13. Đề thi thử TN THPT 2021 – Môn Ngữ Văn – Nhóm GV MGB – Đề 13

  1. ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Có bao giờ chủng ta yêu thế gian này như yêu ngôi nhà có bếp lửa ấm áp của mình không? Có bao giờ chúng ta yêu nhân loại như yêu một người máu thịt của mình không? Chủng ta từng nói đến việc làm sao trở thành những công dân toàn cầu. Danh từ công dân toàn cầu rất dễ làm cho những ai đó lầm tưởng về một siêu nhân trong những khía cạnh nào đấy. Nhưng bản chất duy nhất của một công dân toàn cầu là một người biết yêu thương thế gian này và luôn tìm cách cải biến thế gian. Có thể sẽ có những công dân kêu lên đầy bất lực: Ta chỉ là một sinh lỉnh bé nhỏ làm sao ta có thể yêu thương và che chở cả thế gian rộng lớn nhường kia! Việc yêu thương và che chở cho cả thế gian có phải là một ước mơ hay một nhân cách hão huyền không? Không. Đó là một hiện thực và đó là một nguyên lí. Khi một con người yêu thương chân thực mảnh đất con người đó đang đứng dù chỉ vừa hai bàn chân thì người đó đã yêu cả trái đất này. Khi bạn yêu một cái cây bên cạnh bạn thì bạn yêu mọi cái cây trên thế gian. Khi bạn yêu thương một con người bên cạnh thì bạn yêu cả nhân loại. Và khi tất cả những con người dù bé nhỏ đến đâu yêu thương người bên cạnh thì tình thương yêu ấy sẽ ngập tràn thế gian này.

Tình yêu thương nhân loại sẽ ngay lập tức trở nên hão huyền và mang thói đạo đức giả khi chúng ta nói đến tình thương đó mà không bao giờ chúng ta yêu thương nổi một người bên cạnh. Và thói đạo đức giả đang lan rộng trên thế gian chúng ta đang sống.

Hãy cứu thế gian này khỏi những hận thù, những ích kỉ, những vô cảm và giá lạnh bằng những hành động cụ thể của mỗi con người đang sống trên thế gian này. Đấy là tiếng kêu khẩn thiết, đầy tình thương yêu và trách nhiệm của biết bao con người đang sống trên thế gian này.

(Trích Cần một ngày hòa giải để yêu thương, dẫn theo http://www.tuanvietnam.net, ngày 7/9/2010)

Câu 1. Đặt tên nhan đề cho đoạn trích, đồng thời chỉ ra những phép liên kết được sử dụng?

Câu 2. Tác giả đã định nghĩa như thế nào về khái niệm công dân toàn cầu?

Câu 3. Anh/cị có đồng tình với quan điểm của tác giả: “Tình yêu thương nhân loại sẽ ngay lập tức trở nên hão huyền và mang thói đạo đức giả khi chúng ta nói đến tình yêu thương đó mà không bao giờ chúng ta yêu thương nổi một người bên cạnh?”

Câu 4. Anh/chị rút ra được thông điệp, bài học gì sau khi đọc hiểu văn bản.

  1. LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1. Viết đoạn văn 200 chữ với nhan đề: Giá trị của tình yêu thương.

Câu 2. Cảm nhận vẻ đẹp độc đáo bức tranh tứ bình Việt Bắc:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

 

 

LỜI GIẢI CHI TIẾT

  1. ĐỌC HIỂU

Câu 1.

– Đặt nhan đề cho văn bản, cần chú ý nêu được đề tài hoặc chủ đề của văn bản đó một cách ngắn gọn bằng một từ hoặc cụm từ.

Thông thường, nếu là văn bản nghệ thuật, có thể chọn đề tài, nhân vật truyện hoặc cảm hứng thơ làm nhan đề. Nếu là văn bản chính luận/báo chí, có thể lấy vấn đề, chủ đề hoặc luận điểm để làm nhan đề.

Gợi ý nhan đề cho văn bản:

+ Làm sao để yêu thương cả thế gian?

+ Tình yêu thương trong cuộc sống.

+ Tình yêu thương không có biên giới lãnh thổ.

+ Cứu thế gian này bằng những yêu thương.

+ Để có một thế giới đầy lòng yêu thương.

+ …

– Các phép liên kết đã được sử dụng trong đoạn trích nhằm đảm bảo tính lôgic và mạch lạc cho văn bản:

+ Phép nối: quan hệ từ “Và…”, “Nhưng…”

+ Phép lặp: lặp lại một số từ ngữ: “công dân toàn cầu”, “chúng ta”, “yêu thương”, “thế gian”

+ Phép thế: dùng đại từ để thay thế cho từ ngữ: “đó”, “đấy”

+ Phép liên tưởng: sử dụng trường từ vựng về thế giới và lòng yêu thương: công dân, nhân loại, trái đất, tình yêu thương,…

Câu 2.

Theo tác giả, bản chất duy nhất của một công dân toàn cầu là một người biết yêu thương thế gian này và luôn tìm cách cải biến thế gian, và yêu thương cả thế gian này có thể được biểu hiện qua tình yêu thương đối với mảnh đất bạn đang đứng, một cái cây bạn đang ngắm nhìn hay một người đang bên cạnh bạn.

Câu 3.

Thí sinh chủ động đưa ra ý kiến của bản thân, đảm bảo được yêu cầu về nội dung và hình thức như sau:

– Nội dung: trình bày quan điểm cá nhân và bàn luận ngắn gọn về quan điểm đó.

– Hình thức: đoạn văn ngắn, khoảng 8 – 10 dòng, diễn đạt mạch lạc.

Gợi ý:

Tình yêu thương nhân loại sẽ ngay lập tức trở nên hão huyền và mang thói đạo đức giả khi chúng ta nói đến tình yêu thương đó mà không bao giờ chúng ta yêu thương nổi một người bên cạnh là một quan điểm đúng đắn. Bởi lẽ, với bản chất của một con người giàu lòng yêu thương, bạn sẽ tự nhiên thấy gắn bó với những người quanh mình. Và nếu giữa bạn và họ có những khúc mắc, bản chất yêu thương sẽ cho bạn lòng vị tha và khoan dung. Bất kỳ một trái tim lớn nào cũng cần được nuôi dưỡng từ những mạch máu bé nhỏ của tình yêu thương.

Câu 4.

Thí sinh chủ động đưa ra ý kiến của bản thân, đảm bảo được yêu cầu về nội dung và hình thức như sau:

– Nội dung: trình bày được bài học/thông điệp cá nhân rút ra từ văn bản và bàn luận ngắn gọn về thông điệp đó.

Bài học/Thông điệp: tình yêu thương sẽ hàn gắn thế giới; hãy biết mở lòng và yêu thương; hãy mở lòng và yêu thương những con người xung quanh mình; yêu thương nhân loại không phải là một ước mơ hão huyền;…

– Hình thức: đoạn văn ngắn, khoảng 8 – 10 dòng, diễn đạt mạch lạc.

  1. LÀM VĂN

Câu 1.

Ÿ Yêu cầu chung:

– Nội dung:

+ Xác định đúng vấn đề nghị luận;

+ Thể hiện được quan điểm cá nhân, đảm bảo được tính nhân văn trong bài viết;

+ Triển khai vấn đề thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, trình tự hợp lí, lập luận chặt chẽ; sử dụng phù hợp các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng.

– Hình thức:

+ Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận;

+ Đoạn văn mạch lạc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết;

+ Lời văn có cá tính và cảm xúc;

+ Không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Ÿ Yêu cầu cụ thể:

Hệ thống ý Dẫn dắt – Nêu từ khóa: tình yêu thương
Giải thích – Tình yêu thương là tình cảm tự nhiên của con người, được hình thành và bồi đắp qua những cảm xúc, lời nói, suy nghĩ và hành động quan tâm, chăm sóc, muốn sẻ chia đối với vật hay người.
Phân tích – Tình yêu thương có giá trị gì trong cuộc sống?

+ Tình yêu thương nuôi dưỡng những điều tốt đẹp trong cuộc sống (dẫn chứng).

+ Tình yêu thương là sự cho đi, nó mang lại hạnh phúc cho người khác.

+ Tình yêu thương cũng là sự nhận lại, bạn trao yêu thương, bạn nhận lại yêu thương và cũng nhận lại những giá trị cao quý cho mình: cảm giác hạnh phúc, bình an; lòng vị tha,…

+ Tình yêu thương biểu hiện từ những điều nhỏ bé (yêu bản thân, yêu gia đình, yêu một ngôi nhà, một dòng sông,…) đến những tình yêu vĩ đại (yêu dân tộc, yêu nhân loại,…)

– Vì sao cần bối đắp lòng yêu thương?

+ Vì lòng yêu thương là bản chất của con người, nhưng cần được nuôi dưỡng, bồi đắp thương xuyên như mạch máu nuôi dưỡng trái tim.

+ Vì xã hội này còn đầy rẫy những ghẻ lạnh, ganh ghét,… mang lại những trạng thái và trải nghiệm tồi tệ. Tình yêu thương sẽ chữa lành những điều đó, mang lại một thế giới tốt lành hơn.

Phản biện – Tình yêu thương có thể khiến bạn yếu đuối?

+ Nếu bạn có một trái tim giàu yêu thương, tức là bạn có một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế. Bạn có thể có những cảm xúc buồn khổ khi nhận thấy những điều chưa tốt đẹp trong cuộc sống.

+ Yêu thương là cảm xúc, cuộc sống còn cần cả lý trí.

→ Yêu thương và lý trí vốn không mâu thuẫn mà nó hỗ trợ nhau, chỉ cho bạn con đường giúp thế gian này tốt đẹp hơn.

Liên hệ – Bài học/Liên hệ + Từ khóa.

Bồi đắp lòng yêu thương ngay từ những suy nghĩ và hành động nhỏ: yêu thương nơi mình sống, yêu thương gia đình và những người bạn,…

Câu 2.

Ÿ Yêu cầu chung:

– Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kỹ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục rõ ràng, đầy đủ; văn viết có cảm xúc, thế hiện khả năng phân tích, cảm thụ.

– Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Ÿ Yêu cầu cụ thể:

ĐỌC HIỂU YÊU CẦU ĐỀ

Đối tượng chính, trọng tâm kiến thức: Việt Bắc

Dạng bài: Cảm nhận

– Yêu cầu:Người viết cảm nhận, bày tỏ được quan điểm, đánh giá cá nhân về sự độc đáo trong bức tranh tứ bình Việt Bắc

TIẾN TRÌNH BÀI LÀM
KIÊN THỨC HỆ THỐNG Ý NỘI DUNG CẦN ĐẠT Điểm
CHUNG Giới thiệu về tác giả – tác phẩm – Tố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian. Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm.

Việt Bắc được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này. Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình bằng thơ tuyệt đẹp trong Việt Bắc.

0.5
TRỌNG TÂM Cảm nhận Bức tranh mùa đông – Sự ngạc nhiên ngỡ ngàng về sức sống và không khí nơi non cao Vỉệt Bắc:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

+ Người đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó. Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”.

+ Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sáng làm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông Việt Bắc. Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về Việt Bắc.

+ Ánh nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ. Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cao đã tạo thành một bức tranh mùa đông rạng rỡ, đầy hi vọng.

– Bức tranh mùa xuân – Sự ấn tượng về vẻ đẹp thanh khiết, khác biệt

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

+ Đọc hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây Bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp trên những con đường màu sắc ấy.

+ Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh “người đan nón” với động tác “chuốt từng sợi giang” thật gần gũi. Động từ “chuốt” được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón. Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này. Chữ “chuốt” như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con người.

– Bức tranh mùa hè – Ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của những cánh rừng phách – đặc trưng miền non cao Việt Bắc

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

+ Tiếng ve kêu vang giữa “rừng phách” đã làm nên cái động giữa muôn vàn cái tĩnh. Màu vàng của rừng phách là đặc trưng báo hiệu mùa hè về trên xứ sở vùng cao. Tiếng ve như xé tan sự yên tĩnh của núi rừng, đánh thức sự bình yêu nơi đây.

+ Từ “đổ” dùng rất đắc điệu, là động từ mạnh, diễn tả sự chuyển biến quyết liệt, lôi cuốn của màu sắc. Bức tranh mùa hè chợt bừng sáng, đầy sức sống với màu vàng rực của rừng phách. Ở mỗi bức tranh thiên nhiên, người đọc đều thấy thấp thoáng bóng dáng con người. Có thể nói đây chính là sự tài tình của Tố Hữu khi gắn kết mối tâm giao giữa thiên nhiên và con người. Giữa rừng núi bao la, thấp thoáng bóng dáng “cô gái hái măng” tuyệt đẹp đã khiến cho thiên nhiên có sức sống hơn.

– Và cuối cùng chính là bức tranh mùa thu – sự rưng rưng về tấm chân tình

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

+ Mùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu mát lành. Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng. Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ. Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu Việt Bắc. Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy chung.

3.0
  Bàn luận, đánh giá – Vẽ lên hình ảnh thiên nhiên – con người Việt Bắc, Tố Hữu đã làm nên một bức tranh lạ mà quen. Cái quen trong bốn mùa thân thuộc ta hay gặp trong thơ ca cổ, nhưng không như thơ cổ, thiên nhiên bốn mùa Việt Bắc hiện lên thật giản dị, đậm đà màu sắc dân tộc. Không những thế, Tố Hữu còn làm nên cái riêng biệt mà chỉ vùng đất Việt Bắc – vùng đất cách mạng mới có. Cùng với thể thơ lục bát, cùng với cách xưng hô “mình”“ta”, đất nước con người Việt Nam cứ thế hiện lên yêu mến, gần gũi vô cùng trong lòng độc giả.

– Tóm lại, với 10 dòng thơ, Tố Hữu đã hài hòa trong câu lục tả cảnh, câu bát tả người, và sự hài hòa ấy tạo nên một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp, đầy màu sắc. Qua đó, Tố Hữu bộc bạch được tình cảm của mình với thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và sự thủy chung son sắc với những con người chất phác, hiền hòa nơi đây.

0.5

Bài làm mẫu:

Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng, nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi. Và cứ thế sợi nhớ sợi thương đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi “Ta – mình” của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Tố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian. Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm. Việt Bắc được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này. Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình bằng thơ tuyệt đẹp trong Việt Bắc.

Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.”

Câu thơ đầu tiên sử dụng câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, câu thơ thứ hai là tự trả lời điệp từ “ta” lặp lại bốn lần cùng với âm “a” là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa tha thiết nồng nàn. Với Tố Hữu người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của “hoa cùng người”. Ở đây hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc, còn người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa và người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt độc đáo của vùng đất này. Chính điều ấy đã tạo nên cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ. Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành cho nhớ hoa nhớ cảnh câu tám dành cho nhớ người, cảnh và người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.

Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da, cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”

Bức tranh thiên nhiên mùa đông với màu xanh tha thiết, ngút ngàn của núi rừng trùng điệp hiện ra đầu tiên. Giữa cái nền xanh tươi của rừng thẳm nổi bật hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi, làm cho núi rừng không lạnh lẽo hoang vu mà trở nên ấm áp lạ thường. Những bông hoa chuối ẩn trong sương như những ngọn đuốc. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Như vậy có thế nói, đặc trưng của mùa đông Việt Bắc so với những nơi khác là sức sống lan tỏa mạnh mẽ, là sự ấm áp, cái “đỏ tươi” của hoa chuối như xóa nhòa đi sự lãnh lẽo cô độc của mùa đông lạnh lẽo của núi rừng, như chất chứa, tiềm ẩn sức sống của đất trời. Con người hiện lên trong vẻ đẹp của chữ “ánh”, “ánh ” chính là điểm sáng, làm nổi bật vẻ đẹp của con người Việt Bắc. Ở đây tác giả không miêu tả gương mặt hay thần thái mà miêu tả ánh sáng phản chiếu nơi lưỡi dao gài ở thắt lưng. Anh nắng mặt trời chiếu xuống làm cho con dao lấp lánh ánh sáng tạo nên hình ảnh con người thật đẹp không thể nào quên, tưởng chừng con người chính là nơi hội tụ của ánh sáng, vừa lung linh vừa rực rỡ. Con người được đặt giữa “đèo cao, nắng ánh”, ở vị trí trung tâm giữa núi rừng Tây Bắc, vượt lên cả không gian với hình ảnh lớn lao, làm chủ thiên nhiên với hình ảnh kỳ vĩ. Hơn thế nữa, con dao sáng lên trong ánh mặt trời, dụng cụ đi rừng ấy hẳn là phải được mài dũa thường xuyên, điều đó không chỉ nói lên độ sắc bóng của con dao mà còn nói lên sự chăm chỉ của người Việt Bắc, đó là vẻ đẹp của con người trong lao động.

Đông qua xuân lại tới. Nhắc đến mùa xuân ta liên tưởng ngay đến sức sống mới của cỏ cây hoa lá của trăm loài đang cựa mình thức dậy sau mùa đông dài. Mùa xuân Việt Bắc cũng vậy:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Nếu mùa xuân ta đã quá quen thuộc với sắc đỏ hoa đào miền Bắc, sắc vàng hoa mai miền Nam, thì đặc trưng mùa xuân Việt Bắc chính là màu trắng tinh khôi của hoa mơ. Mùa đổi và cảnh sắc cũng đổi, màu xanh trầm tĩnh của mùa đông đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng. Hai chữ “trắng rừng” khiến cảnh rừng như bừng sáng, nó nói lên sắc xuân đã phủ lấy, trùm lên cả khu rừng rộng lớn. Thêm vào đó, động từ “nở” như sự lan tỏa của sắc trắng, lấn át mọi sắc xanh của lá rừng, đó chính là sức xuân mạnh mẽ, tạo nên một không gian thanh khiết, trữ tình. Đây không phải là lần đầu tiên Tố Hữu viết về màu trắng ấy, năm 1941 Việt Bắc cũng đón bác Hồ trong màu sắc hoa mơ:

“Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về im lặng con chim hót

Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

Mùa xuân càng trở nên tươi tắn hơn nữa bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động “chuốt từng sợi giang”. Chuốt là làm bóng, làm mịn, làm sáng lên. Qua động từ ấy thôi ta đã thấy cả một sự tỉ mỉ, cẩn trọng, nâng niu với sản phấm lao động của người Việt Bắc. Nhưng chưa dừng lại ở đó, một chiếc nón đan, phải làm từ cả trăm sợi giang cùng kết bện. Ấy vậy mà “chuốt từng sợi”, có thể nói, ẩn sau một sản phẩm tưởng chừng rất bình dị, lại là cả một sự kỳ công, cầu kỳ của những bàn tay cần mẫn, nghệ sĩ.

Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, bức tranh Việt Bắc lại sống động hơn bao giờ hết:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Bức tranh thiên nhiên hiện lên đặc trưng trong màu vàng của rừng phách, cụ thế là lá phách, một loại thực vật rất hiếm gặp ở nơi nào khác ngoài Việt Bắc. Nhưng độc đáo của bức tranh mùa hè ở đây, khác với hai mùa trên, đó là sự phối kết hợp của cả màu sắc, chuyển động, và âm thanh. Trong lăng kính nhà thơ, âm vang của tiếng ve làm lá phách đổ vàng. Tưởng chừng chỉ cần tiếng ve ngân lên đã làm tiết trời đột ngột chuyển từ xuân sang hè. Câu thơ có nét tương đồng với ý thơ “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” của Khương Hữu Dụng. Chỉ với một câu thơ mà gợi lên cả sự vận động của thời gian, của cuộc sống. Con người hiện lên trong vẻ đẹp: đó là từ “một mình” đầy chủ động của cô gái hái măng. Hình ảnh cô gái hái măng một mình toát lên vẻ đẹp của người phụ nữ chịu thương chịu khó. Tiếng gọi thân thương “cô em gái” cho thấy tình cảm gắn bó, gần gũi. Đặc biệt, người em gái đó làm việc một mình nhưng lại không hề cô đơn. Đó là bởi, cô đang lao động, chung tay cùng những anh, chị, em,… đồng bào Việt Bắc góp sức nuôi quân diệt thù. Ai cũng đang lao động, cũng cùng chung mục đích, cùng một tình yêu thương chiến sĩ, sao lại thấy cô đơn, lẻ loi được.

Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mát:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do của hòa bình rọi sáng niềm vui lên từng núi rừng từng bản làng Việt Bắc. Ta cũng từng biết đến mùa thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:

“Trăng vào cửa sô đòi thơ

Việc quân đang bận xin chờ hôm sau

Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu

Ấy tin thắng trận liên khu báo về”

Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát. Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình. Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc, của núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng.

Vâng! Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát “ân tình thủy chung” gợi cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước.

Vẽ lên hình ảnh thiên nhiên – con người Việt Bắc, Tố Hữu đã làm nên một bức tranh lạ mà quen. Cái quen trong bốn mùa thân thuộc ta hay gặp trong thơ ca cổ, nhưng không như thơ cổ, thiên nhiên bốn mùa Việt Bắc hiện lên thật giản dị, đậm đà màu sắc dân tộc. Không những thế, Tố Hữu còn làm nên cái riêng biệt mà chỉ vùng đất Việt Bắc – vùng đất cách mạng mới có. Cùng với thể thơ lục bát, cùng với cách xưng hô mình – ta, đất nước con người Việt Nam cứ thế hiện lên yêu mến, gần gũi vô cùng trong lòng độc giả. Tóm lại, với 10 dòng thơ, Tố Hữu đã hài hòa trong câu lục tả cảnh, câu bát tả người, và sự hài hòa ấy tạo nên một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp, đầy màu sắc. Qua đó, Tố Hữu bộc bạch được tình cảm của mình với thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và sự thủy chung son sắc với những con người chất phát, hiền hòa nơi đây.

Với những nét phác họa đơn sơ, bình dị, bức tranh tứ bình Việt Bắc được vẽ ra với sự hòa quyện giữa cổ điển và hiện đại, giữa con người và thiên nhiên, tất cả tạo nên một bức tranh tổng hòa về thiên nhiên và cuộc sống. Đoạn thơ chính là một nét độc đáo trong phong cách trữ tình chính trị của Tố Hữu mà khi nhắc đến Việt Bắc, người ta nhớ ngay đến những tâm hồn hồn hậu, giàu nghĩa tình, thủy chung.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *