuất phát từ nhu cầu:

. Được giãi bày: được bày tỏ, chia sẻ những gì chất chứa ở trong lòng để có thể nhân đôi những niềm vui và vơi bớt những nỗi buồn.

. Gửi gắm những tâm tư: muốn kí thác vào tác phẩm những lời nhắn nhủ, những bức thông điệp, những tư tưởng, tình cảm của nhà văn….

=> Ý kiến đề cập đến đặc trưng của văn học: Văn học là tiếng nói của tình con người, những tình cảm được nói ra, viết ra từ nhu cầu được bày tỏ, chia sẻ, gửi gắm vào tác phẩm những tình cảm, tư tưởng của nhà văn. Ý kiến đồng thời đưa ra tiêu chí để đánh giá một tác phẩm chân chính phải chứa đựng những tình cảm đẹp, những tư tưởng tiến bộ làm đẹp cho tâm hồn con người.

b/ Lí giải, chứng minh:

* Tại sao “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”?

-.Văn học nghệ thuật ra đời trong những phút giây thăng hoa của tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ trước con người và cuộc sống.

– Văn học đi sâu khám phá chiều sâu không cùng của tâm hồn, tình cảm của con người

– Văn học khi viết về tình cảm của con người không tách rời với việc phản ánh tâm tư, tình cảm ước mơ, khát vọng và những suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của nhà văn về con người và cuộc sống.

– Sự phản ánh và biểu hiện bao giờ cũng được thực hiện thông qua việc xây dựng thế giới hình tượng nghệ thuật.

* Chứng minh qua hai bài thơ:

Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi: là tiếng lòng thiết tha với thiên nhiên, cuộc sống con người, là tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp ở nhà thơ: Thông qua hệ thống hình ảnh về thiên nhiên (hoè lục, tán rợp giương, thạch lựu phun thức đỏ, hồng liên trì tịn mùi hương, cầm ve…) và cuộc sống (lao xao chợ cá..), Nguyễn Trãi đã dựng lên bức tranh ngày hè sống động, giàu sức sống, cuộc sống nhân dân bình yên, no đủ. Từ đó thấy được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, khát vọng đất nước được thái bình, nhân dân khắp chốn được giàu đủ của tác giả. Đằng sau mỗi hình ảnh là cảm xúc dạt dào, bay bổng trước thiên nhiên và cuộc sống, là nỗi lòng canh cánh về trách nhiệm đối với nước với dân chưa hoàn thành. Đó là sự biểu hiện vẻ đẹp nhân cách đáng trọng của nhà thơ.

Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du: là tiếng nói nhân đạo của nhà thơ: Thông qua những hình ảnh giàu sức khái quát: son phấn, văn chương tác giả khắc hoạ tài năng, tâm hồn, trí tuệ của nàng Tiểu Thanh – con người có vẻ đẹp hoàn thiện nhưng lại phải chịu số phận đau thương. Từ đó nhà thơ ngợi ca, xót thương cho những con người tài sắc mà bạc mệnh, trân trọng cái đẹp ở đời, đồng thời tỏ rõ sự bất bình trước những ngang trái ở đời, tố cáo những lực lượng đã chà đạp lên con người. Không chỉ thể hiện sâu sắc nỗi thương người và nhà thơ còn kí thác những nỗi niềm tâm sự riêng qua việc tự nhận mình là người cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh. Đó chính là những tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác phẩm chống lại mạnh mẽ quan điểm vô ngã, phi ngã trong văn thơ trung đại.

c/ Bài học, mở rộng

–  Tiếng nói tình cảm, tư tưởng trong văn học gắn liền với những hình thức nghệ thuật  đặc sắc là cơ sở để tạo nên giá trị và sức sống lâu bền cho tác phẩm văn học.

– Đối với người tiếp nhận: ý kiến giúp hiểu sâu hơn về trưng cơ bản của văn học và tiêu chí để đánh giá một tác phẩm văn học có giá trị. Khi đến với tác phẩm văn học luôn chú ý khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm trong đó có những thông điệp tình cảm, tư tưởng sâu sắc mà tác giả chia sẻ và gửi gắm trong tác phẩm.

– Đối với người sáng tác: trước con người và cuộc sống không thể thờ ơ, vô cảm luôn mở rộng lòng mình để cảm hiểu, chia sẻ  mới có được những tác phẩm thực sự, tình cảm nhân văn, nhân đạo kết hợp với cảm quan hiện thực sắc sảo của nhà văn là yếu tố quyết định sự sống còn của một tác phẩm văn học.

3/ Biểu điểm

– Điểm 11 – 12: Đáp ứng tốt những yêu cầu nêu trên. Bài viết giàu sức thuyết phục bởi bố cục hợp lí, nội dung chính xác, phong phú, lập luận chặt chẽ, khúc chiết, phân tích sắc sảo. Có nhiều ý sáng tạo. Diễn đạt trong sáng, trôi chảy, giàu chất văn, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả, dùng từ

– Điểm 9 – 10: Đáp ứng được đa số các yêu cầu của đề bài. Bố cục nội dung tương đối hợp lí. Lập luận có sức thuyết phục, phân tích khá sắc sảo. Diễn đạt tương đối tốt, có thể mắc một vài lỗi chính tả và diễn đạt.

– Điểm 7 – 8: Hiểu đề, lập luận khá chặt chẽ nhưng cảm nhận và phân tích chưa sâu sắc, một số câu văn diễn đạt chưa rõ ý, phần mở rộng, nâng cao thực hiện chưa thật tốt

– Điểm 5 – 6: Hiểu đề song phân tích còn nông, bài viết sơ sài

– Điểm 3 – 4: Hiểu chưa đúng trọng tâm đề, bài viết lan man, lập luận lộn xộn,

– Điểm 1 – 2: Chưa hiểu chính xác đề, phân tích thô vụng, dẫn chứng nghèo nàn, mắc nhiều lỗi chính tả và diễn đạt.

– Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc về nội dung, phương pháp hoặc bỏ giấy trắng

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *