80 bài tập nghị luận văn học – Ngữ Văn 12 – Phần 2

80 BÀI TẬP NGHỊ LUẬN VĂN HỌC – NGỮ VĂN 12 – PHẦN 2

Mục lục

ĐỀ SỐ 01. CHUYÊN LÊ QUÍ ĐÔN ĐIỆN BIÊN LẦN 1

Bàn về hình tượng “em” trong bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh có ý kiến cho rằng: “Bài thơ thể hiện vẻ đẹp truyền thống của enngười phụ nữ trong tình yêu”.Ý kiến khác lại cho rằng: “Hình tượng em thể hiện vẻ đẹp hiện đại của người phụ nữ đang yêu”.

Từ cảm nhận về hình tượng “em” trong bài thơ “Sóng”, anh/chị hãy bình luận về các ý kiến trên.

  1. KHÁI QUÁT:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Trong bài thơ, tác giả đã xây dựng thành công hình tượng “em” với những vẻ đẹp của người phụ nữ khi yêu.

– Giải thích các ý kiến:

+ “Vẻ đẹp truyền thống”: vẻ đẹp có từ xưa, được bảo tồn trong cuộc sống hiện đại, trở thành nét đặc trưng về tinh thần, văn hóa của cộng đồng, dân tộc…

+ “Vẻ đẹp hiện đại”: thời đại ngày nay, con người có đời sống văn hóa, tinh thần tự do, dân chủ, không bị ràng buộc bởi những hệ tư tưởng phong kiến.

– Hai ý kiến đề bài đưa ra đều đúng, bổ sung cho nhau, làm nên vẻ đẹp hoàn thiện vẻ đẹp của hình tượng “em” trong tình yêu tình yêu mà Xuân Quỳnh muốn gửi gắm.

  1. PHÂN TÍCH:
  2. “Bài thơ thể hiện vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu”

– Tình yêu của “em” gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách. (nỗi nhớ tràn ngập không gian, thời gian; cả ý thức lẫn vô thức: “cả trong mơ còn thức”)

– Chung thủy , son sắt trong tình yêu: Với em không chỉ có phương Bắc, phương Nam mà còn có cả “phương anh”. Đó là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư.

– Khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc: Cũng như sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, “em”- trên hành trình đi tìm hạnh phúc cho dù lắm chông gai nhưng vẫn tin tưởng sẽ đến được bến bờ hạnh phúc “Cuộc đời tuy dài thế/ Năm tháng vẫn đi qua/ Như biển kia dẫu rộng/ Mây vẫn bay về xa”

  1. “Hình tượng em thể hiện vẻ đẹp hiện đại của người phụ nữ đang yêu”.

– Tâm lí phong phú, đa dạng, luôn chứa đựng biến động, thao thức thất thường, vừa nồng nàn, táo bạo, tha thiết, vừa tỉnh táo, đắm say

– Trong tình yêu “em” không cam chịu, nhẫn nhục mà luôn chủ động, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt, đồng cảm, bao dung “Sông hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”; dám chủ động, trực tiếp bày tỏ tình yêu “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”

– “Em” dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”

  1. Nghệ thuật:

– Bài thơ có âm hưởng vừa dạt dào, sôi nổi, vừa êm dịu, lắng sâu. Kết cấu song

trùng hai hình tượng “sóng” và giúp người phụ nữ biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn và những quan niệm về tình yêu vừa mới mẻ, hiện đại, vừa sâu sắc, mang tính truyền thống.

– Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, cách ngắt nhịp linh hoạt, nghệ thuật so sánh, nhân

hóa, ẩn dụ được sử dụng sáng tạo, tài hoa.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Hai ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu, thể hiện rõ những quan niệm mang tính mới mẻ, hiện đại, thậm chí táo bạo, chân thực, mãnh liệt, nồng nàn, đắm say của Xuân Quỳnh về tình yêu. Nhưng mặt khác. Quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh có cốt rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc vì thế thơ Xuân quỳnh nói chung và bài thơ “Sóng” nói riêng tạo sự đồng điệu trong nhiều thế hệ độc giả.

Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm. “Sóng” xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung.

 

ĐỀ SỐ 02. SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HỒ CHÍ MINH

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ [Vợ nhặt – Kim Lân] và nhân vật người đàn bà hàng chài [Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu] để thấy được tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt trong tâm hồn của hai người mẹ này.

  1. Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Truyện khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống.

– Nguyễn Minh Châu là một cây bút tiêu biểu trong nên văn học hiện đại Việt Nam, được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” cho công cuộc đổi mới văn học từ sau 1975.

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa tiêu biểu cho phong cách văn xuôi và những đổi mới trong sáng tác của ông. Tác giả đã khắc họa nhân vật người đàn bà hàng chài – một người phụ nữ nghèo, lam lũ, vất vả nhưng vẫn ánh lên những phẩm chất tốt đẹp, quý báu.

  1. Phân tích:

 * Tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt trong tâm hồn bà cụ Tứ:

– Trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, bà cụ Tứ “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Bà hờn tủi cho thân mình đã không làm tròn bổn phận với con.

– Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng”. Bà thật sự mong muốn các con sẽ hạnh phúc. Bà giấu nỗi đau buồn, lo lắng để nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai.

– Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con:

+ Trong ý nghĩ: bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Trong lời nói: Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này: ” Tràng ạ, khi nào…đàn gà cho mà xem”. Trong bữa cơm ngày đói, Kim Lân đã để cho bà cụ gần đất xa trời lại trải qua bao khốn khổ cuộc đời là người nói nhiều nhất về tương lai hạnh phúc. Thì ra chính tình thương yêu con đã khiến cho sức sống, sự lạc quan ở người mẹ ấy bùng lên mạnh mẽ.

+ Trong hành động: Bà cùng con dâu thu dọn nhà cửa, quét dọn sân vườn cho sạch sẽ; nấu một nồi cháo cám bổ sung vào bữa ăn ngày đói như để ăn mừng nhân ngày con trai lấy được vợ.

 * Tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt trong tâm hồn người đàn bà hàng chài:

– Rất mực yêu thương con: tận tâm bảo bọc, che chở, cố tránh cho con khỏi bị tổn thương…

– Chấp nhận chung sống vời người đàn ông vũ phu chứ quyết không chịu bỏ cũng vì muốn những đứa trẻ luôn có bố “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”

– Hạnh phúc bình dị là khi nhìn những đưa con được ăn no.

=> Chính tình thương con là sức mạnh để chị tìm thấy niềm vui và ý nghĩa cuộc sống.

  1. Đánh giá:

– Khẳng định tài năng của Kim Lân và Nguyễn Minh Châu trong việc miêu tả hai nhân vật bà cụ Tứ và người đàn bà hàng chài. Cả hai nhân vật đều được đặt vào những tình huống éo le, đặc biệt và đều được các tác giả đi sâu khai thác thế giới bên trong nội tâm nhân vật.

– Tuy hoàn cảnh khác nhau nhưng hai người mẹ này đều có nét chung là trải qua nhiều nỗi khổ cực trong đời mà vẫn luôn giữ được sự lạc quan, niềm tin vào tương lai và cội nguồn sâu xa của những điều đó chính là nhờ tình yêu thương con vô bờ. Hai nhân vật này đã góp phần hoàn thiện chân dung người phụ nữ Việt Nam.

 

ĐỀ SỐ 03. CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LẦN 1

Anh/ chị hãy phân tích vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến” (SGK Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục) của nhà thơ Quang Dũng.

1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc,… nhưng thành công hơn cả là trong lĩnh vực thơ ca.

– “Tây Tiến” là bài thơ xuất sắc trong sự nghiệp văn chương của Quang Dũng, cũng là một trong những bài thơ hay nhất viết về đề tài người lính trong kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến vừa hào hùng vừa hào hoa.

2 Phân tích vẻ đẹp người lính Tây Tiến:

 a/ Vẻ đẹp hào hùng:

* Được khắc họa tập trung trong tương quan với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hiểm trở, dữ dội, hùng vĩ.

* Những biểu hiện cụ thể:

– Những người lính có lí tưởng yêu nước cao cả. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã kết tinh được vẻ đẹp lí tưởng yêu nước của những chàng trai thanh niên Hà Nội. Họ là những chàng trai thời loạn tự nguyện xếp bút nghiên ra chiến trường, sẵn sàng dấn thân, xả thân cho đất nước với lí tưởng cao cả “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

– Những người lính có ý chí , nghị lực, đối mặt vượt lên mọi khó khăn thử thách. Biết bao khó khăn chồng chất: sự hiểm trở cả địa hình (“Dốc lên khúc khuỷu”, “heo hút cồn mây”…), sự oai linh của rừng thiêng nước độc (“Chiều chiều oai linh thác gầm thét”), sự rình mò của thú dữ (“đêm đêm…cọp trêu người”…)…, sự dãi dầu của thân xác trong một thời gian dằng dặc (“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”…), sự hoành hành của bệnh tật nơi “Lam Sơn chướng khí” (“không mọc tóc”, “xanh màu lá”…)…Vậy mà những người lính ấy không hề nản chí, chùn bước.

– Người lính đối mặt với cái chết – thử thách nghiệt ngã nhất mà không hề bi lụy.

=> Người lính Tây Tiến qua hồi tưởng của nhà thơ dù phải đốii diện với những khó khăn mất mát nhưng vẫn hiện ra kì vĩ, oai phong, kiêu hùng và cũng thật hào hùng.

 b/ Vẻ đẹp hào hoa:

* Để khám phá và thể hiện chân thực vẻ đẹp hào hoa của người lính, nhà thơ đã đặt hình tượng này trong tương quan với khung cảnh nên thơ, thi vị, huyền ảo, duyên dáng của thiên nhiên miền Tây.

* Những biểu hiện cụ thể:

– Cảm nhận tài hoa, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên miền Tây:

+ Họ ngỡ ngàng nhận ra “hoa về trong đêm hơi” ở Mường Lát.

+ Họ sảng khoái khi ngắm “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Họ thực sự thấy ấm áp khi cảm nhận hương vị cơm lên khói, hương “thơm nếp xôi” ở Mai Châu.

+ Chỉ những người lính Tây Tiến mới nhìn những bó đuốc cháy sáng trong đêm hội liên hoan ở một vùng đất tưởng như bị lãng quên hoang vu thành “đuốc hoa”, mới thấy “hoa đong đưa” như làm duyên cùng dòng nước lũ.

+ Chất hào hoa đã gửi vào cái nhìn cảnh vật tạo nên những câu thơ đầy ám ảnh:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

 Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”

Câu thơ chất thi sĩ trong sâu thẳm tâm hồn người lính Tây tiến, trong khoảnh khắc giao cảm bất ngờ với hồn tạo vật.

– Những câu thơ viết về nỗi nhớ làm cho tâm hồn người lính thăng hoa “Đêm mơ Hà Nôi dáng kiều thơm” vô cùng lãng mạn, bay bổng.. Chính nỗi nhớ, ước mơ hướng về một góc phố, một ngõ nhỏ, về những dáng kiều thơm ấy đã tiếp sức, nâng bước cho

người lính trẻ Hà Nội thêm vững vàng, quyết tâm chiến đấu, xả thân vì tổ quốc.

 c/ Nghệ thuật xây dựng và miêu tả hình tượng:

– Quang Dũng đã chọn cách thể hiện vẻ đẹp của người lính Tây Tiến một cách độc đáo”

+ Sự hòa trộn giữa hiện thực và trữ tình, bi và tráng…

+ Bút pháp tương phản…

+ Ngôn từ thơ giàu chất họa và chất nhạc…

3 Đánh giá:

Bài thơ giúp ta thêm hiểu, trân trọng, tự hào về những người lính trí thức, trân trọng sự sáng tạo đầy bản sắc và bản lĩnh của Quang Dũng.

 

ĐỀ SỐ 04. THPT CHU VĂN AN HÀ NỘI

 Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh (chị) về sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống.

  1. Về tác giả, hoàn cảnh sáng tác:

– Kim Lân là nhà văn nổi tiếng với thể loại truyện ngắn. Ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ, tâm lý của những người dân quê để viết nên những trang văn chân thật và cảm động về họ.

– Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc được viết lại từ phần đầu của tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Tác phẩm đã xây dựng được những nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc với người đọc, tiêu biểu là nhân vật người vợ nhặt.

  1. Cảm nhận về người vợ nhặt:

– Người vợ nhặt hiện lên như một nạn nhân tiêu biểu của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhân vật không có tên riêng, không có lai lịch… chỉ là một thân phận bọt bèo trôi dạt giữa dòng đời. Cái đói đã hủy hoại cả vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nữ tính của một người phụ nữ.

– Người vợ nhặt có một khát vọng sống mãnh liệt, một khát vọng hướng về mái ấm gia đình rất đáng trân trọng. Người vợ nhặt theo Tràng về nhà không chỉ vì cái đói dồn đuổi mà còn xuất phát từ ước mơ được sống trong một gia đình ấm cúng, từ sự cảm động trước một tấm lòng hào hiệp hiếm có trong nạn đói. Vì vậy trên đường về nhà cùng Tràng thị tỏ ra e thẹn, ngượng ngập và ý tứ hơn. Khi nhìn thấy ngôi nhà lụp xụp rách nát, người phụ nữ ấy vẫn ở lại để cùng chia sẻ cuộc đời đói khổ với Tràng chứ không bỏ đi.

– Người vợ nhặt có nhiều phẩm chất tốt đẹp. Vẻ đẹp bị lu mờ, khuất lấp trong nạn đói đã dần dần được thể hiện. Trong buổi sáng ngày hôm sau, người vợ nhặt đã hiện lên trong hình ảnh người phụ nữ hiền hậu, nết na, đúng mực, biết lo toan vun vén cho gia đình, cư xử tinh tế với mẹ chồng… . Đây là một sự thay đổi vừa bất ngờ vừa tất yếu.

– Người vợ nhặt đã nhắc đến cảnh phá kho thóc của Nhật chia cho người đói trong bữa cơm đón nàng dâu mới. Ánh sáng của tương lai dường như đã xuất hiện trước mặt các nhân vật với hình ảnh đó. Nhân vật người vợ nhặt đã góp phần thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

– Kim Lân đã xây dựng nhân vật người vợ nhặt trong một tình huống truyện độc đáo, miêu tả ngoại hình, sử dụng ngôn ngữ đối thoại và thể hiện tinh tế diễn biến tâm lý nhân vật… để bày tỏ sự trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của t ình người và niềm hi vọng của cuộc sống của những người dân nghèo khổ.

  1. Trình bày suy nghĩ về sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống:

– Tình yêu thương giúp con người biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ những người xung quanh mình. Con người sẽ không phải sống cô đơn, lạnh lẽo giữa cuộc đời.

– Người trao yêu thương và người nhận yêu thương đều có được niềm vui và hạnh phúc, được sống có ý nghĩa hơn.

– Tình yêu thương có sức mạnh kỳ diệu, có thể cảm hóa, thanh lọc tâm hồn con người, hướng thiện và tạo nên một cuộc sống tốt đẹp hơn.

– Có tình yêu thương, con người sẽ có động lực để vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống.

 

ĐỀ SỐ 05. THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN LẦN 1

Bàn về đặc điểm cái “tôi” trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, có ý kiến cho rằng: Đó là cái tôi giàu khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt. Lại có ý kiến khẳng định: Bài thơ đã thể hiện một cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người.

Từ cảm nhận về cái “tôi” trong bài thơ, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

  1. Vài nét về tác giả, tác phẩm:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– “Sóng” là bài thơ tình đặc sắc được Xuân Quỳnh sáng tác nhân chuyến đi thực tế về vùng biển Diêm Điền. Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người nhưng cũng chất chứa nhiều day dứt, lo âu.

  1. Cảm nhận về cái tôi trong bài “Sóng”:

2.1 Giải thích ý kiến:

– “Cái tôi” là cái bản ngã, là tâm trạng, cảm xúc, là thế giới tâm hồn riêng của nhà thơ trước hiện thực khách quan. Qua “cái tôi”, ta có thể thấy được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng… của nhà thơ trước cuộc đời.

– “Khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt”: là những mong muốn, khát khao trong cuộc sống và tình yêu được đẩy lên đến cao độ, nồng nàn – biểu hiện của một con người trẻ trung, say mê, đầy sức sống.

– “Cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người”: là cái tôi tinh tế trong cảm nhận, giàu trăn trở suy tư khi nhận ra sự ngắn ngủi của tình yêu và sự mong manh của đời người.

=> Cả hai ý kiến trên đều đúng và bổ sung cho nhau, hoàn thiện ý nghĩa khái quát: thơ Xuân Quỳnh tiêu biểu cho tiếng nói tâm tư, tình cảm của giới mình.

2.2 Cảm nhận về cái tôi trong bài “Sóng”

  1. Cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt:

– Cái tôi khát vọng được sống đúng với cá tính của mình, được thấu hiểu và được yêu thương nên đã dấn thân vào hành trình gian truân tìm kiếm hạnh phúc: “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”.

Cái tôi còn khát vọng khám phá bản chất, nguồn gốc của tình yêu, để rồi nhận ra rằng tình yêu là bí ẩn, thiêng liêng và không thể nào lí giải được “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”

– Cái tôi mang nỗi nhớ nồng nàn da diết, nỗi nhớ ấy vượt qua mọi khoảng cách không gian, mọi giới hạn thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi cả vào trong tiềm thức, xâm nhập cả vào những giấc mơ: “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức/ Dẫu xuôi về phương Bắc/ Dẫu ngược về phương Nam/ Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh một phương” – Cái tôi khát vọng và tin tưởng tình yêu chung thuỷ sẽ vượt qua những biến động của cuộc sống, những thăng trầm của cuộc đời để đến được bến bờ hạnh phúc: “Cuộc đời tuy dài thế/ Năm tháng vẫn đi qua/ Như biển kia dẫu rộng/ Mây vẫn bay về xa”. Đó cũng chính là một nét đẹp của cái tôi trữ tình hay chính nhà thơ.

  1. Cái tôi nhạy cảm day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người:

– Bằng sự chiêm nghiệm của một trái tim đa cảm và sự từng trải, nhà thơ đã sớm nhận ra nghịch lý: đời người là ngắn ngủi so với thời gian vô thuỷ vô chung; khát vọng tình yêu là khôn cùng mà kiếp sống của mỗi người là hữu hạn.

– Cái tôi tìm cách hoá giải nghịch lý và nỗi day dứt ấy bằng khát vọng hoá thân vào sóng, hoà nhập vào biển lớn tình yêu để mãi mãi được yêu thương và dâng hiến, để tình yêu vượt qua sự hữu hạn của phận người: “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”

  1. Nghệ thuật thể hiện:

– Cái tôi trong “Sóng” được thể hiện bằng thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu chân thành, da diết, riêng khổ 5 là khổ duy nhất trong bài gồm 6 câu thơ, như một sự phá cách để thể hiện một trái tim yêu tha thiết, nồng nàn.

– Ngôn ngữ bình dị với thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương phản, đối lập, các điệp từ; cặp hình tượng sóng và em vừa sóng đôi, vừa bổ sung hoà quyện vào nhau cùng diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của cái tôi thi sĩ.

  1. Bình luận, đánh giá hai ý kiến:

– Hai ý kiến trên đều đúng, cả hai đề cập đến những đặc điểm khác nhau của cái tôi Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng. Ý kiến thứ nhất nhất mạnh đến khát vọng sống, khát vọng yêu, ý kiến thứ hai khẳng định sự nhạy cảm, nỗi day dứt của cái tôi về giới hạn tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người.

– Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành sự nhìn nhận toàn diện về cái tôi của thi sĩ; giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và thấu đáo hơn về vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

 

ĐỀ SỐ 06. CHUYÊN HOÀNG VĂN THỤ HÒA BÌNH LẦN 1

Có ý kiến cho rằng “Qua bài thơ Tây Tiến, nhà thơ Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh đẹp về núi rừng Tây Bắc” Lại có ý kiến cho rằng “ Thành công lớn nhất của Quang Dũng ở bài thơ Tây Tiến là khắc họa vẻ đẹp bi tráng của những người lính Việt Nam thời chống Pháp.”

Bằng hiểu biết của anh( chị) về bài thơ “Tây Tiến”, hãy bình luận những ý kiến trên?

1 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa. Ông là một trong những cây bút tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

– Tây Tiến là một bài thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang Dũng, xuất hiện ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thơ đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội.

  1. GIẢI THÍCH Ý KIẾN

– Ý kiến thứ nhất: Nhà thơ Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh thiên đẹp về núi rừng Tây Bắc. Bằng ngòi bút giàu chất thơ, chất nhạc, Quang Dũng đã dựng lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội mà cũng thơ mộng, nên thơ.

– Ý kiến thứ hai:

+ “Bi” là đau buồn, bi ai.

+ “Tráng” là khỏe khoắn, mạnh mẽ.

“Bi tráng” là nói đến nỗi buồn, đau do gian khổ, bệnh tật, mất mát, hi sinh nhưng không hề có than vãn, khổ lụy. Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến thể hiện ở sự hào hùng, mãnh liệt; ý chí chiến đấu quên mình, tâm hồn hào hoa, lãng mạn . . . giữa bao gian khổ – hi sinh. Họ “bi” mà không “lụy”, buồn đau mà hùng tráng, mất mát, hi sinh mà vẫn lạc quan . . .

  1. CHỨNG MINH- BÌNH LUẬN Ý KIẾN

Hai ý kiến khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành một cái nhìn khái quát về “Tây Tiến”. Từ bài thơ “ Tây Tiến”, thí sinh có thể cảm nhận và làm sáng tỏ một cách linh hoạt với những cách thể hiện cảm nhận khác nhau. Dưới đây là những ý tham khảo:

a -Ý kiến thứ nhất: Thiên nhiên miền Tây

 – Một Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt:

+ Địa hình đồi núi hiểm trở, thật sự là một thách thức với con người

 “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

+ Thiên nhiên hùng vĩ, bí hiểm, chứa đựng nhiều hiểm nguy:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

=> Bút pháp tả thực cùng việc sử dụng liên tiếp các từ láy tượng hình “khúc khuỷu” “thăm thẳm” “heo hút”, các thanh trắc đã góp phần tái hiện thành công vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc.

 – Một Tây Bắc thơ mộng, trữ tình, duyên dáng, nên thơ:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ, hoa đong đưa”

Cảnh đẹp như mộng lại như tranh, chỉ vài nét chấm phá mà tinh tế, tài hoa, Quang Dũng không tả mà chỉ gợi, cảnh thiên nhiên hoang sơ không phải là vô tri vô giác mà phảng phất trong gió, trong cây như có linh hồn con người:” Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. Bốn câu thơ làm hiện lên bức tranh thủy mặc nhưng lại không tĩnh tại mà sống động, thiêng liêng. Đúng như giáo sư Trần Đình Sử đã nhận xét: Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào một thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, cõi nhạc”.

– Tiểu kết: Bài thơ khắc họa thành công thiên nhiên miền Tây qua nỗi nhớ của Quang Dũng với ngòi bút vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từ việc sử dụng thủ pháp phóng đại và đối lập kết hợp với ngôn ngữ giàu chất tạo hình, nhà thơ đã tạo nên một thiên nhiên Tây Bắc vừa hoang vu bí hiểm lại vừa thơ mộng ấm áp.

b Ý kiến thứ hai: vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến

– Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt – có bóng dáng của tráng sĩ xưa nhưng cũng rất thời đại, rất mới mẻ:

+ Quang Dũng không hề che dấu sự gian khổ, khó khăn trên những chặng đường hành quân, những căn bệnh hiểm nghèo và cả những hi sinh mất mát của người lính. Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

+ Trong gian khổ, mất mát, đau thương, họ vẫn luôn giữ nét trẻ trung, hào hoa, lãng mạn của những chàng trai Hà thành “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Những câu thơ khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ. Người lính Tây Tiến không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Đó là dũng khí tinh thần và hành động cao đẹp. Tư thế ra trận, lý tưởng lên đường hào hùng mà bi tráng.

+ Họ luôn giữ trọn lời thề chung thủy với cách mạng, với Tây Tiến:

“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

– Nghệ thuật: Hình tượng người lính Tây Tiến được miêu tả bằng sự kết hợp hài hòa, điêu luyện giữa cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Trong bài thơ, Quang Dũng đã dựng lên bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp, sức mạnh của dân tộc ta trong thời kỳ đầu chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến, được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước mình.

4 ĐÁNH GIÁ:

– Hai ý kiến bổ sung khái quát cho nhau làm nên vẻ đẹp của bài thơ Tây Tiến .

– Khẳng định vẻ đẹp của hồn thơ và tài thơ Quang Dũng cũng như sức sống bền bỉ của bài thơ qua các thời đại.

 

ĐỀ SỐ 07. CHUYÊN NGUYỄN HUỆ HÀ NỘI LẦN 1

Về tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh ( sách Ngữ văn 12) có ý kiến cho rằng “ Đó là một tác phẩm có giá trị lịch sử to lớn”. Ý kiến khác thì khẳng định: “ Đó là một áng văn chính luận mẫu mực”

Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên?

  1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực.

– Ở thể loại văn chính luận, Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945. “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện lịch sử vô giá mà còn là một tác phẩm văn học vô giá.

  1. GIẢI THÍCH Ý KIẾN

– Ý kiến thứ nhất nói đến phương diện nội dung của tác phẩm. Ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, viết về những sự kiện trọng đại của dân tộc, “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn.

– Ý kiến thứ hai: nhìn nhận từ phương diện nghệ thuật của tác phẩm.”Tuyên ngôn độc lập” là áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực; tràn đầy tâm huyết, khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của Chủ tích Hồ Chí Minh và cả dân tộc. Bằng lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng thuyết phục, giọng văn hùng hồn, đanh thép, Hồ Chí Minh đã làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam.

  1. CHỨNG MINH – BÌNH LUẬN Ý KIẾN

a Tuyên ngôn độc lập “ Là một tác phẩm có giá trị lịch sử to lớn”:

– Ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào tại quảng trường Ba Đình,Hà Nội. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gần một trăm năm của dân tộc ta để có quyền thiêng liêng đó.

– Bản Tuyên ngôn đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: kỉ nguyên độc lập tự do, kỉ nguyên nhân dân làm chủ đất nước.

+ Bản tuyên ngôn khẳng định nhân dân ta đã đấu tranh giành độc lập, tự do từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp và đã anh dũng thực hiện hai cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ để thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

+ Bản tuyên ngôn còn tuyên bố thoát ly quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi của Pháp trên đất nước Việt Nam “ ởi thế cho nên, chúng tôi thoát ly hẳn… xóa bỏ hết… xóa bỏ tất cả… trên đất nước Việt Nam”

+ Tuyên bố về quyền được độc lập của dân tộc, về sự thật là nước Việt Nam đã giành được độc lập “ Nước Việt nam… độc lập,”khẳng định ý chí kiên quyết bảo vệ quyền tự do, độc lập của toàn dân tộc VN “ Toàn thể … độc lập ấy”

– Mặt khác, với nội dung khái quát sâu sắc, trang trọng cùng tầm vóc của tư tưởng, tầm văn hóa lớn, bản Tuyên ngôn ra đời đã khẳng định được vị thế bình đẳng, lập trường chính nghĩa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX. Đồng thời, đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân Pháp, vạch trần dã tâm quay trở lại xâm lược cùng bản chất tàn bạo của chúng trước dư luận quốc tế “Ngày 9 tháng 3 năm nay…chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

b Tuyên ngôn độc lập “ Là một áng văn chính luận mẫu mực”:

 * Tuyên ngôn Độc lập có hệ thống lập luận chặt chẽ, với những lý lẽ sắc bén, những bằng chứng thuyết phục.

– Bản Tuyên ngôn đã khẳng định quyền lợi chính đáng của dân tộc ta – quyền tự do, bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc, trên cơ sở:

+ Cơ sở pháp lý: dựa vào bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Lấy “gậy ông đập lưng ông”, Hồ Chí Minh đã đưa ra “những lẽ phải không ai chối cãi được” một cách khéo léo. Đồng thời, điều đó còn có ngụ ý đặt ngang hàng 3 cuộc cách mạng, 3 bản Tuyên ngôn, 3 nền độc lập. Cách nói ấy vừa kiên quyết, vừa sáng tạo.

+ Cơ sở thực tiễn: Đó là dân tộc Việt Nam đã phải trải qua cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ để giành lại độc lập từ tay Nhật “Khi Nhật đầu hàng Đồng minh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”

=> Như vậy, quyền tự do, bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc là quyền lợi chính đáng và bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.

– Vạch trần âm mưu, tội ác và những luận điệu xảo trá của thực dân Pháp:

+ Về chính trị: chúng tước đoạt quyền tự do của dân ta, dùng chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, đàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa của ta, làm suy nhược giống nòi,…

+ Về kinh tế: bóc lột dân ta tàn tệ, độc quyền in giấy bạc, đặt ra những thứ thuế vô lí,…

+ Hai lần bán nước ta cho Nhật

=> Bằng những dẫn chứng cụ thể, chính xác, đầy đủ ở các mặt, Người đã chứng minh cho toàn thế giới thấy những gì Pháp đã làm trên đất nước Việt Nam là hoàn toàn trái với lá vờ “tự do, bình đẳng, bác ái” mà chúng vẫn rêu rao trước dư luận quốc tế.

– Tổng kết cuộc cách mạng của dân tộc, từ đó khẳng định độc lập và chủ quyền và quyết tâm giữ vững thành quả cách mạng của dân tộc ra bằng những lập luận logic, xác đáng: ” ởi thế cho nên “, “Vì những lẽ trên”

 * Giọng văn hùng hồn, đanh thép nhưng vẫn thấm đượm chất trữ tình nên giàu sức thuyết phục.

– Lời văn trong “Tuyên ngôn Độc lập” có lúc vang lên chắc nịch khi tác giả trích dẫn những bản tuyên ngôn của nước Mỹ, Pháp; vừa đanh thép vừa đau đớn, căm giận khi kể tội giặc Pháp; sung sướng, tự hào với sức mạnh quật khởi nghĩa của nhân dân khi đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật, giành lấy chính quyền; quyết tâm sắt đá khi nói về sự bảo vệ quyền tự do và độc lập của dân tộc.

=>Trong văn bản, đã có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa lí và tình. Nhờ đó, Tuyên ngôn Độc lập có một giọng điệu riêng, mà âm hưởng chính vẫn là hùng tráng, tự hào.

* Ngôn ngữ linh hoạt, chính xác, tinh tế

Sự điêu luyện về ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt, chủ yếu là :

– Câu văn uyển chuyển, sinh động, theo nhịp của giọng điệu bản Tuyên ngôn Độc lập; có những câu đơn, nhưng phần lớn là câu phức, nhiều mệnh đề.

– Sử dụng hàng loạt cấu trúc trùng điệp.

+ Trùng điệp về từ, ngữ: “Dân ta… Dân ta… Chúng tôi… Chúng tôi… Một dân tộc… Một dân tộc…”

+ Trùng điệp về câu: “Chúng thu hành… dã man”; “Chúng lập ba chế độ… đoàn kết”; “Chúng lập ra nhà tù ”; “Chúng ràng buộc…”

+ Trùng điệp về nội dung theo chiều hướng tăng tiến ở nhiều cấp độ: “Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn…”

– Hình ảnh: thẳng tay chém giết; tắm các cuộc khởi nghĩa … bể máu; bóc lột đến xương tuỷ; nước ta xơ xác, tiêu điều; ngóc đầu lên; quỳ gối đầu hàng… gây ấn tượng mạnh với người đọc.

4 Đánh giá chung:

– Hai ý kiến không hề đối lập nhau mà bổ sung, khẳng định cho nhau, góp phần hoàn thiện những giá trị cho tác phẩm.

– Thể hiện đóng góp lớn lao của người cầm bút.

 

ĐỀ SỐ 08. CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LẦN 2

“ Đây là bút kí dài nhất và tâm huyết nhất của tôi về Huế. Tôi đã mang cả tâm huyết vẽ lên một dòng sông y như nó vốn có. Dòng sông của văn hóa, lịch sử, huyền thoại”.

Anh ( chị) hãy phân tích hình tượng sông Hương trong tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường để chứng minh tác giả đã hiện thực hóa thành công ý đồ nghệ thuật trên?

1 Vài nét về tác giả, tác phẩm

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút kí tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Với thể loại kí, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”

2 Giải thích ý kiến

– Lời phát biểu là những chia sẻ của nhà văn về một trong những bút ký tâm huyết nhất của ông. Qua đó, ta hiểu ý đồ nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc tường trong tác phẩm này. Tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã thực hiện hóa thành công ý đồ ấy.

– Trong tùy bút, nhà văn đã “vẽ nên một dòng sông y như nó vốn có” nghĩa là khám phá vẻ đẹp từ góc độ tự nhiên. Không những thế sông Hương còn là “dòng sông của văn hóa, lịch sử, huyền thoại”.

3 Phân tích, chứng minh:

 Sông Hương được khám phá từ góc độ tự nhiên:

– Ở thượng nguồn, sông Hương giống như một bản trường ca của rừng già với những tiết tấu đa dạng khi thì “rầm rộ, mãnh liệt”, lúc lại “ dịu dàng, đắm say”. “ Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời… như một cô gái Digan phóng khoáng và man dại”

– Ra khỏi rừng, “ sông Hương nhanh chóng mang một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ”, chẳng khác nào người con gái đẹp “ nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng châu hóa đầy hoa dại” Hành trình về thành phố của sông Hương thật dài, nhiều khúc quanh, ngã rẽ. Vẻ đẹp của sông được miêu tả như một bức tranh đầy màu sắc “ sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”

– Đoạn miêu tả sông Hương khi chảy vào lòng thành phố thực sự là một đoạn tuyệt bút. Với cảm nhận tinh tế và một ngòi bút tài hoa, ông đã miêu tả con sông như một mỹ nhân, một tình nhân. Đường cong làm cho con sông mềm hẳn đi “ như một tiếng vẳng không nói ra của tình yêu”, điệu chạy lặng lờ của nó là “ điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Khi sông Hương đột ngột đổi dòng để gặp lại thành phố, nhà văn gọi nó “ là nỗi vấn vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”

Sông Hương được khám phá từ vẻ đẹp huyền thoại: là một “ dòng sông của văn hóa, lịch sử, huyền thoại”

-“ Sông Hương đã sống những thế kỉ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó” . Bằng một lối điểm sử vừa ngẫu hứng, vừa tài hoa đậm màu sắc tùy bút, tác giả đã chỉ ra sự song hành của sông Hương với lịch sử thành phố Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Sông Hương “ là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ xanh biếc”

– “ Có một dòng thi ca về sông Hương”, dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình. Tác gỉa thiên tùy bút đã tổng kết một cách ngắn gọn và phóng túng những vẻ đẹp khác nhau của sông Hương qua “ cái nhìn tinh tế của Tản Đà”: trong “ khí phách của Cao Bá Quát” và qua thơ Bà Huyện Thanh Quan, Tố Hữu, Nguyễn Du.

– Trong tình yêu và cảm nhận rất riêng của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương còn là “ một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” ; nhà văn khẳng định “ toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nướ của dòng sông này” Như vậy, sông Hương là cội nguồn cảm hứng cho thơ và nhạc.

– Có rất nhiều huyền thoại về sông Hương nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chia sẻ ông tâm đắc nhất với huyền thoại kể rằng: người dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi. Một huyền thoại thật đẹp, thật lung linnh, đậm chất lãng mạn,…

Đánh giá

– Sông Hương vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn khi nó được cảm nhận bởi một cái tôi uyên bác, tinh tế, tài hoa. Thiên tùy bút có mạch văn phong túng đầy ngẫu hứng, đấm chất trữ tình. Trí tưởng tượng phong phú, khả năng liên tưởng giàu có của tác giả khiến cho con sông hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng, phong phú đầy biến hóa thông qua những so sánh, liên tưởng, ví von sáng tạo, bất ngờ… Tác phẩm thực sự là một huyền thoại về một dòng sông – một huyền thoại được viết nên bởi tình yêu, sự am hiểu về Huế và một ngòi bút tài hoa hiếm có.

– Ai đã đặt tên cho dòng sông” là một trong những tùy bút hay nhất, in đậm dấu ấn phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.

 

ĐỀ SỐ 09. THPT CHUYÊN HƯNG YÊN LẦN 1

Đọc truyện ngắn “ Vợ nhặt”, nhận xét về nhà văn Kim Lân, có ý kiến cho rằng: “ Ông là cây bút có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật”, ý kiến khác lại nhấn mạnh “ Ông là nhà văn có tấm lòng nhân đạo sâu sắc”

Anh/chị hãy bình luận và làm sáng tỏ các ý kiến trên thông qua việc phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ?

  1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM, VẤN ĐỀ CẦN NGHỊ LUẬN:

– Kim Lân là nhà văn viết rất ít nhưng rất thành công ở lĩnh vực truyện ngắn. Ông được coi là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn” (Nguyên Hồng).

– Tiêu biểu cho sự thành công lĩnh vực truyện ngắn của ông là tác phẩm “Vợ nhặt” – in trong tập “Con chó xấu xí” Truyện là bài ca về tình người, về lòng lạc quan và niềm khát sống mãnh liệt của những con người sống trong tận cùng của đói khổ.

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Bằng tấm lòng và tài năng, Kim Lân đã khắc họa đậm nét và cảm động diễn biến tâm trạng đầy phức tạp và nỗi lòng của bà cụ Tứ và thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình với những kiếp người nghèo khổ.

  1. GIẢI THÍCH Ý KIẾN:

 – Ý kiến thứ nhất: “Ông là cây bút có biệt tài miêu tả tâm lí”

“ Miêu tả tâm lí” là khám phá, đi sâu vào từng ngõ ngách, thể hiện những chuyển biến tinh tế trong tâm trạng nhân vật. Ý kiến này đánh giá tài năng nghệ thuật của Kim Lân.

– Ý kiến thứ hai. “Ông là người có tấm lòng nhân đạo”

“ Nhân đạo” là lòng thương người. Tấm lòng nhân đạo được biểu hiện ở các phương diện sau:

+ Đồng cảm, xót thương trước số phận bi kịch của con người.

+ Đề cao, trân trọng, ngợi ca con người.

+ Lên án, phê phán những thế lực chà đạp lên con người.

+ Khẳng định khát vọng, ước mơ của con người về quyền sống, quyền hạnh phúc,…

3 CHỨNG MINH – BÌNH LUẬN Ý KIẾN:

Hai ý kiến khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành một cái nhìn khái quát về nhà văn Kim Lân. Từ nhân vật bà cụ Tứ, thí sinh có thể cảm nhận và làm sáng tỏ một cách linh hoạt với những cách thể hiện cảm nhận khác nhau.

Dưới đây là những ý tham khảo:

a Ý kiến thứ nhất: Ông là cây bút có biệt tài miêu tả tâm lí (2,0 điểm)

(Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật)

 – Hoàn cảnh nảy sinh tâm trạng: giữa những ngày đói, bà cụ Tứ cũng giống mọi người, lần hồi kiếm miếng ăn và lo lắng vì sự ám ảnh của cái đói thì anh Tràng- con trai bà bỗng nhiên nhặt được vợ.

– Diễn biến tâm trạng:

+ Khi trở về nhà, nhìn thấy người đàn bà lạ xuất hiện trong ngôi nhà của mình, nét tâm lí đầu tiên của bà cụ Tứ là thái độ hết sức ngạc nhiên, bà không tin ở mắt mình.

+ Sau khi nghe Tràng xác nhận đó là người vợ nhặt của Tràng, người mẹ nghèo hiểu ra bao cơ sự vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình; bao nỗi niềm tâm tư ngổn ngang trào dâng giằng xé trong bà. Lòng bà trào dâng nỗi tủi phận và cả sự lo lắng; bà lo cho con bằng nỗi lo của người mẹ nghèo từng trải đã biết thế nào là đói khát. Bởi vậy nỗi lo càng trở nên đớn đau đến quặn thắt, dồn lại thành những giọt nước mắt tủi hờn.

+ Khi nhìn người con dâu, lòng người mẹ nghèo không khỏi xót thương cho cảnh ngộ của chị. Bà hiểu và không chút coi thường, khinh rẻ mà dành cho người vợ nhặt của Tràng sự đồng cảm, xót thương, bà cư xử dịu dàng, ân cần và trìu mến đối với chị: “Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng””Con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”…

+ Mở lòng đón nhận người con dâu, tâm trạng của bà chuyển sang niềm vui và hi vọng. Bà an ủi, động viên con cũng chính là động viên mình bằng một niềm tin rất chân thật “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”

+ Hạnh phúc của đứa con khiến người mẹ có nhiều đổi thay khác lạ, nhanh nhẹn hơn, “tươi tỉnh khác thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” . Bà cố gắng bằng tấm lòng người mẹ để bù đắp để làm mất đi cái phần tủi sầu, để hạnh phúc của con thêm phần trọn vẹn.

+ Trong bữa cơm bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau, nhưng niềm vui của bà không trọn vẹn bởi không khí căng thẳng vì cái đói và sự bức bối, ngột ngạt bởi tiếng trống thúc thuế dồn dập.

– Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật:

+ Diễn tả tâm lí nhân vật tinh tế, thông qua hành động, cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, phù hợp với nhân vật…

+ Với khả năng đi sâu vào diễn biến tâm lí nhân vật, diễn tả thật xúc động tâm trạng nhân vật, nhà văn giúp người đọc hình dung rõ hơn nghịch cảnh éo le của người lao động trong nạn đói.

b Ý kiến thứ hai: Ông là nhà văn có tấm lòng nhân đạo sâu sắc

– Nhà văn đã phát hiện, chia sẻ và cảm thông với những bất hạnh, cơ cực và nỗi lòng của người mẹ nghèo. Hơn ai hết, nhà văn đã nhìn thấu những xót xa, buồn tủi của bà cụ Tứ trước cảnh ngộ éo le của con trai “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà đang ăn nên làm nổi còn mình thì “, “Người ta có gặp bước khso khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được”

– Ông còn phát hiện, trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động. Mặc dù bị xô đẩy đến bước đường cùng, mấp mé bên bờ vực của sự sống và cái chết, nhưng những người nông dân vẫn cưu mang, giúp đỡ nhau, chia sẻ cho nhau miếng cơm, manh áo. Hiện thực cuộc sống càng đen tối bao nhiêu, những phẩm chất của họ lại càng ngời sáng bấy nhiêu. ( chú ý phân tích cảnh bà cụ Tứ chấp nhận cô con dâu mới trong lúc gia đình cãng đang rất khó khăn, không biết sống chết lúc nào, đê làm nổi rõ tình người của họ).

– Kim Lân cũng thể hiện một sự trân trọng đối với khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và mái ấm gia đình; luôn tin tưởng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp với những con người cùng khổ.

Ông nâng niu từng mong ước của họ dẫu là mong ước nhỏ bé, bình dị đến tội nghiệp, đáng thương “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem”

Trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng bà cụ Tứ và vợ chồng Tràng vẫn luôn hướng tới một cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc ( cần chú ý những chi tiết diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ, thái độ của Tràng, vợ Tràng trong bữa ăn, rồi nhà cửa , sân vườn đều được quét tước , thu dọn sạch sẽ, gọn ghẽ). Một cái gì mới mẻ, khác lạ đang đến với mỗi thành viên trong gia đình bà cụ Tứ và hé mở trước họ một tương lai tươi sáng, ấm áp hơn!

4 ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Hai ý kiến đã bổ sung khái quát cho nhau làm nên một hình tượng nhân vật đẹp đẽ, có sức khái quát cao và giàu ý nghĩa nhân văn.

– Qua nhân vật bà cụ Tứ nói riêng và tác phẩm “Vợ nhặt” nói chung, ta còn thấy ở Kim Lân một cay bút có tài và một trái tim nhân hậu, yêu thương, trân trọng con người hết mực.

 

ĐỀ SỐ 10. CHUYÊN LÊ QUÍ ĐÔN LẦN 3

Bàn về nghệ thuật xây dựng hai chân dung phụ nữ điển hình trong truyện “Vợ nhặt” – Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Chị vợ nhặt được khắc họa ở phương diện bên ngoài, còn bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong”. Ý kiến của bạn?

  1. GIỚI THIỆU CHUNG:

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông thường viết truyện ngắn về đề tài nông thôn và những người dân quê.

– “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, được rút từ tập “Con chó xấu xí”. Truyện đã xây dựng thành công hai nhân vật phụ nữ: bà cụ Tứ và vợ nhặt, qua đó bộc lộ tư tưởng nhân đao sâu sắc và mới mẻ của nhà văn.

  1. CỤ THỂ:
  2. GIẢI THÍCH Ý KIẾN:

– “Chị vợ nhặt được khắc họa ở phương diện bên ngoài”: hình tượng người vợ nhặt hiện lên thông qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói…

– “ Bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong”: Tác giả khắc họa nhân vật bà cụ Tứ chủ yếu qua những diễn biến tâm trạng phức tạp, sinh động…

=> Hai ý kiến đều đúng, thể hiện nét độc đáo ở từng nhân vật, đồng thời cho thấy tài năng của nhà văn Kim Lân trong việc khắc họa hình tượng nhân vật.

  1. PHÂN TÍCH, CHỨNG MINH:
  2. Chị vợ nhặt được khắc họa ở phương diện bên ngoài

 Giới thiệu chung:

Tác giả gọi nhân vật của mình là “thị”, “người đàn bà” hoặc “người con dâu”, không có tên, tuổi và lai lịch cụ thể. Chỉ biết rằng, thị thường ngồi nhặt thóc rơi vãi ở của kho hoặc ai có việc gọi thì làm. Cuộc sống của thị cũng bấp bênh, khốn khổ trước thảm họa đói. Chính những điều đó, khiến nhân vật càng có sức khái quát. “Thị” đại diện cho biết bao người phụ nữ cùng rơi vào cảnh ngộ đáng thương, thê thảm, thân phận bị rẻ rúng như cọng rơm, cọng rác.

Ngoại hình:

– “Cái nón rách tàn nghiêng nghiêng che nửa mặt…”

– “Cái ngực gầy lép”

– “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái gương mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy 2 con mắt…”

-> Cái đói, cái nghèo đã in hằn trên hình hài của thị, khiến thị càng trở nên xấu xí, tiều tụy.

 Cử chỉ, hành động:

* Trước khi về làm vợ Tràng:

– Lần đầu gặp Tràng, giữa lúc đang nhàn rỗi, nghe câu hỏi buông ra của Tràng, những lời trêu ghẹo của bạn bè và cũng vì đói quá mà chị đã “lon ton chạy lại đẩy xe” cho Tràng – một người đàn ông không hề quen biết, rồi “liếc mắt cười tít” để tạo thiện cảm với Tràng.

– Lần thứ hai gặp lại Tràng chị chủ động trách móc “điêu, người thế mà điêu” Những lời thoại tiếp theo đó đã lái những chuyện không đâu vào mục đích thiết thân của người phụ nữ là được ăn…

– Khi được Tràng mời ăn thì “hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên…” – đây đúng là phản xạ của người đói. Rồi không ngại ngần, thị sà xuống, đánh một chặp 4 bát bánh đúc liền, chẳng trò chuyện gì. Ăn xong, thị lại cầm đôi đũa, quẹt ngang miệng.

– Sau đó, thị theo không về làm vợ Tràng mà không cần biết gia cảnh, tính tình của Tràng ra sao.

-> Miếng ăn trong cái đói quay quắt nhiều khi thúc bách con người, khiến họ quên ý tứ, không còn sĩ diện. Trong hoàn cảnh đó, bản năng sinh tồn đã lấn lướt tất cả. Sự đói khát cùng đường đã biến chị thành trơ trẽn, táo tợn, không còn giữ được danh dự.

* Trên đường về nhà:

– Chủ động bắt chuyện, tỏ ra bẽn lẽn, ngượng ngùng, mắng yêu Tràng “Bé lắm đấy, đã một mình lại còn mấy u!” -> Ở thị thật ra vẫn còn đó nữ tính.

* Sau khi làm vợ Tràng:

– Chỉ dám ngồi ở mép giường, cái thế ngồi cho thấy sự chông chênh trong lòng thị.

– Khi theo Tràng về làm vợ, gặp bà cụ Tứ, lời nói, hành động của chị đều tỏ ra bẽn lẽn, thẹn thùng.

– Sáng hôm sau dậy sớm làm đủ mọi việc như một người vợ hiền, tần tảo, đảm đang: dọn dẹp nhà cửa, quét dọn sân vườn, rất ý tứ khi “điềm nhiên” ăn miếng cháo cám mặn chát trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng.

-> Sự thay đổi to lớn ở người vợ nhặt, khi nữ tính trở về, chị cũng là người phụ nữ dịu dàng, hiền hậu như bao người phụ nữ Việt Nam khác. Dù ban đầu, thị theo Tràng về cốt để có miếng ăn nhưng về sau ta thấy rõ đó không phải là tất cả, mà còn vì lòng ham sống mãnh liệt. Cái nghèo, cái đói, cái khổ có thể làm thị trở nên xấu xí về hình thức, có lúc đánh mất lòng tự trọng nhưng thẳm sâu trong tâm hồn con người ấy vẫn có những vẻ đẹp đáng quý.

  1. Bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong:

 Giới thiệu chung:

– Là một bà lão nghèo, chồng và con gái đã mất, bà sống cùng anh con trai duy nhất là Tràng – một thanh niên xấu xí, có phần ngờ nghệch. Giữa thời đói, hai mẹ con họ phải nương tựa vào nhau mà sống, sống nhờ những đồng tiền ít ỏi mà Tràng kiếm được từ việc đẩy xe bò thuê.

 Nội tâm nhân vật:

– Trước cảnh Tràng có vợ, bà cụ Tứ hết sức ngỡ ngàng, ngạc nhiên:

+ Phấp phỏng bước theo Tràng vào trong nhà, sững lại, độc thoại nội tâm hàng loạt câu hỏi.

+ Ngạc nhiên đến mức không tin vào mắt mình, phân vân, ngỡ ngàng, không hiểu rõ mọi chuyện…

– Khi hiểu ra mọi chuyện thì tâm trạng bà cụ Tứ rất phức tạp: vui – buồn, mừng – tủi, thương lo đan xen:

+ “cúi đầu nín lặng” Hiểu ra tình cảnh khó khăn, éo le của con mình, của gia đình mình

+ Thương xót, thấu hiểu cho cảnh ngộ của người con dâu: “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”…

+ Lo lắng cho tương lai của các con: “biết rằng chúng nó có qua nổi cơn đói khát này không”, “bà cụ nghẹn lời…ròng ròng”…

– Vượt lên trên tất cả là niềm vui, niềm hi vọng:

+ Tin tưởng vào triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ ai khó ba đời”, nghĩ đến những chuyện tốt đẹp ở tương lai.

-> Bà cụ Tứ là nhân vật điển hình về những người nông dân nghèo khổ , song đây là người mẹ từng trải, hiểu biết, nhân hậu, bao dung và lạc quan. Qua nhân vật, tác giả đã mang đến cho người đọc thông điệp về giá trị của tình yêu thương con người và tinh thần ham sống mãnh liệt.

III. ĐÁNH GIÁ, TỔNG KẾT:

– Bằng ngòi bút tài hoa khi khắc họa nhân vật, nhà văn Kim Lân đã thể hiện tấm lòng cảm thông với số phận cùng quẫn của người dân trong nạn đói và thái độ trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ.

– Tác phẩm “Vợ nhặt” xứng đáng là truyện ngắn đặc sắc viết về đề tài nông thôn trong văn học hiện đại Việt Nam.

ĐỀ SỐ 11. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CAO BẰNG

Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận mỗi nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện riêng.

Trong bài “Tây Tiến”, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

(“Tây Tiến”- Quang Dũng)

Trong thi phẩm“Việt Bắc”, Tố Hữu tái hiện:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

(“Việt Bắc” – Tố Hữu)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên?

1 KHÁI QUÁT CHUNG:

– Giới thiệu Quang Dũng, Tố Hữu và hai tác phẩm:

+ Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí. “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

+ Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông theo sát những chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Tác phẩm vừa là bản tình ca về tình cảm cách mạng – giữa đoàn cán bộ miền xuôi với nhân dân Việt Bắc, vừa là bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà vẻ vang của dân tộc.

– Hai đoạn thơ được trích từ hai bài thơ đều tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận song mỗi nhà thơ lại có cách khám phá, thể hiện riêng.

2 TRÌNH BÀY CẢM NHẬN:

a ĐOẠN THƠ TRONG BÀI THƠ “TÂY TIẾN”

 * Vẻ đẹp vừa bi thương vừa hào hùng của đoàn quân Tây Tiến trên đường hành quân:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

– Cái bi thương của người lính được gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá.

+ Sở dĩ người lính Tây Tiến đầu trọc da xanh là do hậu quả của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính.

+ Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấn đau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung.

– Cái hào hùng:

+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất mạnh mẽ của người lính “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh vui đùa với khó khăn gian khổ của mình.

+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh” . Chữ “đoàn binh” chứ không phải là đoàn quân đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng, Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ. “Mắt trừng” là đôi mắt dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

* Họ cũng là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào hoa:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

– “ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội, về một dáng kiều thơm trong mộng.

Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thể là phố cũ, trường xưa,… hay chính xác hơn là nhớ về bóng dáng của những người bạn gái Hà Nội yêu kiều, diễm lệ. Đó chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để họ vững vàng tay súng, sẵn sàng cống hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.

b ĐOẠN THƠ TRONG BÀI THƠ “VIỆT BẮC”

 *Vẻ đẹp hào hùng của đoàn quân:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

– Các từ láy “rầm rập”, “điệp điệp” và “trùng trùng” và hình ảnh so sánh “… như là đất rung” vừa gợi lên sự đông đảo, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của đoàn quân ra trận. Mỗi bước đi của đoàn quân ấy mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quân thù.

*Vẻ đẹp lãng mạn:

“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

Đây có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân, cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi. Họ là những con người có lí tưởng cao cả, đẹp đẽ, sẵn sàng cống hiến vì sự nhiệp chung. Ý thơ khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trong thơ Chính Hữu.

c SO SÁNH HAI ĐOẠN THƠ:

– Giống nhau: Đều khắc họa người lính với vẻ đẹp vừa hào hùng, vừa lãng mạn, bay bổng.

– Khác nhau:

+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ “Tây Tiến”, vẻ đẹp hào hùng của người lính phảng phất sự bi thương.

+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ “Việt Bắc”, vẻ đẹp lãng mạn của người lính còn được Tố Hữu gắn liền với hiện thực.

– Cả hai tác giả đều có trải nghiệm từ thực tế chiến đấu nên thơ đậm chất hiện thực. Bên cạnh đó, Quang Dũng là một chàng trai Hà thành rất hào hoa nên thơ ông có cái lãng mạn rất riêng; còn ở Tố Hữu, thơ ông là thơ trữ tình chính trị, luôn có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào cách mạng.

  1. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Hai đoạn thơ bên cạnh những điểm tương đồng còn có những nét riêng độc đáo, thể hiện tài năng của hai nhà thơ.

– Khẳng định vị trí của hai tác giả trong nền văn học cũng như trong lòng độc giả.

 

ĐỀ SỐ 12. CHUYÊN BẮC GIANG LẦN 1

Có ý kiến cho rằng:

Nguyễn Thi hay viết về người anh hùng. Nhưng đó là kiểu người anh hùng – con đẻ của đất cày và sông nước; ở đó, cái anh hùng hòa lẫn với cái bình dị, sự cao cả hiện ra dưới vẻ thân thuộc, gần gũi, chất phác tự nhiên, và lắm khi chất anh hùng lại lộ ra qua những biểu hiện ngây thơ, ngộ nghĩnh.

Qua nhân vật Chiến và Việt trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

  1. GIỚI THIỆU CHUNG:

– Nguyễn Thi là là một trong những cây bút xăn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Ông là nhà văn gắn bó sâu sắc với nhân dân miền Nam, được mệnh danh: nhà văn của người dân Nam Bộ .

– “Những đứa con trong gia đình” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi, được viết trong những ngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác ở tạp chí “Văn nghệ Quân giải phóng”. Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc và khao khát chiến đấu, son sắt với cách mạng.

  1. GIẢI THÍCH Ý KIẾN:

– Trích dẫn ý kiến: “Nguyễn Thi hay viết về người anh hùng Nhưng đó là kiểu người anh hùng – con đẻ của đất cày và sông nước; ở đó, cái anh hùng hòa lẫn với cái bình dị, sự cao cả hiện ra dưới vẻ thân thuộc, gần gũi, chất phác tự nhiên, và lắm khi chất anh hùng lại lộ ra qua những biểu hiện ngây thơ, ngộ nghĩnh”

=> Ý nghĩa:

+ Khẳng định đặc điểm tính cách của các nhân vật Việt và Chiến.

+ Nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Thi.

  1. PHÂN TÍCH, CHỨNG MINH:

3.1 Nhân vật Chiến:

– Chiến hiện lên với vóc dáng của một người lao động: hai bắp tay tròn vo xạm màu đỏ cháy nắng, thân người to và chắc nịch…

– Sự đảm đang, tháo vát: Ở Chiến, khả năng vun vén, thu xếp gia đình cũng thể hiện rất rõ: Trước khi cùng em đi bộ đội, mọi chuyện nhà đã được cô xếp đặt đâu vào đó, tỉ mỉ, chu đáo, “nói nghe thiệt gọn” khiến cho chú Năm cũng phải có chút sững sờ. Về điều này Chiến rất giống với mẹ, chính chị cũng cảm giác hòa vào với mẹ.Theo lời chú Năm, cô “không khác mẹ một chút nào”

=> Xứng đáng là người con cả, người chị trong gia đình.

– Phẩm chất anh hùng:

+ Cô có đức tính kiên trì, chịu khó ( bỏ ăn để ngồi đánh vần cuốn sổ gia đình suốt từ trưa cho tới lúc trời chạng vạng).

+ Cô cũng thừa hưởng ở mẹ đức tính gan góc, kiên cường, quyết tâm đánh giặc đến cùng: Trong ngày tòng quân, Chiến nói với em: “Tao đã thưa với chú Năm rồi Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à !”

– Tuy nhiên, ở chị Chiến vẫn có những nét nữ tính: lúc nào cũng có chiếc gương nhỏ trong túi, ngậm một ít tóc trông nữ tính, quan trọng nhất là có cơ hội cầm súng

=> Nhân vật Chiến hiện lên thật bình dị, để lại nhiều xúc cảm trong lòng bạn đọc với tính cách đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam nói chung và người phụ nữ Nam bộ nói riêng “giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

3.2 Nhân vật Việt:

– Tính cách trẻ con, hồn nhiên, hiếu động:

+ Thích dành phần hơn với chị Chiến (chiến tích sông Định Thủy, dành đi lính)

+ Vô tư nên việc nhà phó thác cho chị Chiến, khi chị Chiến bàn bạc việc nhà thì “lăn ra cười khì”, lúc lại “chụp một con đom đóm” rồi ngủ quên lúc nào không biết.

+ Đi lính vẫn mang theo súng cao su.

+ Dấu thư chị sợ các anh trong trung đoàn biết sẽ mất chị..

+ Bị thương ko sợ chết mà sợ ma…

+ Gặp đồng đội, Việt giống hệt thằng út em ở nhà “khóc đó rồi lại cười đó”

– Nhưng khi đi đánh giặc, Việt là người anh hùng thực thụ:

+ Luôn khắc ghi mối thù của gia đình “Mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”

+ Quyết tâm đi đánh giặc , lập nhiều chiến công để trả thù cho ba má.

+ Trong trận chiến đấu ác liệt ở rừng cao su, Việt đã hạ được một xe bọc thép của đích dù bị thương rất nặng và bị lạc đồng đội.

=> Việt được khắc họa là một nhân vật tuổi trẻ anh hùng, đại diện tiêu biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, bên cạnh đó không kém phần ngây thơ, ngộ nghĩnh.

3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Nghệ thuật trần thuật qua dòng hồi tưởng của nhân vật.

– Khắc họa tính cách và tâm lí nhân vật sắc sảo.

– Ngôn ngữ phong phú, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.

  1. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Với ngòi bút tài hoa, tác giả Nguyễn Thi đã xây dựng thành công Chiến và Việt – những nhân vật anh hùng, là thế hệ tiếp nối cha ông đánh giặc, làm dày thêm truyền thống vẻ vang của gia đình, quê hương. Đặc biệt hơn, nhà văn còn gửi gắm ở họ những nét đặc trưng của người con sông nước, những nét bình dị, chất phác mà vô cùng ngộ nghĩnh đáng yêu của những người dân Nam Bộ.

– Chiến và Việt là những anh hùng mang nét đặc trưng của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ cứu nước nói chung, đồng thời họ cũng là những anh hùng mang nét khác biệt của Nguyễn Thi nói riêng.

– Nguyễn Thi xứng đáng được gọi là nhà văn của người dân Nam Bộ.

 

ĐỀ SỐ 13. CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 1

Về nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ”, có ý kiến cho rằng: “Mị là sự phản ánh số phận đau khổ bất hạnh của người nông dân nhất là người nông dân miền núi trước cách mạng tháng Tám”. Có ý kiến lại cho rằng: “Mị cho ta thấy vẻ đẹp của người phụ nữ miền núi”.

Suy nghĩ của anh/chị về các ý kiến trên?

  1. Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

– “Vợ chồng A Phủ” (1952) trích trong tập “Truyện Tây Bắc” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung. Tác giả đã khắc họa thành công, đặc sắc hình tượng trung tâm – hình tượng Mị.

  1. Giải thích ý kiến:

– “Mị là sự phản ánh số phận đau khổ bất hạnh của người nông dân nhất là người nông dân miền núi trước cách mạng tháng Tám”: đó là thân phận nô lệ, bị bóc lột sức lao động đế mức tàn tệ, bị đày đọa về thể xác, chà đạp về nhân phẩm, vùi dập về tinh thần.

– “Mị cho ta thấy vẻ đẹp của người phụ nữ miền núi”: vẻ đẹp của tình người, của sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng mãnh liệt.

=> Hai ý kiến hướng vào khẳng định giá trị nội dung của tác phẩm thông qua hình tượng nhân vật Mị: Ý kiến thứ nhất hướng vào giá trị hiện thực, khả năng tố cáo xã hội; ý kiến thứ hai hướng vào giá trị nhân đạo của tác phẩm ở khía cạnh phát hiện và trân trọng vẻ đẹp của con người. Cả 2 ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, làm hoàn thiện giá trị của truyện ngắn.

  1. Phân tích, chứng minh:
  2. “Mị là sự phản ánh số phận đau khổ bất hạnh của người nông dân nhất là người nông dân miền núi trước cách mạng tháng Tám”

– Thân phận của Mị: con dâu – gạt nợ, thực chất là một nô lệ của nhà thống lí Pá Tra.

– Bị bóc lột sức lao động dã man, tàn tệ: Mị chỉ như con trâu, con ngựa, chỉ biết đi làm, thậm chí con trâu con ngựa còn có lúc được nghỉ ngơi “đứng yên gãi chân, nhai cỏ” chứ những người đàn bà như Mị trong nhà thống lí thì “vùi mặt vào làm việc cả đêm cả ngày”, hết lên núi hái thuốc phiện lại giặt đay, xe đay, bẻ bắp, hái củi, bung ngô, tước sợi, không lúc nào ngơi nghỉ

– Bị hành hạ về thể xác và kìm kẹp về tinh thần:

+ Từ một cô gái trẻ trung , tràn đầy sức sống, Mị hóa thành người đàn bà âm thầm, lặng lẽ, lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi… Mị từng tìm đến cái chết nhưng không thể chết, vì thương cha thương mẹ Mị lại tiếp tục sống cuộc đời cực khổ “Có đến hàng tháng đêm nào Mị cũng khóc”

+ Căn buồng của Mị tăm tối như chính cuộc đời Mị vậy, chỉ “có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay, trông ra chỉ thấy một màu trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” Mị càng không nói, “cứ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”

+ Đêm tình mùa xuân, khi Mị có mong muốn đi chơi như bao người phụ nữ khác, ước muốn ấy lập tức bị dập tắt bằng đòn roi của A Sử: A Sử “xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà”, “quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa”

+ Đêm ấy, A Sử đi chơi bị đánh vỡ đầu. Mị hái thuốc, xoa thuốc cho chồng, thỉnh thoảng mỏi quá, gục đầu nằm thiếp đi, lập tức bị A Sử đạp chân vào mặt.

+ Mị dần trở nên vô cảm, thờ ơ với mọi diễn biến xung quanh: bị A Sử đánh ngã ngay bên bếp lửa nhưng hôm sau Mị vẫn ngồi sưởi; thấy A Phủ bị trói đứng ở góc nhà, mắt trừng trừng, Mị cũng vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay” “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”

+ Về phần mình, Mị nghĩ “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”

=> Sự cam chịu, nhẫn nhục khiến Mị dần bị tê liệt tinh thần phản kháng “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”

– Nhận xét: Mị chính là nạn nhân đau khổ của cường quyền và thần quyền. Thân phận Mị tiêu biểu cho những đau khổ bất hạnh của người nông dân nhất là người nông dân miền núi trước cách mạng tháng Tám.

  1. “Mị cho ta thấy vẻ đẹp của người phụ nữ miền núi”

– Mị vốn là cô gái trẻ trung, xinh đẹp và giàu sức sống. Mị có tài thổi sáo, được nhiều chàng trai để ý.

– Cô sớm có ý thức về cuộc sống tự do nên sẵn sàng chịu vất vả làm nương ngô trả nợ thay cho bố chứ không muốn bị bán cho nhà giàu.

– Mị là người con hiếu thảo. Khi hiểu ra mình chết vẫn chưa hết nợ, Mị đã chấp nhận cuộc sống trâu ngựa để trả nợ cho cha.

– Sâu thẳm trong tâm hồn Mị vẫn tiềm tàng khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc tha thiết. Tất cả đã trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.

+ Không khí náo nức chuẩn bị ăn tết trong những bản Mông; nhất là tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha và hơi rượu đã gợi nhớ biết bao kỉ niệm. Trong khoảnh khắc Mị trở về sống trọn vẹn với quá khứ, với mùa xuân tươi đẹp nhất của đời mình “Ngày trước Mị thổi sáo giỏi, có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” Dòng hồi ức đó chứng tỏ khát vọng tình yêu, hạnh phúc vẫn âm thầm được ấp ủ, gìn giữ trong trái tim người phụ nữ này bất chấp những đau khổ, đắng cay, tủi nhục.

+ Cũng trong đêm tình mùa xuân đó, sau nhiều năm tháng, Mị lại cảm nhận được sự tồn tại của mình, ý thức về mình: “Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ”, lại khao khát sống: “Mị muốn đi chơi” Mị lại đau đớn, phẫn uất: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra” Quyết định đi chơi Tết của Mị chính là hành động nổi loạn của một con người muốn dành lại quyền sống, quyền tự do.

– Nguồn sức sống tiềm tàng của Mị trào dâng mãnh liệt trong đêm mùa đông cắt dây trói cứu A Phủ:

+ Khi nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ Mị nhớ lại tình cảnh của mình đêm năm trước. Mị cũng bị trói đứng như A Phủ lúc ấy => Mị đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của người cùng cảnh ngộ và phẫn nộ trước tội ác của bọn thống lí: “Trời ơi…Chúng nó thật độc ác” Nhìn A Phủ, Mị cảm nhận được tất cả nỗi đau đớn mà con người khốn khổ ấy phải gánh chịu: “Cơ chừng này chỉ đêm mai…chết rét, phải chết”. Cô chấp nhận số phận mình nhưng lại bất bình thay cho A Phủ: “Ta là thân đàn bà…Người kia có gì phải chết thế”

+ Mị đã vượt qua nỗi sợ hãi để cắt dây trói cứu A Phủ, chạy theo A Phủ, trốn khỏi Hồng Ngài => hành động tự phát nhưng xuất phát từ lòng ham sống mãnh liệt. Có thể nói Mị cắt dây trói cho A Phủ cũng là giải thoát cho chính mình.

+ Sau đó, Mị cùng A Phủ tham gia cách mạng, bảo vệ quê hương.

=> Nhận xét: Ở Mị, nổi bật lên vẻ đẹp của lòng ham sống, khát vọng sống tiềm tàng nhưng mãnh liệt. Không những thế, tác giả còn nhìn thấy ở Mị khả năng cách mạng.

  1. Nghệ thuật miêu tả:

– Tác giả đã đi sâu miêu tả những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật rất tinh tế, thành công.

– Giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vị dân tộc, vừa giàu tính tạo hình vừa giàu chất thơ.

4 Đánh giá:

– Hai ý kiến trên đều đúng nhưng chưa đủ. Phải hợp hai ý kiến ấy, bổ sung cho nhau mới khái quát đầy đủ về nhân vật Mị nói riêng và giá trị của tác phẩm nói chung.

– Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, thể hiện qua tiếng nói tố cáo đanh thép những tội ác của xã hội thực dân phong kiến; ngợi ca những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý, đáng trọng của những người nghèo khổ. Qua đó, ta thấy được cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ Tô Hoài. Ông thực sự là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học nước nhà.

 

ĐỀ SỐ 14. CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 2

 Trong tác phẩm “Vợ nhặt” nhà văn Kim Lân không chủ tâm miêu tả kĩ hiện thực tàn khốc mà hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn sau vẻ bề ngoài xác xơ, đói khát của những người dân nghèo.

Anh/ chị hãy bàn luận về ý kiến trên.

 Học sinh có thể trình bày nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý chính dưới đây:

  1. GIỚI THIỆU CHUNG:

– Kim Lân là nhà văn viết rất ít nhưng rất thành công ở lĩnh vực truyện ngắn. Ông được coi là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn” (Nguyên Hồng).

– Tiêu biểu cho sự thành công lĩnh vực truyện ngắn của ông là tác phẩm “Vợ nhặt” – in trong tập “Con chó xấu xí” Trong tác phẩm, Kim Lân không chủ tâm miêu tả kĩ hiện thực tàn khốc mà hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn sau vẻ bề ngoài xác xơ, đói khát của những người dân nghèo.

2 GIẢI THÍCH Ý KIẾN:

– “Hiện thực tàn khốc” chính là bối cảnh nạn đói năm 1945, khiến dân ta rơi vào cảnh cùng cực, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Nhà văn đã tái hiện lại bối cảnh ấy nhưng chỉ là cái phông nền để làm nổi bật vẻ đẹp của các nhân vật chứ không chủ định đi sâu phản ánh nó.

– “Vẻ đẹp tiềm ẩn sau vẻ bề ngoài xác xơ, đói khát của những người dân nghèo”: đó là vẻ đẹp của tình người, tình đời ấm áp, vẻ đẹp của niềm lạc quan và lòng ham sống mãnh liệt, thể hiện ở cả ba nhân vật: Tràng, vợ Tràng và bà cụ Tứ.

=> Ý kiến đã khẳng định tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo, trong đó, nhấn mạnh vào tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ.

3 PHÂN TÍCH – CHỨNG MINH Ý KIẾN:

3.1 Cái phông nền hiện thực tàn khốc:

– Bức tranh xóm ngụ cư ngày đói:

+ “Cái đói đã tràn đến” và “người chết như ngã rạ”, “những gia đình từ Nam Định, Thái ình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma” và len lỏi khắp các miền quê khiến cho những xác người “nằm ngổn ngang khắp lều chợ” Người sống thì “dật dờ như những bóng ma”

+ Cái đói ở đây được miêu tả bằng những màu sắc và âm thanh ghê rợn, đó là “màu xanh xám” của những người đói khát hay màu đen của đám quạ trên mấy cây gạo, đó là tiếng quạ gào lên “từng hồi thê thiết” đến những tiếng “hờ khóc” vẳng lại từ những nhà có người chết đói.

+ Cái đói còn hiện hình qua mùi, đó là “mùi gây của xác người” và cả “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”

=> Cái đói thực sự là một thảm họa khủng khiếp, nó cuốn phăng đi bao nhiêu sự sống, làm tàn lụi bao kiếp người. Tuy tác giả chỉ miêu tả đan xen trong câu chuyện nhưng qua đó, ta thấy được những tội ác man rợ của phát xít Nhật và sức tố cáo xã hội to lớn của tác phẩm.

 3.2 Vẻ đẹp tiềm ẩn sau vẻ bề ngoài xác xơ, đói khát của những người dân nghèo:

a Những con người nghèo khổ, cùng cực, đói khát, xác xơ:

– Cái đói khiến con người trở nên rẻ rúng vô cùng, thể hiện rõ nhất qua nhân vật chị “vợ nhặt”. Hình thức thị rách rưới, tả tơi, gầy sọp, khuôn mặt xám xít, ngực gầy lép… không còn sức sống và chút nữ tính nào. Vì miếng ăn, vì muốn chạy thoát khỏi cái đói mà thị sẵn sàng theo không một người đàn ông về làm vợ. Thị đã đánh mất lòng tự trọng, trở thành kẻ trơ trẽn một cách đáng thương.

– Tràng không có tiền để cưới vợ, bà cụ Tứ đón con dâu mới không có lấy nổi một mâm cơm cúng gia tiên. Bữa cơm đầu đón nàng dâu chỉ một lùm rau chuối thái rối với nồi cháo cám đắng chát, nghẹn bứ trong cổ họng…

– Cái đói khiến người ta phải dè dặt, trở nên chua chát – những người dân xóm ngụ cư thi nhau bàn tán về việc Tràng có vợ “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về . Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”

  1. Nhưng ở họ lấp lánh vẻ đẹp của lòng yêu thương, niềm tin và sự lạc quan vào tương lai:

-Đó là tia sáng của tình yêu thương, sẻ chia, đùm bọc lẫn nhau:

+ Anh cu Tràng ngay trong cái đói vẫn rất hào phóng, mời “thị” ăn một chập bốn bát bánh đúc, mua cho thị cái thúng con, ra hàng cơm đánh một bữa no nê… ban đầu cũng “chợn” nhưng ngay lập tức “hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”, vui vẻ với niềm vui vợ mới. Không những thế, Tràng còn hào phóng mua hai hào dầu, thắp cho căn nhà sáng sủa hơn…

+ Bà cụ Tứ vui mừng chấp nhận người dâu mới trong sự bao dung, ân cần, thương xót: “Chúng mày đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” “Con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”

– Chính tình yêu thương ấy đã làm thay đổi mỗi con người trong gia đình nhỏ và thắp lên trong họ tia sáng của niềm lạc quan và lòng ham sống mãnh liệt:

+ Anh cu Tràng trở nên gắn bó với ngôi nhà mình hơn, ấp ủ tương lai “hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy”, thấy một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng, thấy cần có trách nhiệm với vợ, con sau này.

+ Chị vợ nhặt lúc trước chao chát chỏng lỏn, từ khi theo Tràng về dịu dàng, bẽn lẽn, ý tứ biết bao. Chi tiết thị gạt nhanh miếng cháo cám vào miệng, mặt điềm nhiên như không cho ta thấy thị là một người phụ nữ biết điều, ý tứ. Thị cũng xăm xắn chăm lo cho gia đình nhỏ: dọn dẹp, nhặt cỏ, giặt giũ, lấy nước… đảm đang lắm!

+ Bà cụ Tứ dẫu gần đất xa trời vẫn toàn nói những chuyện vui: chuyện nuôi gà, làm chuồng gà, luôn động viên các con “ai giàu ba họ ai khó ba đời”, . Niềm vui lớn lao tràn ngập căn nhà khiến bà cụ trở nên nhanh nhẹn hơn, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”

=> Đằng sau mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ, cử chỉ, hành động của các nhân vật đều chất chứa khát vọng sống, hướng tới ánh sáng của của một cuộc sống mới, no ấm đầy đủ hơn, tươi vui hạnh phúc hơn.

– Bữa cơm sáng hôm sau: họ nói chuyện phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Hình ảnh đám người đói và lá cờ Việt Minh bay phấp phới hiện lên trong trí óc Tràng đã dự báo một cuộc đổi đời cho họ không xa..

3.3 Nghệ thuật truyện:

– Xây dựng tình huống vừa éo le vừa bất ngờ vừa cảm động.

– Miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế, tài tình, sắc sảo.

– Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, bút pháp tả thực được vận dụng thành công,…

4 BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ:

– Khẳng định ý kiến nêu trên là hoàn toàn đúng đắn, đã khái quát được giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm. “Vợ nhặt” thực sự là một câu chuyện có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm thể hiện niềm cảm thương, sự trân trọng và niềm tin của tác giả vào con người với sức mạnh to lớn của tình yêu thương, nhân ái, bao dung. Luôn lạc quan, yêu thương và tin tưởng cuộc sống trong bất cứ hoàn cảnh nào – đó cũng chính là bức thông điệp ý nghĩa mà nhà văn muốn gửi gắm đến người đọc.

– Tác phẩm xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc trong văn học Việt Nam hiện đại 1945-1975.

 

ĐỀ SỐ 15. CHUYÊN SƠN TÂY LẦN 1

Bàn về nhân vật cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Bà là hiện thân cho những kiếp người nông dân nghèo khổ, bất hạnh. Song ý kiến khác lại nhấn mạnh: Bà là người mẹ giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống.

Từ việc cảm nhận về nhân vật cụ Tứ, anh(chị) hãy bình luận hai ý kiến trên.

  1. KHÁI QUÁT:

– Khái quát về tác giả, tác phẩm:

+ Kim Lân là cây bút truyện ngắn tài năng. Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, nhất là ở mảng đề tài nông thôn và hình tượng người nông dân trước Cách mạng.

+ “Vợ nhặt” là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, được rút từ tập “Con chó xấu xí”. Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945, vừa là bài ca cảm động về tình người và tình mẫu tử. Đồng thời cũng nhen nhóm lên khát vọng sống và niềm tin vào tương lai.

– Cảm nhận chung về nhân vật bà cụ Tứ: Là người phụ nữ nông dân nghèo nhưng nhân hậu, bao dung và luôn lạc quan.

  1. GIẢI THÍCH Ý KIẾN:

– Cụ Tứ là hiện thân cho những kiếp người nông dân nghèo khổ, bất hạnh: ý kiến này là sự đánh giá về cuộc đời nghèo khó, cơ cực, lam lũ, bất hạnh và thân phận khổ đau, thấp hèn của cụ Tứ. Cuộc đời và thân phận của bà chính là hiện thân cho biết bao cuộc đời của người mẹ nông dân nghèo trong xã hội cũ.

– Cụ Tứ là một người mẹ giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống: ý kiến này là sự đánh giá về những vẻ đẹp trong tâm hồn của cụ Tứ. Mặc dù sống cuộc đời nghèo khổ, bất hạnh nhưng ở người mẹ nông dân ấy vẫn chan chứa một tấm lòng vị tha, nhân hậu và không bao giờ cạn kiệt niềm tin vào cuộc sống.

  1. CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT BÀ CỤ TỨ:

a/ Bà cụ Tứ là một người phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh:

– Dáng hình : “lọng khọng”, “gầy gò”. Dường như cái đói nghèo, cực khổ đã in hằn lên dáng dấp, hình hài của cụ.

– Cảnh ngộ: bà lão nghèo khổ, già nua lại cô đơn vì chồng và con gái út đã chết, đứa con trai đã lớn tuổi nhưng vì nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư nên không lấy được vợ.

– Cuộc sống đói khổ, cơ cực:

+ Nghèo khó, cả đời không lấy nổi vợ cho con. Khi con lấy vợ, cụ cũng không thể làm nổi dăm ba mâm để cúng tổ tiên, mời họ hàng, làng xóm.

+ Bữa sáng đầu tiên đón cô con dâu mới chỉ một lùm rau chuối thái rồi và nồi cháo cám đắng chát.

=> Cụ Tứ là hiện thân cho những kiếp người nghèo khổ, bất hạnh.

b/ Bà cụ Tứ là người mẹ giàu lòng nhân hậu và niềm tin và cuộc sống

 * Vẻ đẹp ở tấm lòng nhân hậu, bao dung:

Dù người mẹ già ấy có thân phận, hoàn cảnh sống nghèo khó nhưng trong lòng vẫn luôn chan chứa tình yêu thương dành cho các con, có những ứng xử chân thành, đầy tình nghĩa đối với cả con trai và con dâu:

– Vượt qua những nghi lễ thông thường, bà cụ đồng ý cho người đàn bà xa lạ làm con dâu mình và còn thấy thương xót, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người đàn bà ấy.

– Bà nói chuyện với con dâu nhẹ nhàng, từ tốn, nhìn con dâu với tình cảm xót thương trào dâng: “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”.

– Bà day dứt vì không làm tròn bổn phận của người mẹ với con.

– Bà vui mừng vì các con mình được yên bề gia thất ” Các con… u cũng mừng lòng”

=> Đó là một người mẹ nhân hậu, bao dung.

* Vẻ đẹp ở tâm hồn giàu niềm tin và hi vọng – điểm tựa tinh thần cho các con:

Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con:

– Trong ý nghĩ: bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”

– Trong lời nói: Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này: ” Tràng ạ, khi nào…đàn gà cho mà xem”.

– Trong hành động:

+ Cùng con dâu thu dọn nhà cửa, quét dọn sân vườn cho sạch sẽ.

+ Nấu một nồi cháo cám bổ sung vào bữa ăn ngày đói như để ăn mừng nhân ngày con trai lấy được vợ.

=> Bà cụ Tứ tuy đã gần đất xa trời, cuộc sống nghèo khổ, cơ cực nhưng vẫn luôn giữ vững niềm tin vào cuộc sống

  1. BÌNH LUẬN CÁC Ý KIẾN:

– Hai ý kiến trên là hai cách đánh giá, cảm nhận khác nhau về cụ Tứ:

+ Ý kiến thứ nhất: Xuất phát từ số phận, cuộc đời của nhân vật.

+ Ý kiến thứ hai: Xuất phát từ vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật.

– Cả hai ý kiến đều đúng, giúp người đọc có một cái nhìn toàn diện về số phận, cuộc đời và vẻ đẹp tâm hồn của cụ Tứ. Mặc dù cuộc đời cơ cực, tăm tối, bị nạn đói dồn đẩy đến chỗ khốn cùng nhất nhưng ở người mẹ nông dân ấy vẫn ngời sáng vẻ đẹp của tình mẫu tử, vẫn chan chứa tình thương yêu đối với những mảnh đời tội nghiệp. Bà đã cố gắng xua đi nỗi ám ảnh đen tối, đáng sợ của nạn đói để nhen nhóm, để thắp lên ngọn lửa niềm tin, niềm hi vọng cho các con, giúp các con có thêm sức mạnh tinh thần để có thể trụ vững được bên bờ vực thẳm của cái đói, cái chết. Đằng sau cái thân hình già nua, còm cõi, gầy guộc tàn tạ vì đói khát, ở người mẹ ấy vẫn nung nấu một ý chí, một khát vọng sống và một niềm tin mãnh liệt.

5 ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Bằng tài năng xây dựng tình huống truyện độc đáo, bất ngờ, éo le; miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo, Kim Lân đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà cụ Tứ – điển hình cho những người ông dân nghèo khổ mà nhân hậu, lạc quan.

– Nhân vật đã góp phần vào việc thể hiện tình cảm nhân đạo của tác giả. Nhà văn đã giúp người đọc thấu hiểu: dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu con người vẫn giữ được phẩm chất đẹp đẽ và hướng về ánh sáng, sự sống.

 

ĐỀ SỐ 16. CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH LẦN 1

 Phân tích các nhân vật Chiến, Việt trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) để làm rõ vẻ đẹp của thế hệ trẻ Nam Bộ trong kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

1 Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)

– Nguyễn Thi sinh ra và lớn lên ở miền Bắc nhưng lại được coi là nhà văn lớn của Nam Bộ. Ông có biệt tài phân tích tâm lí con người, có khả năng nhập sâu vào nội tâm nhân vật của mình.

– “Những đứa con trong gia đình” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi, rút từ tập “Truyện và kí”. Với các nhân vật Chiến, Việt, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp của thế hệ trẻ Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ.

2 Phân tích các nhân vật Chiến, Việt:

a Điểm chung:

– Cùng sinh ra từ một gia đình có nhiều mất mát đau thương: ông nội và bố Việt đều bị giặc sát hại, mẹ Việt chết vì bom đạn kẻ thù.

– Cùng chan chứa tình cảm dành cho ba má và gia đình: Những hồi ức về mẹ luôn sống dậy trong lòng Việt, cả hai chị em cùng nhớ về má “hình như má cũng đã về đâu đây … làm sao chớ”

– Cùng căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm trả thù:

+ Hai chị em giành nhau ghi tên tòng quân

+ Được chú Năm đồng ý cho cả hai nhập ngũ, hai chị em rất vui. Hai chị em đều ra đi trong tâm trạng thù cha mẹ chưa trả thì chưa được về. Chị Chiến bảo với Việt: “Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”

+ Hai chị em khiêng bàn thờ má gửi sang nhà chú Năm, Việt nghĩ “chúng con đi đánh giặc… lại đưa má về”. Việt khiêng trước, chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Việt nghĩ “còn mối thù thằng Mỹ thì có thể rờ thấy được vì nó đang đè nặng ở trên vai”

b Nét riêng:

– Chị Chiến:

+ Là cô gái mới lớn nên thích làm dáng, đi đánh giặc vẫn có cái gương trong túi.

+ Đảm đang, tháo vát, khôn ngoan, già dặn trước tuổi: lo toan việc nhà chu đáo trước khi lên đường khiến Việt thấy chị giống hết má ngày trước.

+ Tính kiên trì “có thể ngồi lì suốt ngày để đánh vần” – chất gan lì thừa hưởng từ mẹ.

+ Yêu thương nhường nhịn em, sẵn sàng nhường công cho em.

=> Cô biết lo toan, sắp xếp, tính toán việc nhà chu toàn; tính cách và ngoại hình giống mẹ nhưng vẫn có nét riêng trẻ trung của người con gái mới lớn.

– Em Việt:

+ Phó mặc tất cả cho chị, ừ à khi nghe chị bàn việc nhà

+ Ngủ quên lúc nào không biết, đi bộ đội vẫn giữ chiếc ná thun, bị thương không sợ chết nhưng lại sợ ma…

+ Luôn tranh phần hơn chị

+ Cách thương chị cũng rất trẻ con: sợ mất chị trước những lời tán đùa của các anh

=>Cậu mang nét riêng dễ mến của cậu con trai mới lớn lộc ngộc, vô tư, ngây thơ, hiếu động.

3 Đánh giá chung:

 * Nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Đặt nhân vật trong tình huống đặc biệt nơi chiến trường gây ấn tượng đậm nét.

– Nghệ thuật trần thuật qua dòng hồi tưởng của nhân vật đã thể hiện rõ nét những suy nghĩ, cảm nhận và đời sống nội tâm của nhân vật .

– Ngôn ngữ phong phú, góc cạnh, đậm chất Nam Bộ đã tạo nên nét riêng và sức hấp dẫn đặc biệt cho nhân vật.

* Nội dung tư tưởng của tác phẩm

Qua hình ảnh những đứa con trong gia đình, nhà văn đã ca ngợi lòng yêu nước, căm thù giặc, sự thủy chung son sắt với quê hương, với cách mạng ở những người con trong một gia đình nông dân Nam Bộ. Từ đó thấy được sự hòa quyện, gắn bó giữa tình cảm gia đình với tình yêu đất nước, truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã làm nên sức mạnh tinh thần to lớn, tỏa sáng vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

 

ĐỀ SỐ 17. CHUYÊN HÙNG VƯƠNG PHÚ THỌ LẦN 1

Con sóng dới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

 

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

(Sóng –Xuân Quỳnh, SGK Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 123)

Nhận xét về đoạn thơ, có ý kiến cho rằng “Đoạn thơ thể hiện khát vọng về cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ, rất mạnh mẽ” nhưng người khác lại khẳng định “Đoạn thơ thể hiện những dự cảm âu lo”

Suy nghĩ của anh/chị về những ý kiến trên?

1 Khái quát:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

Trích dẫn hai ý kiến.

Phân tích, chứng minh:

  1. Giải thích ý kiến:

– “ Đoạn thơ thể hiện khát vọng về cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ, rất mạnh mẽ”: khẳng định tình cảm táo bạo, mãnh liệt, chủ động trong tình yêu của người phụ nữ.

“Đoạn thơ thể hiện những dự cảm âu lo”: Chú ý đến tâm trạng thường thấy khi yêu của người phụ nữ: bị động, lo xa.

Chứng minh:

Ý kiến 1: Đoạn thơ thể hiện khát vọng về cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc của. người phụ nữ, rất mạnh mẽ

– Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ, thể hiện thông qua cặp hình ảnh sóng đôi “sóng” và “em”.

– “Sóng” được miêu tả trong nhiều không gian “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, trong sự dàn trải của thời gian “ngày – đêm” nhưng lúc nào cũng triền miên trong nỗi nhớ bờ đến “không ngủ được” Sóng thức bởi tình yêu và nỗi nhớ luôn thức mãi!

– Tình yêu của “Em” chân thành, sâu sắc, mãnh liệt, thủy chung: Nỗi nhớ được đo bằng không gian và thời gian; nỗi nhớ đầy ắp cả trong thực và trong mộng. “Em” không chút dè dặt, mạnh dạn bộc lộ nỗi nhớ một cách trực tiếp “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Hình ảnh người yêu luôn ngự trị trong trái tìm cuả người thiếu nữ, là “một phương” duy nhất lòng em luôn hướng tới. Đằng sau nỗi nhớ ấy là một khao khát cháy bỏng về tình yêu và mái ấm hạnh phúc.

Ý kiến 2: Đoạn thơ thể hiện những dự cảm âu lo

– Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược” chất chứa dự cảm về những trắc trở trong tình yêu.

– “Phương bắc”, “phương nam” : gợi không gian xa cách, ẩn giấu những phấp phỏng lo âu về sự cách trở.

=> Ngay cả khi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, say đắm, lòng người phụ nữ vẫn không tránh khỏi những dự cảm không lành . Đó là điều dễ hiểu và suy cho cùng, những lo lắng ấy cũng xuất phát từ chính trái tim yêu chân thành, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.

– Nguyên nhân:

+ Những dự cảm đó cũng là điều dễ hiểu bởi suy cho cùng nó xuất phát từ chính trái tim yêu chân thành, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.

+ Do cảnh ngộ riêng của nhà thơ – từng đổ vỡ trong tình yêu, hôn nhân.

+ Do hoàn cảnh đất nước chiến tranh ác liệt, sự sống và hạnh phúc của con người rất mong manh.

3 – Hai ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm. Có những ý kiến khác nhau như vậy là do tiếp nhận văn học của mỗi người khác nhau.

– Đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu chân thành, da diết, sự sáng tạo, phá vỡ khuôn khổ của khổ thơ truyền thống. Ngôn ngữ thơ bình dị, thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương phản, đối lập, các điệp từ; cặp hình tượng sóng đôi “sóng – em”

=> Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu cũng như chính cái tôi tác giả.

 

ĐỀ SỐ 18. CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 1

Anh/chị hãy phát biểu điều tâm đắc nhất của mình về đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…

(Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr119 – 120)

Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đảm bảo bố cục 3 phần đầy đủ, luận điểm rõ ràng, trình bày mạch lạc, không mắc lỗi diễn đạt, thể hiện được khả năng cảm thụ văn chương Gợi ý:

  1. Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ. Thơ ông hấp dẫn người đọc ở sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam.

– Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác vào cuối năm 1971 (đoạn trích trong SGK chỉ là một phần của chương này). Có thể nói đây là chương hay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của bản trường ca – tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”

  1. Phát biểu cảm nhận:

– Trong đoạn thơ, đất nước được nhìn ở tầm gần và hiện hình qua lời tâm sự của anh và em. Bởi thế, “khuôn mặt” đất nước trở nên vô cùng bình dị, thân thiết. Tình cảm dành cho đất nước vô cùng chân thật, được nói ra từ chiêm nghiệm, trải nghiệm của một con người cá nhân nên có khả năng làm lay động thấm thía tâm hồn người đọc.

– Sáu câu đầu của đoạn thơ như muốn trả lời cho câu hỏi: Đất nước là gì? Đất nước là đâu? Lời đáp thật giản dị nhưng cũng hàm chứa những bất ngờ. Đất nước không tồn tại ở đâu xa mà có trong mỗi một con người, mỗi người đều mang một phần đất nước , tổng thể đất nước sẽ được hình dung trọn vẹn khi anh và em biết “cầm tay nhau”, “cầm tay mọi người”…

– Hàm ngôn của các câu thơ thật phong phú: sự tồn tại của đất nước cũng là sự tồn tại của ta và chính sự hiện hữu của tất cả chúng ta làm nên sự hiện hữu của đất nước. Hành động “cầm tay” là một hành động mang tính biểu tượng. Nhờ hành động đó, đất nước mới có được sự “hài hòa nồng thắm”, mới trở nên “vẹn tròn to lớn”

– Ba câu tiếp theo của đoạn thơ vừa đẩy tới những nhận thức – tình cảm đã được triển khai ở phần trên, vừa đưa ra những ý tưởng có phần “lạ lẫm”. Mai này con ta lớn lên/ Con sẽ mang Đất Nước đi xa/ Đế những tháng ngày mơ mộng. Thực chất, đây là một cách biểu đạt đầy hình ảnh về vấn đề: chính thế hệ tương lai sẽ đưa đất nước lên một tầm cao mới, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn với nỗ lực vun đắp đầy trách nhiệm cho cộng đồng của rất nhiều thế hệ nối tiếp nhau, mà thế hệ của chúng ta chỉ là một mắt xích trong đó.

– Trong bốn câu thơ cuối, cảm xúc được đẩy tới cao trào. Nhân vật trữ tình thốt lên với niềm xúc động không nén nổi: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình/ Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình, xứ sở/ Làm nên đất nước muôn đời…Đoạn thơ có những câu mang sắc thái mệnh lệnh với sự lặp lại cụm từ “phải biết”, nhưng đây là mệnh lệnh của trái tim, của tình cảm gắn bó thiết tha với đất nước.

  1. Đánh giá:

Cách bày tỏ tình yêu nước của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn thơ này thật độc đáo, nhưng quan trọng hơn là vô cùng chân thật. Điều đó đã khiến cho cả đoạn thơ, cũng như toàn bộ chương thơ đã được bao nhiêu người đồng cảm, chia sẻ, xem là tiếng lòng sâu thẳm nhất của chính mình. Đọc đoạn thơ, ta vừa được bồi đắp thêm những nhận thức về lịch sử, vừa được thuyết phục về tình cảm để từ đó biết suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm của mình đối với đất nước.

 

ĐỀ SỐ 19. CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI LẦN 3

 “Một trong những nét đặc sắc của bài thơ “Sóng” là Xuân Quỳnh đã xây dựng hình tượng sóng thành một hình tượng nghệ thuật vừa quen thuộc lại vừa rất mới mẻ, độc đáo”.

Bằng cảm nhận về hình tượng sóng, bình luận ý kiến trên.

  1. KHÁI QUÁT:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Trong bài thơ, tác giả đã xây dựng thành công hình tượng “sóng” với những vẻ đẹp của người phụ nữ khi yêu.

  1. TRÌNH BÀY CẢM NHẬN:

2.1 Giải thích ý kiến:

– “Xuân Quỳnh đã xây dựng hình tượng sóng thành một hình tượng nghệ thuật quen thuộc”: Hình tượng sóng thể hiện những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ – vẻ đẹp có từ xưa, được bảo tồn trong cuộc sống hiện đại, trở thành nét đặc trưng về tinh thần, văn hóa của cộng đồng, dân tộc…

– “…rất mới mẻ, độc đáo”: Hình tượng sóng thể hiện những vẻ đẹp hiện đại của người phụ nữ thời nay, con người có đời sống văn hóa, tinh thần tự do, dân chủ, không bị ràng buộc bởi những hệ tư tưởng phong kiến.

=> Hai vế của ý kiến đề bài đưa ra đều đúng, bổ sung cho nhau, hoàn thiện vẻ đẹp của hình tượng “sóng” mà Xuân Quỳnh muốn gửi gắm.

2.2 Trình bày cảm nhận:

  1. “Xuân Quỳnh đã xây dựng hình tượng sóng thành một hình tượng nghệ thuật quen thuộc”

– Hình ảnh “sóng” là một ẩn dụ đặc sắc về người phụ nữ đang yêu. Sóng được nhân hóa, mang những nỗi niềm thao thức, không ngủ được vì thương nhớ bờ cũng như người phụ nữ luôn thường trực nỗi nhớ người yêu. Điệp khúc “con sóng” diễn tả những cung bậc cảm xúc liên tục trào dâng mỗi lúc một mãnh liệt. Nỗi nhớ của con sóng tràn ngập không gian: “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, thời gian: ngày, đêm; cả ý thức lẫn vô thức: “cả trong mơ còn thức”) -> Nỗi nhớ trong tình yêu là cảm xúc quen thuộc, không thể thiếu.

– Từ ngữ “ngày xưa”, “ngày sau” thể hiện sự bất diệt của con sóng. Từ sự bất diệt của sóng, Xuân Quỳnh nghĩ đến sự bất diệt, thủy chung son sắt của tình yêu muôn đời.

– Con sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, “em”- trên hành trình đi tìm hạnh phúc cho dù lắm chông gai nhưng vẫn tin tưởng sẽ đến được bến bờ hạnh phúc “Cuộc đời tuy dài thế/ Năm tháng vẫn đi qua/ Như biển kia dẫu rộng/ Mây vẫn bay về xa”

  1. “…rất mới mẻ, độc đáo”:

– Sóng được nhân hóa trở thành một con người có cảm xúc yêu thương. Con sóng tưởng chừng như đơn giản nhưng hóa ra lại rất phức tạp. Nó chứa đựng những tình cảm tưởng chừng như mâu thuẫn với nhau: “dữ dội”-“dịu êm”, “ồn ào”-“lặng lẽ”, giống như tâm lí phong phú, đa dạng, luôn chứa đựng những biến động, thao thức thất thường, vừa nồng nàn, táo bạo, tha thiết, vừa tỉnh táo, đắm say của người con gái khi yêu.

– Con sóng mang những khát vọng thật đẹp đẽ, mơ tới chân trời cao rộng – “bể”, thoát khỏi giới hạn chật chội, tù túng -“sông” Cũng giống như vậy, “em”trong tình yêu không cam chịu, nhẫn nhục mà luôn chủ động, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt, đồng cảm, bao dung: “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”.

– Xuân Quỳnh mơ ước được “tan ra” thành “trăm con sóng nhỏ” giữa biển lớn tình yêu, quên mình, hi sinh cho người mình yêu và cho tình yêu của mình, dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”

  1. BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ:

– Bài thơ có âm hưởng vừa dạt dào, sôi nổi, vừa êm dịu, lắng sâu. Kết cấu song trùng hai hình tượng “sóng” và “em” giúp người phụ nữ biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn và những quan niệm về tình yêu vừa mới mẻ, hiện đại, vừa sâu sắc, mang tính truyền thống. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, cách ngắt nhịp linh hoạt, nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ được sử dụng sáng tạo, tài hoa.

– Hai vế của ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau của hình tượng nghệ thuật “sóng” cũng như của tâm hồn người phụ nữ khi yêu, thể hiện rõ những quan niệm mang tính mới mẻ, hiện đại, thậm chí táo bạo, chân thực, mãnh liệt, nồng nàn, đắm say của Xuân Quỳnh về tình yêu. Nhưng mặt khác. Quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh có cốt rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc vì thế thơ Xuân Quỳnh nói chung và bài thơ “Sóng” nói riêng tạo sự đồng điệu trong nhiều thế hệ độc giả.

– Hai vế của ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm. “Sóng” xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung.

 

ĐỀ SỐ 20. CHUYÊN SƠN LA LẦN 1

Về tình huống truyện trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân có ý kiến cho rằng: Đó là câu chuyện có ý nghĩa hệ trọng của đời người đã bị biến thành một trò đùa. Song có ý kiến khác khẳng định ngược lại: Đó là một trò đùa đã hóa thành điều nghiêm túc, thiêng liêng, một câu chuyện hài hước ẩn chứa những bi kịch xót xa.

Từ cảm nhận về tình huống của truyện ngắn “Vợ nhặt”, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.

  1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm:

– Kim Lân là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam; cây bút truyện ngắn tài hoa, gắn bó sâu sắc với đời sống của những người lao động nghèo khổ. Các sáng tác của ông thường thiên về miêu tả cuộc sống, miêu tả sinnh hoạt văn háo cổ truyền, thuần phong mĩ tục của người dân.

– Truyện ngắn “Vợ nhặt” là tác phẩm thành công của Kim Lân, được viết năm 1954, có tiền thân từ tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” và lấy bối cảnh từ nạn đói năm 1945.

– Về tình huống truyện trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân có ý kiến cho rằng: Đó là câu chuyện có ý nghĩa hệ trọng của đời người đã bị biến thành một trò đùa Song có ý kiến khác khẳng định ngược lại: Đó là một trò đùa đã hóa thành điều nghiêm túc, thiêng liêng, một câu chuyện hài hước ẩn chứa những bi kịch xót xa.

  1. Giải thích ý kiến:

-Ý kiến thứ nhất: Bản chất đây là cấu chuyện hôn nhân lẽ ra phải là chuyện nghiêm túc nhưng đã bị biến thành trò vui, là sự nô giỡn với hạnh phúc với tín điều thiêng liêng.

– Ý kiến thứ 2: Tình huống Tràng nhặt được vợ ban đầu là một trò đùa, bông lơn nhưng kết thúc lại trở thành điều có ý nghĩa lớn với đời người, chuyện hạnh phúc nghiêm túc, thiêng liêng, chân thành. Đằng sau tình huống tưởng như hài hước có chứa nhiều xót xa, tủi nhục.

  1. Cảm nhận về tình huống truyện “Vợ nhặt”

Thí sinh có thể cảm nhận nhiều hướng khác nhau, nhưng cần làm rõ có hai mặt của tình huống: có câu chuyện như đùa và có cả chuyện nghiêm túc.

  1. Đó là câu chuyện có ý nghĩa hệ trọng của đời người đã bị biến thành một trò đùa.

– Đó là tình huống độc đáo, éo le được thâu tóm trong nhan đề “Vợ nhặt”: Nhan đề hé mở một tình huống truyện độc đáo. Theo truyền thống của người phương Đông, lấy vợ là việc hệ trọng nhất của mỗi đời người, nó phải trải qua nhiều nghi lễ. Nhưng ở đây Tràng nhặt được vợ một cách dễ dàng, tình cờ, ngẫu nhiên theo đúng nghĩa đe của từ này. Người phụ nữ vốn là biểu tượng của hạnh phúc gia đình, thường được nâng niu, trân trọng. Tuy nhiên Tràng lại nhặt được vợ như cọng rơm cọng rác ven đường.

+ Một người như Tràng hội tụ đầy đủ những yếu tố để ế vợ (nghèo khổ, dân ngụ cư, xấu trai, tính tình ngờ nghệch…) vậy mà bỗng nhiên có vợ một cách dễ dàng, lại còn là vợ theo không.

+ Người như Tràng giữa thời buổi đói kém, miếng ăn trở thành vấn đề sinh mệnh lại còn đèo bòng chuyện vợ con. Tình huống lạ ấy đã dẫn đến sự ngạc nhiên cho tất cả mọi người, từ người dân xóm ngụ cư đến bà cụ Tứ và ngay chính bản thân Tràng.

-> Có thể nói tình huống truyện độc đáo đã phản ánh một cách chân thực số phận khốn khổ của người dân nghèo trong nạn đói năm 1945, đặc biệt là số phận người phụ nữ.

  1. Đó là một trò đùa đã hóa thành điều nghiêm túc, thiêng liêng, một câu chuyện hài hước ẩn chứa những bi kịch xót xa.

– Từ câu nói bông đùa của Tràng mà người đàn bà kia chịu theo không về làm vợ.

– Khi Tràng có vợ, người dân xóm ngụ cư mừng cho anh nhưng cũng lo cho anh: “những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên…” Sau niềm vui ấy là những tiếng thở dài ngao ngán. Họ không biết đôi vợ chồng trẻ ấy có nuôi nổi nhau qua được cái kì này không…

– Bà cụ Tứ một mặt mừng cho con đã lấy được vợ, yên bề gia thất nhưng mặt khác cũng rất lo cho cuộc sống chênh vênh hiện tại của con.

– Tràng sống trong tâm trạng vui sướng đến bang hoàng nhưng anh cũng có lúc chợn nghĩ: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chẳng biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bong”

– Tình huống truyện càng éo le, cảm động hơn khi hạnh phúc của vợ chồng Tràng được đặt trên bối cảnh thê lương, ảm đạm của nạn đói năm 1945 (đêm tân hôn văng vẳng tiếng khóc, tiếng hờn, tiếng quạ kêu, tiếng trống thúc thuế…, chi tiết bát cháo cám…)

->Tình huống lạ của truyện ngắn “Vợ nhặt” không phải để hợi lên sự tò mò, hiếu kì mà để phản ánh hiện thực, thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

  1. Bình luận về các ý kiến:

– Ý kiến thứ nhất chỉ xuất phát từ sự điểm nhìn xã hội, từ chuyện đời để đánh giá nên không chân xác. Ý kiến thứ hai bám sát, căn cứ vào mạch vận động của câu chuyện, và tư tưởng nhân văn của nhà văn.

– Qua việc xây dựng tình huống truyện, ta thấy:

+ Tác phẩm đã phản ánh chân thực số phận rẻ rúng, tội nghiệp của con người trong xã hội thực dân – phong kiến. Từ đó, cất lên tiếng nói tố cáo đanh thép cái xã hội tàn bạo đã đẩy con người vào cùng cực, khốn khổ.

+ Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Kim Lân: khẳng định ngay cả trong đói khát, con người vẫn luôn hướng về ánh sáng và sự sống; ngợi ca tình yêu thương, lòng bao dung của con người.

+ Tài năng xây dựng tình huống truyện của nhà văn.

“Vợ nhặt” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của đời văn Kim Lân nói riêng và nền văn học Việt Nam 1945 – 1975 nói chung.

 

ĐỀ SỐ 21. CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 3

Bằng những cảm nhận về đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” (SGK Ngữ văn 12 – tập một- NXB Giáo dục 2010), hãy chứng tỏ Việt Bắc là khúc ca vừa hào hùng, vừa tha thiết về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến

  1. KHÁI QUÁT CHUNG:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

+ Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ luôn theo sát những chặng đường cách mạng của dân tộc. Dù viết về đề tài gì thơ Tố Hữu cũng đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức..

+ Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với người dân Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Trích dẫn ý kiến: “Việt Bắc” là khúc ca vừa hào hùng, vừa tha thiết về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

  1. CỤ THỂ:

2.1 Giải thích:

– “Việt Bắc” là khúc hùng ca vừa hào hùng vừa tha thiết về cuộc kháng chiến và

con người kháng chiến: khẳng định giá trị nội dung to lớn của tác phẩm, đồng thời cho thấy rõ đặc điểm phong cách thơ Tố Hữu: thơ trữ tình chính trị.

2.2 Phân tích, chứng minh:

  1. “Việt Bắc” là khúc hùng ca hào hùng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến:

– Phần sau của bài thơ là một Việt Bắc hào hùng trong chiến đấu: khung cảnh sử thi, giọng điệu dồn dập, âm hưởng hào hùng, những hoạt động sôi nổi…góp phần diễn tả sức mạnh và khí thế chiến đấu của cuộc kháng chiến “Quân đi điệp điệp trùng trùng/ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan/ Dân công đỏ đuốc từng đoàn/Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

– Sức mạnh của cuộc kháng chiến được bắt nguồn từ lòng căm thù “miếng cơm

chấm muối mối thù nặng vai”, từ tinh thần đoàn kết, từ lối sống ân tình “mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”…

– Một dân tộc đã vượt qua đau thương để lập hang loạt chiến công, để Việt Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng. (Phân tích “Những đường Việt Bắc của ta…tàn lửa bay” và “Những khi giặc đến giặc lùng…”)

  1. Bài thơ “Việt Bắc” là khúc ca tha thiết…:

– Tình cảm lưu luyến vấn vương được thể hiện qua đoạn đầu của bài thơ: lối hát đối đáo giao duyên, sử dụng đại từ nhân xưng “mình”-“ta” đầy thân mật, biện pháp điệp ngữ “Mình về có nhớ”, “Mình đi có nhớ”… (Phân tích 8 câu thơ đầu)

– Lối sống ân nghĩa, ân tình được thể hiện qua hàng loạt những kỉ niệm của tác giả về những năm tháng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ của đồng bào Việt

Bắc. (Phân tích đoạn thơ “Mình đi có nhớ…” hoặc “Ta đi ta nhớ những ngày/ Mình đây ta đó…”)

– “Việt Bắc” là bản tình ca ca ngợi vẻ đẹp của cảnh và con người Việt Bắc (Cảnh Việt Bắc đẹp, hài hòa đường nét, màu sắc, âm thanh, hài hòa giữa cảnh và người. on người Việt Bắc đẹp trong lối sống, đẹp trong lao động…) (Phân tích bức tranh tứ bình)

2.3 Lí giải:

Nói “Việt Bắc” là khúc ca vừa anh hùng, vừa tha thiết về cuộc kháng chiến, con người kháng chiến là khẳng định sự hòa quyện giữa chất sử thi và chất trữ tình trong bài thơ:

+ Ra đời ở một bước ngoặt lớn lao của lịch sử dân tộc, vậy nên bài thơ mang tính chính trị là điều dễ hiểu.

+ Thắm thiết chất trữ tình là bởi bài thơ cùng một lúc nói được nhiều tình cảm của con người cách mạng và kháng chiến. Đó là tình yêu nước lớn lao, cụ thể trong trích đoạn: yêu nước chính là yêu Việt Bắc – cái nôi của phong trào cách mạng, chiến khu của kháng chiến trường kì. Đó là tình yêu thiên thiên Việt bắc hùng vĩ và thơ mộng, con người Việt bắc nghèo khổ, mộc mạc mà nghĩa tình sâu ặng. Đó là lòng biết ơn, niềm kính yêu Đảng và lãnh tụ. Đó là nghĩa tình thủy chung với cội nguồn, với cách mạng và kháng chiến…

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Khẳng định lại: bài thơ “Việt Bắc” là khúc ca vừa hào hùng, vừa tha thiết ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến.

– Khẳng định vị thế của bài thơ bây giờ và mãi mãi về sau.

 

ĐỀ SỐ 22. CHUYÊN HOÀNG VĂN THỤ HÒA BÌNH LẦN 2

Cảm nhận về “cảnh cho chữ” trong “Chữ người tử tù” và “cảnh vượt thác” trong “Người lái đò sông Đà”, qua đó chỉ rõ sự thay đổi phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám 1945.

 Thí sinh có thể trình bày nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý chính dưới đây:

  1. Vài nét về tác giả-tác phẩm:

– Nguyễn Tuân là nhà văn nổi tiếng trong nền văn học dân tộc với phong cách tài hoa, độc đáo.

– Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám. Tác phẩm viết về một tử từ tài hoa có thiên lương, khí phách, một quản ngục có sở thích chơi chữ, ngưỡng mộ những con người tài hoa.

“Người lái đò sông Đà” là tác phẩm in trong tập tùy bút “Người lái đò sông Đà” Tác phẩm là kết quả của chuyến đi gian khổ mà đầy lí thú của Nguyễn Tuân lên miền Tây Bắc kì vĩ. Chuyến đi đã giúp ông khám phá “thứ vàng mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn, tính cách của những người lao động bình thường, giản dị.

– “Cảnh cho chữ” và “Cảnh vượt thác” trong hai tác phẩm là những chi tiết nghệ thuật thành công nhất.

  1. Cảm nhận về “cảnh cho chữ” và “cảnh vượt thác”

2.1 Cảnh cho chữ:

– Bối cảnh xuất hiện: ở phần cuối tác phẩm, trong đêm cuối cùng trước ngày ra pháp trường xử chem. Huấn Cao đã hiểu ra tấm lòng của viên quản ngục và đồng ý cho chữ.

– Nội dung: Cảnh tượng xưa nay chưa từng có

+ Không gian – thời gian: Diễn ra trong đêm khuya, ngay trong nhà giam tăm tối chật hẹp, ẩm ướt , tường đâỳ mạng nhện, nền đầy phân chuột phân gián

+ Nhân vật: Người cho chữ là kẻ tử tù chỉ sáng sớm mai đã ra pháp trường, cổ vẫn đeo gông , chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ vuông tươi tắn trên tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ. Những thứ gông xiềng quái ác ấy càng tô đậm lên vẻ đẹp hiên ngang, hành động nghĩa hiệp, thiêng liêng của người cho chữ. Tương phản với tư thế, hành động này là người được nhận chữ: viên quán ngục lại khúm núm, thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực

+ Diễn biến: vị thế của các nhân vật thay đổi, họ không còn là những kẻ đối địch mà đã thành tri âm, tri kỉ [phân tích lời dặn dò, khuyên bảo của Huấn Cao với quản ngục và thái độ của quản ngục]

+ Ý nghĩa: Khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái tài trước cái xấu, cái ác; thể hiện sức sống mạnh mẽ, khả năng hướng thiện của cái đẹp, của thiên lương trong cuộc đời.

– Nghệ thuật: Bút pháp tương phản đối lập, thủ pháp dựng cảnh, tạo không khí trang trọng, cổ kính…

2.2 Cảnh vượt thác:

– Bối cảnh xuất hiện: ở phần giữa tác phẩm, sau những chi tiết khắc họa sự hung bạo của dòng sông.

– Nội dung: Một cuộc thủy chiến gay go, ác liệt giữa ông lái đò và con sông Đà. Qua đó, ta thấy được những phẩm chất tài hoa của người lái đò. Phân tích:

+ Ở trùng vi thạch trận thứ nhất

+ Ở trùng vi thạch trận thứ hai

+ Ở trùng vi thạch trận thứ ba

Trong cả 3 lần, đối mặt với đá, thác sông Đà, người lái đò đã hiện lên như một anh hùng chiếm trận dũng cảm, gan dạ, mưu trí, thật xứng là “một tay lái ra hoa”. Ông thuộc hết binh pháp của thần sông, thần núi, vượt qua ba lớp trùng vi thạch trận của sông Đà một cách ngoạn mục.

– Ý nghĩa: Ngợi ca vẻ đẹp hùng vĩ, hung bạo của thiên nhiên Tây Bắc và tài nghệ tuyệt vời của con người lao động thời kì mới.

– Nghệ thuật: Trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú, phép so sánh, nhân hóa, tương phản được vận dụng linh hoạt, ngôn ngữ phong phú, giàu tính tạo hình, vận dụng kiến thức nhiều ngành nghệ thuật…

  1. Nhận xét về sự thay đổi trong PCNT của Nguyễn Tuân trước và sau CMT8:

– Sự thay đổi:

+ Trong cảnh cho chữ ông tìm cái đẹp vang bóng một thời đã lùi vào quá khứ, ở các bậc siêu phàm, trong cảnh vượt thác ông đã phát hiện và ngợi ca cái đẹp trong đời sống thực taị của đất nước, nhân dân lao động. Ngày trước ông đem cái tài hoa uyên bác để chống đối, phủ nhận thực tại đen tối, giờ đây, ông dùng nó để kiếm tìm và khẳng định những vẻ đẹp trong xã hội mới (chất vàng mười)

+ Trước đây ông tuyệt đối hóa cái phi thường, nay ông phát hiện sự thống nhất giữa cái phi thường và bình thường

+ Ngôn ngữ trước cách mạng mang vẻ đẹp cổ kính, đài các, giọng văn ngang tàng, kiêu bạc; sau cách mạng, gần gũi với đời thường hơn.

=> Sự thay đổi đó làm cho văn Nguyễn Tuân vẫn tài hoa uyên bác mà không ngông ngạo , tài hoa uyên bác mà đôn hậu tin yêu.

– Lí giải: + Hiện thực cuộc sống thay đổi đem dến cho nhà văn cái nhìn mới, nguồn cảm hứng mới, đặc biệt là dưới đường lối lãnh đạo của Đảng, xác định nhiệm vụ của người cầm bút

+ Tình yêu với quê huơng đất nước, niềm lạc qua tin tưởng vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới hòa vào niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật

=> Tất cả tạo nên một Nguyễn Tuân tài hoa nghệ sĩ – niềm tự hào của Văn học Việt Nam.

 

ĐỀ SỐ 23. CHUYÊN HÀ TĨNH LẦN 1

Cảm nhận vẻ đẹp của đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

 

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Ngữ văn 12, tâp 1, NXB Giáo dục. 2008)

2.1 Giới thiệu chung:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí. “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

– Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích thuộc phần hai của bài thơ, là hồi ức của Quang Dũng về những đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

2.2 Cảm nhận về đoạn thơ:

Trái ngược với đoạn thơ mở đầu bài thơ, thiên nhiên và con người miền Tây trong đoạn thơ này là một thế giới khác. Đó là những nét vẽ mềm mại, uyển chuyển, tài hoa, tinh tế, thấm đẫm chất thơ, chất nhạc, chất hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng.

a/ Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

-Với nét vẽ khỏe khoắn, mê say, Quang Dũng dẫn ta vào một đêm liên hoan văn nghệ. Đây là những kỉ niệm đẹp, hấp dẫn nơi xứ lạ, một đêm liên hoan văn nghệ hiếm có giữa binh đoàn Tây Tiến và nhân dân địa phương. Cảnh ấy thực mà như mơ, vui tươi mà sống động.

+ Cả doanh trại bừng sang dưới ánh lửa đuốc bập bùng, tưng bừng hân hoan như một ngày hội. Trong ánh đuốc lung linh, kì ảo, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, những cô gái Thái lộng lẫy, rực rỡ trong bộ trang phục lạ, dáng điệu e thẹn, tình tứ trong vũ điệu đậm sắc màu dân tộc đã thu hút hồn vía của những chàng trai Tây Tiến.

b/ Cảnh chia ly trên sông nước:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

– Cảnh thơ mộng trữ tình của sông nước miền Tây được nhà thơ diễn tả qua những chi tiết: trên sông, chiều sương giăng mắc mênh mang kì ảo, dòng sông trôi lặng tờ mang đậm sắc màu cổ tích, có dáng người mềm mại, uyển chuyển đang lướt trên con thuyền độc mộc, hoa đôi bờ đong đưa theo dòng nước như vẫy chào tạm biệt người ra đi…

– Cảnh đẹp như mộng lại như tranh, chỉ vài nét chấm phá mà tinh tế, tài hoa: Quang Dũng không tả mà chỉ gợi, cảnh thiên nhiên không phải là vô tri vô giác, mà phảng phất trong gió trong cây như có hồn người: “Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”.

“Hồn lau” trong thơ của Quang Dũng cũng là “hồn lau” của biệt li phảng phất một chút buồn nhưng không xao xác, xé rách, lãng quên mà đầy nỗi nhớ thương, lưu luyến. Nỗi nhớ thương, lưu luyến đó đã được nhà thơ thể hiện trong những từ ngữ như “có nhớ”, “có thấy”. Tình yêu đối với cỏ cây, hoa lá, dòng sông, dáng người… đã làm cho cuộc sống đầy hi sinh, gian khổ của những người lính có thêm nhựa sống. Bốn câu thơ làm hiện lên bức tranh thủy mặc nhưng lại không tĩnh tại mà sống động, thiêng liêng.

2.3 Đánh giá chung:

– Với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã đưa người đọc trở về với hoài niệm năm xưa, để được sống lại với những giây phút bình yên hiếm có của thời chiến tranh. Đặc biệt là bốn câu thơ sau như đưa người đọc vào thế giới cổ tích với dòng sông huyền thoại, với thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của cõi âm nhạc du dương; chất thơ, chất nhạc, chất họa thấm đẫm, quyện hòa đến mức khó mà tách biệt.

– Quả không hổ danh là một nghệ sĩ đa tài với những câu thơ xuất thần, Quang Dũng đã dâng hiến cho người đọc những dòng thơ, những giây phút ngất ngây, thi vị.

 

ĐỀ SỐ 24. LƯƠNG THẾ VINH HÀ NỘI LẦN 1

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

“…Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cai hôn nhiều

Và non nước, và mây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

(Vội vàng, Xuân Diệu, Ngữ văn lớp 11, tập 2)

“Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

 

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

(Sóng, Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập 1)

1 Khái quát chung:

– Giới thiệu hai tác giả, tác phẩm:

+ Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. “Vội vàng” là một trong những bài thơ xuất sắc nhất, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu. Bài thơ thể hiện lòng ham sống, khát khao sống đến cuồng nhiệt của cái tôi trữ tình.

+ Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. “Sóng” là bài thơ tình đặc sắc được Xuân Quỳnh sáng tác nhân chuyến đi thực tế về vùng biển Diêm Điền. Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng

-Trích dẫn hai đoạn thơ, nêu vị trí và cảm nhận chung.

2 Cảm nhận 2 đoạn thơ:

  1. Đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng”

-Nội dung:

+ Đoạn thơ thể hiện quan niệm sống mới mẻ, sống vội vàng, cuống quýt như chạy đua với thời gian để tận hưởng mọi sắc màu, hương vị, vẻ đẹp của cõi trần gian.

+ Thể hiện một cái tôi ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời một cách mãnh liệt, trực tiếp (ôm, say, thâu, cắn…)

+ Ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất (chếnh choáng, dã đầy, no nê…) với những gì tươi đẹp nhất của trần gian (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi…)

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng các điệp từ, điệp ngữ, các tính từ mạnh cộng hưởng với nghệ thuật liệt kê để thể hiện nhịp sống hối hả, sôi nổi, cuồng nhiệt gấp gáp, cuống quýt của tác giả.

+ Thể thơ tự do, ngôn từ hết sức táo bạo và đầy sáng tạo là một thành công đặc sắc của Xuân Diệu.

  1. Đoạn thơ của bài “Sóng”:

– Nội dung :

+ Tâm trạng đầy lo âu, trăn trở của nhà thơ khi nhìn thấy sự đối lập ghê gớm giữa con người và vũ trụ. Từ đó, Xuân Quỳnh đã tìm ra một con đường để có thể trở nên bất tử cùng vũ trụ là nhờ tình yêu: trong tình yêu con người sẽ sống mãi với thời gian.

+ Đoạn thơ thể hiện khát vọng cao cả đầy nữ tính của người phụ nữ đang yêu, muốn hòa cái tôi nhỏ bé vào cái chung rộng lớn, muốn tình yêu của mình trở lên bất tử (mơ ước được “tan ra” như trăm con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu, nghĩa là quên mình, hi sinh cho người mình yêu và tình yêu của mình)

– Nghệ thuật:

+ Thể thơ 5 chữ với câu thơ ngắn gọn ,sử dụng thành công biện pháp ẩn dụ.

+ Tạo nên 2 hình tượng tuy hai mà một, nhà thơ sử dụng hình ảnh con sóng nhẹ nhàng nhưng đầy nữ tính để thể hiện khát vọng mãnh liệt trong tình yêu của mình.

3 Đánh giá:

 – Sự tương đồng:

+ Hai nhà thơ cùng chung một khát vọng được hòa “cái tôi” của mình vào cuộc đời , vào “cái ta” chung rộng lớn.

+ Đều bộc lộ những suy ngẫm, trăn trở trước cuộc đời, cả 2 đoạn thơ đều có sự kết hợp giữa cảm xúc và chất triết lí.

– Sự khác biệt:

+ Xuân Diệu quan niệm thời gian chảy trôi, không tuần hoàn nên đề xuất lối sống gấp gáp, cuống quýt, vội vàng, tận hiến, tận hưởng; Xuân Quỳnh trước những đổ vỡ trong cuộc sống và bằng những dự cảm đầy nữ tính, luôn khát vọng muốn hòa tình yêu nhỏ bé của mình vào tình yêu chung của cuộc đời để tình yêu đó luôn còn mãi.

+ Mỗi nhà thơ có một phong cách nghệ thuật riêng để lại ấn tượng khác nhau trong lòng độc giả (cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật và thể thơ)

 

ĐỀ SỐ 25. CHUYÊN SƯ PHẠM HÀ NỘI LẦN IV

Cảm nhận của anh/chị về hai trích đoạn sau:

(1). Cụ Mết chống giáo xuống sàn nhà, tiếng nói vang vang:

– Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên ! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên !

Tiếng chuông nổi lên :

Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn, suối đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lừa cháy khắp rừng……”

(“Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành)

(2). “Trong lúc chị Chiến xuống bếp nấu cơm, Việt đi câu ít con cá về làm bữa cúng má trước khi rời bàn thờ sang nhà chú, còn một mình ở nhà trên, chú Năm lại cất tiếng hò. Không phải giọng hò trong trẻo trong đêm bay ra hai bên bờ sông, rồi dột lại trên các ghe heo chèo mướn của chú. Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”

(“Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi)

  1. Giới thiệu chung:

– Nguyễn Trung Thành là văn gắn bó sâu sắc với Tây Nguyên, thường viết về những sự tích anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp của thời đại.

“Rừng xà nu” được viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ ác liệt, được xem như một bi “Hịch tướng sĩ” thời chống Mĩ ca ngợi vẻ đẹp kiên cường, bất khuất, bất diệt của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung; tác phẩm còn khái quát được chân lí thời đại.

– Nguyễn Thi là một cây bút tiêu biểu trong nền văn học Nam Bộ. “Những đứa con trong gia đình” thuộc số những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Thi viết về những con người anh dũng, kiên cường mà mộc mạc của miền Nam.

  1. Trình bày cảm nhận:

– Về đoạn trích trong “Rừng xà nu”: Nguyễn Trung Thành đã đặt nhân vật cụ Mết trong thời điểm lịch sử trọng đại – thời điểm đồng khởi, cùng lời hiệu triệu là sự hưởng ứng của nhân dân, của cả rừng xà nu, của hiện tại và quá khứ, là sức mạnh tổng hợp của vật chất lẫn tinh thần, của sự đoàn kết, đồng tâm nhất trí…..Một cảnh tượng hoành tráng đậm màu sắc Tây Nguyên…

– Về đoạn trích trong “Những đứa con trong gia đình” Nguyễn Thi lại tạo dựng cảnh lên đường thật giản dị, song vẫn thiêng liêng, trang trọng thời điểm lên đường của chị em Chiến và Việt. Giọng hò chú Năm mang ý nghĩa như niềm tin giao trách nhiệm, như lời thề, lời hứa quyết tâm đánh giặc và thắng giặc… có sức mạnh từ gia đình, quê hương làm nên tính cách anh hùng của những đứa con.

  1. Đánh giá chung:

– Trong hai đoạn trích trên, đều viết về đề tài chiến tranh. Cách mạng (thời kỳ kháng chiến chống Mỹ) ; hai tác phẩm đều mang vẻ đẹp sử thi, dấu ấn rõ nhất là hình tượng những nhân vật anh hùng, mang ý nghĩa tượng trưng cho sức mạnh cộng đồng, hoàn thành trách nhiệm lớn lao trước lịch sử dân tộc.

– Mỗi tác phẩm có một phong cách riêng, làm lên sự phong phú cho văn học Cách mạng thế kỷ XX. Sức sống của các tác phẩm không những bởi giá trị nội dung sâu sắc mà còn bởi giá trị nghệ thuật ; dựng cảnh, dựng người… mang màu sắc Tây Nguyên, màu sắc Nam Bộ rất ấn tượng, đặc sắc…

 

ĐỀ SỐ 26. CHUYÊN SƠN TÂY LẦN 2

Sau khi nhận bát cháo hành từ tay thị Nở, Chí Phèo bảo với thị:

– Hay là mình sang đây với tớ một nhà cho vui.

(Chí Phèo – Nam Cao, Ngữ văn 11)

Trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân ( Ngữ văn 12), sau khi đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:

– Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.

Cảm nhận của anh chị về ý nghĩa của từng câu nói trên.

1 Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và giới hạn đề

– Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Chí Phèo (1941) là kiệt tác đã kết tinh cao nhất đặc điểm nghệ thuật của nhà văn. Chi tiết “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” là chi tiết đặc sắc thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm.

– Kim Lân là nhà văn thành công đặc biệt khi viết về người nông dân và cuộc sống nông thôn trong nền VHVN hiện đại. Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xúc động nhất của ông. Chi tiết “này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo của truyện.

 Về chi tiết: “Hay là mình sang đây với tớ một nhà cho vui” trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao.

2 – Về nội dung:

+ Cuộc gặp gỡ bất ngờ với thị Nở và trận ốm đã làm cho con quỉ dữ CP có sự thay đổi hẳn cả về tâm, sinh lí.

+ Bát cháo hành của thị Nở đã đánh thức ở Chí khát vọng được sống cuộc sống của một người bình thường “Hắn thèm lương thiện” Cử chỉ mộc mạ của thị gieo vào lòng Chí niềm hi vọng: thị sẽ là người mở đường dẫn Chí về với “cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”

+ Câu nói “Hay là mình sang đây với tớ một nhà cho vui” cho thấy khát vọng hạnh phúc, được yêu thương vẫn ẩn sâu trong con quỷ dữ Chí Phèo sau bao nhiêu năm tháng bị vùi lấp bởi rượu, máu và nước mắt. Chí không dám nói một lời “cầu hôn” thẳng thắn, rõ ràng mà chọ cách nói lấp lửng thể hiện sự âu lo, phấp phỏng của một thân phận bị chối bỏ với một niềm hi vọng mong manh.

 – Về nghệ thuật

+ Cách diễn tả: là chi tiết quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc hoạ sâu sắc nét tính cách tâm lí và cảnh ngộ của nhân vật

+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, bất ngờ của ngòi bút Nam Cao.

3 Về chi tiết: “ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

 – Về nội dung:

+ Tràng là một chàng trai nông thôn nghèo, ế vợ

+ Trước tình cảnh của người đàn bà bị cái đói xô đẩy, Tràng đã đãi thị bốn bát bánh đúc. Sau đó, Tràng nói một câu với hình thức như một câu nói đùa: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Câu nói đùa nhưng lại thể hiện niềm khao khát hạnh phúc có thật, mãnh liệt, cháy bỏng thẳm sâu trong người nông dân nghèo ấy mà ngay cả nạn đói và cái chết cũng không thể dập tắt.

+ Lời nói của Tràng có vẻ như đùa song ngọn lửa hạnh phúc trong Tràng được thắp lên từ câu nói đùa ấy lại thật sự bùng cháy. Tràng chân trọng hạnh phúc của mình cũng như bằng tất cả những gì có thể, anh biến cuộc hôn nhân với thị trở nên đàng hoàng, nghiêm túc.

 – Về nghệ thuật:

+ Là một chi tiết góp phần tạo nên một tình huống truyện độc đáo và ý nghĩa, tạo bước ngoặt cuộc đời và tâm lí của nhân vật, thể hiện chủ để tư tưởng của tác phẩm.

+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ của ngòi bút Kim Lân.

4 So sánh

 – Sự tương đồng:

+ Đó là những câu nói đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc đời các nhân vật và có sức tác động diệu kì, tạo nên những khoảnh khắc hạnh phúc ngọt ngào cho những số phận nghèo khổ, bất hạnh.

+ Đấy cũng chính là những chi tiết đặc sắc góp phần khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc mới mẻ của hai tác phẩm: Phát hiện và ngợi ca khát vọng yêu thương, khát vọng hạnh phúc ở những con người tưởng như đã hoàn toàn lụi tắt cảm xúc tình yêu trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc đời.

 – Sự khác biệt:

+ Ở Chí Phèo, chi tiết thể hiện khát vọng mang bản chất người ẩn sâu trong con quỉ dữ Chí Phèo, sau khi cảm nhận được tình yêu thương mộc mạc, chân thành ở thị Nở. Câu nói cho thấy anh nông dân Chí hiền lành, chân chất ngày xưa đã sống lại, thay thế hoàn toàn cho con quỉ dữ Chí Phèo.

+ Ở Vợ Nhặt, chi tiết khẳng định sức mạnh của tình người, của khát vọng mái ấm gia đình, sống trong tình yêu thương chiến thắng sự đe doạ của nạn đói và cái chết.

5 Đánh giá

Hai chi tiết nhỏ đã thể hiện khả năng thấu hiểu, đồng cảm và sự trân trọng của hai nhà văn đối với vẻ đẹp và sức sống tâm hồn người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Đó là sự tiếp nối xuất sắc của Nam Cao và Kim Lân với mạch nguồn nhân đạo của Văn học Việt Nam.

 

ĐỀ SỐ 27. CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 3

Về tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (sách Ngữ văn 12) có ý kiến cho rằng: Đó là một truyện ngắn thấm đẫm chất hiện thực. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là một tác phẩm giàu chất trữ tình.

Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận về các ý kiến trên

  1. Khái quát:

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

– “Vợ chồng A Phủ” (1952) trích trong tập “Truyện Tây Bắc” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung

– “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn vừa có tính hiện thực, vừa là tác phẩm giàu chất trữ tình.

  1. Cụ thể:
  2. Chất hiện thực:

– Truyện phản ánh bộ mặt thật của xã hội phong kiến thực dân vùng Tây Bắc trước cách mạng tháng 8:

+ Thống lí là người đứng đầu bộ máy chính quyền ở các bản làng vùng dân tộc. Giàu có, lại dựa vào thế lực của Tây, cha con thống lí Pá Tra tha hồ tác oai tác quái ức hiếp dân lành. Bằng chính sách cho vay nặng lãi , chúng bóc lột người dân đến tận xương tủy.

+ Mị và A Phủ là nạn nhân trực tiếp của chính sách ấy. Chỉ vì món tiền cưới cha mẹ mà Mị đã phải bán mình làm dâu nhưng thân phận Mị không khác nào kẻ tôi đòi, làm việc không công đến suốt đời. Cái địa ngục khủng khiếp ấy đã biến Mị từ một cô gái trẻ trung, vui tươi, xinh đẹp, yêu đời thành “ con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa”, thành “ con trâu con ngựa trong chuồng”. Đối lập hoàn toàn với cuộc sống giàu sang phú quí ở nhà thống lí là hình ảnh Mị “ ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa , cạnh tàu ngựa “ và “ lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, Mị cũng cúi mặt , mặt buồn rười rượi”.

Cường quyền và thần quyền nhà thống lí Pá Tra đã giết chết cô gái ấy cả thể xác lẫn tâm hồn. Cuộc sống câm lặng nhẫn nhục đã làm Mị chai sạn đi, trở thành cái xác không hồn vật vờ, thành một nữ cô chỉ biết làm việc không ngơi tay, thành kẻ hầu hạ cho chồng mình mà lúc nào cũng có thể bị đánh đập một cách tàn nhẫn không thương tiếc. Ý thức về cuộc sống trong Mị đã bị xóa sạch.

– Trong hoàn cảnh đó, người dân nghèo vẫn khao khát vươn lên cuộc sống tự do, bằng sức sống mãnh liệt của mình, bằng tình yêu thương những người cùng giai cấp, họ đã vượt thoát khỏi cuộc sống nô lệ, tìm đến cuộc sống tự do, đấu tranh cho hạnh phúc…: Mị có sức sống tiềm tàng, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt (cắt dây trói cứu A Phủ, hai người cùng chạy trốn, tham gia cách mạng…)

  1. Chất trữ tình:

– Tái dựng khung cảnh thiên nhiên và những phong tục tập quán đẹp ở vùng rẻo cao mỗi độ xuân về:

+ “Vợ chồng A Phủ” lấy bối cảnh là thiên nhiên rẻo cao Tây Bắc – 1 khung cảnh vô cùng nên họa nên thơ, được Tô Hoài triển khai 1 cách rất cá tính, rất sáng tạo. Nói đến thiên nhiên nơi đây là phải nói đến nơi có ngọn núi quanh năm ngập trong mây và sương mù; nơi có những cánh rừng bạt ngàn nương rẫy khi thì xanh mướt lúa ngô, khi thì sặc sỡ hoa thuốc phiện; nơi có những bản làng tụ quanh nguồn nước và dòng suối… Hàng ngày, từng đàn gia súc được lùa ra trên khắp bản làng.

+ Hình ảnh của người dân rẻo cao đi làm nương, đi hái củi, hái lá, trỉa bắp, chăn thả bò ngựa. Đời sống của họ lam lũ, vất vả nhưng nhịp sống của họ đều đặn, êm đềm trôi hết năm này sang năm khác.

+ Khung cảnh mùa xuân ở Hồng Ngài: Năm ấy xuân về sớm hơn mọi năm. Hồng Ngài có tục lệ cứ gặt hái xong là ăn tết. Trên những bản của người Mèo Đỏ, trai gái mang váy áo ra phơi trên mỏm đá trông sặc sỡ như những cánh bướm khổng lồ. Ban ngày, từng đám thanh niên mặc váy áo mới xòe ô dắt ngựa đến đánh quay, ném pao, … Tối đến, trong không gian kia những tiếng khèn lá, khèn môi của trai gái gọi bạn tình lại réo rắt đi hết quả đồi này sang quả đồi khác…

– Tâm trạng đầy sức sống của Mị trong đêm tình mùa xuân khi nghe tiếng sáo:

+ Không khí náo nức chuẩn bị ăn tết trong những bản Mông; nhất là tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha và hơi rượu đã gợi nhớ biết bao kỉ niệm. Trong khoảnh khắc Mị trở về sống trọn vẹn với quá khứ, với mùa xuân tươi đẹp nhất của đời mình “Ngày trước Mị thổi sáo giỏi, có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Dòng hồi ức đó chứng tỏ khát vọng tình yêu, hạnh phúc vẫn âm thầm được ấp ủ, gìn giữ trong trái tim người phụ nữ này bất chấp những đau khổ, đắng cay, tủi nhục.

+ Cũng trong đêm tình mùa xuân đó, sau nhiều năm tháng, Mị lại cảm nhận được sự tồn tại của mình, ý thức về mình: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ”, lại khao khát sống: “Mị muốn đi chơi” Mị lại đau đớn, phẫn uất: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra” Quyết định đi chơi Tết của Mị chính là hành động nổi loạn của một con người muốn dành lại quyền sống, quyền tự do.

– Bộc lộ niềm tin vào tình người sâu sắc ở đoạn Mị cởi trói cho A Phủ:

+ Khi nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ Mị nhớ lại tình cảnh của mình đêm năm trước. Mị cũng bị trói đứng như A Phủ lúc ấy => Mị đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của người cùng cảnh ngộ và phẫn nộ trước tội ác của bọn thống lí. Nhìn A Phủ, Mị cảm nhận được tất cả nỗi đau đớn mà con người khốn khổ ấy phải gánh chịu

+ Mị đã vượt qua nỗi sợ hãi để cắt dây trói cứu A Phủ, chạy theo A Phủ, trốn khỏi Hồng Ngài

+ Sau đó, Mị cùng A Phủ tham gia cách mạng, bảo vệ quê hương.

  1. Đánh giá:

– Hai ý kiến trên đều đúng nhưng chưa đủ. Phải hợp hai ý kiến ấy, bổ sung cho nhau mới khái quát đầy đủ về giá trị của tác phẩm.

– Tác phẩm vừa có chất hiện thực, vừa có chất trữ tình. Qua đó, ta thấy được cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ Tô Hoài. Ông thực sự là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học nước nhà.

 

ĐỀ SỐ 28. CHUYÊN NGUYỄN BỈNH KHIÊM QUẢNG NAM

Về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Đó là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá của mình.

Từ cảm nhận của mình về hình tượng nhân vật người vợ nhặt, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.

  1. Vài nét về tác giả, tác phẩm:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

– Tiền thân của truyện ngắn Vợ nhặt là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, viết sau khi Cách mạng tháng Tám thành công nhưng còn dang dở, sau đó bị lạc mất bản thở.

Sau hòa bình lập lại 1954, Kim Lân dựa một phần cốt truyện cũ để viết truyện “Vợ nhặt”.

  1. Giải thích các ý kiến:

– Ý kiến thứ nhất: cho rằng nhân vật người vợ nhặt là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng. Ý kiến trên có lẽ đã căn cứ vào một thực tế của truyện là người phụ nữ trong truyện đã theo không nhân vật Tràng chỉ sau hai lần gặp, nghe ba câu nói đùa, ăn bốn bát bánh đúc …

– Ý kiến thứ hai: khẳng định nhân vật người vợ nhặt là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá. Có lẽ người bảo vệ ý kiến này đã nghiêng về góc độ nhìn nhân vật như là một nạn nhân của nạn đói, cảm thông tình thế đặc biệt của nhân vật và có cái nhìn yêu thương, trân trọng đối với những biểu hiện đáng quý của người vợ nhặt như từ khi về làm vợ Tràng.

  1. Cảm nhận về hình tượng người vợ nhặt :

Thí sinh có thể có những cảm nhận khác nhau nhưng vẫn cần nhận ra những đặc điểm cơ bản gắn với cảnh ngộ và phẩm chất của nhân vật – được Kim Lân khắc họa đầy chân thực và cảm động:

* Bị nạn đói dồn vào cảnh ngộ bi thảm nên trở nên liều lĩnh, trơ trẽn, chấp nhận theo không người đàn ông:

– Vì nhu cầu sinh tồn mà sẵn sàng gạ ăn giữa đường giữa chợ, giữa đám đông xa lạ, quên ý tứ, không còn sĩ diện, bản năng sinh tồn đã lấn lướt tất cả.

– Sẵn sàng theo người đàn ông mới chỉ gặp hai lần về làm vợ, biến lời rủ rê đùa nhiều hơn thật thành lời cầu hôn chính thức

-> Bị cái đói xô đẩy, bị biến thành thân phận trôi dạt, tự hạ thấp giá trị của mình đến mức rẻ rúng ngang với những vật không có giá trị mà người ta vứt ngoài đường.

* Trong bi thảm, người vợ nhặt vẫn có biểu hiện ý tứ, mực thước, có ý thức giữ gìn phẩm giá:

– Trên đường về nhà chồng tâm trạng của thị có sự thay đổi rõ nét. Trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư thị ngượng nghịu, thiếu tự tin: “chân nọ bước díu cả vào chân kia… cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt” –

– Về đến nhà chồng, nhìn thấy“ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị “nén một tiếng thở dài” Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị về gia cảnh nhà chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình?

– Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép giường (“Ngồi mớm” – thế ngồi bấp bênh, không ổn định nhưng cũng rất ý tứ). Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ (chào đến hai lần). Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước trong quan hệ với mẹ chồng.

* Trong bi thảm, nhân vật người vợ nhặt vẫn âm thầm nuôi dưỡng niềm khát khao cuộc sống gia đình, niềm mong mỏi chính đáng về cuộc sống ngày mai

– Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa.

– Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.

– Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng qua câu chuyện về những người đi phá kho thóc của Nhật.

  1. Bình luận về các ý kiến:

– Cả hai ý kiến đều có cơ sở dù cách đánh giá về nhân vật có sự trái ngược nhau. Ý kiến thứ nhất thiên về hiện tượng, về biểu hiện của nhân vật. Ý kiến thứ hai vẫn có cơ sở từ biểu hiện và hành động nhân vật nhưng đã có sự lưu ý về bản chất nhân vật.

– Có thể đề xuất thêm ý kiến thứ ba: con người là một thực thể đa đoan, trong nhân vật người vợ nhặt có cả hai điều được nêu trên nhưng điều thứ hai mới là bản chất.

 

ĐỀ SỐ 29. CHUYÊN NGUYỄN QUANG DIỆU ĐỒNG THÁP LẦN 1

Sách Ngữ văn 12 có viết: “Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường”. Và có ý kiến cho rằng: “Sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh”.

Anh/ chị hãy trình bày ý kiến của mình về các nhận xét trên.

1 Giới thiệu khái quát tác giả- tác phẩm:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

2 Giải thích các ý kiến:

 – Ý kiến thứ nhất:

+ Vẻ đẹp nữ tính: Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng, là tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ khi yêu với những nét đẹp đằm thắm, dịu dàng, đôn hậu, vị tha, sâu lắng…

+ Tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường: tiếng thơ với những cảm xúc, suy tư, thao thức, khát khao… rất đời, rất gần gũi.

– Ý kiến thứ hai:

Sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh.

+ Sóng viết về tình yêu – đề tài nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh.

+ Sóng rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh: chân thành, đằm thắm mà khát khao, say mê bất tận, hồn nhiên trẻ trung mà suy tư, sâu lắng, ước mơ đến cháy bỏng… một vẻ đẹp rất nữ tính.

3 Cảm nhận về bài thơ Sóng hướng tới bình luận các ý kiến:

 * Về nội dung:

– Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính – Sóng thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người con gái khi yêu

+ Tâm hồn người phụ nữ luôn phức điệu với những cung bậc cảm xúc, những rung động mãnh liệt, luôn rạo rực và đầy khát khao, luôn tìm cách lí giải tâm hồn mình và đi tìm cội nguồn của tình yêu.

+ Tâm hồn người phụ nữ hồn hậu, rất thành thực với tình yêu vừa đằm thắm, dịu dàng vừa sôi nổi, đắm say, với nỗi nhớ cồn cào, da diết, lắng sâu.

+ Một tình yêu đằm thắm, thủy chung, vị tha vượt bao cách trở – “Hướng về anh một phương” dù trời đất có thay phương đổi hướng.

– Sóng thể hiện một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường”

+ Bài thơ thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường – hi vọng vào tình yêu cao cả trước thử thách nghiệt ngã của thời gian và cuộc đời.

+ Tình yêu không vị kỉ mà đầy trách nhiệm, muốn hoà nhập vào cái chung với khát khao dâng hiến trọn vẹn và vươn tới một tình yêu vĩnh hằng.

* Về nghệ thuật:

– Hình tượng “ Sóng” và “Em” với kết cấu song hành là sáng tạo độc đáo thể hiện sinh động và chân thực những cảm xúc và khát vọng trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

– Thể thơ năm chữ, âm điệu bằng trắc của những câu thơ thay đổi đan xen nhau, nhịp điệu phù hợp với nhịp điệu vận động của “sóng” và phù hợp với cảm xúc của nhân vật trữ tình.

– Từ ngữ giản dị, trong sáng, giàu sức gợi, biểu cảm diễn tả chân thực những trạng thái đối lập mà thống nhất của “sóng” và của tâm hồn người con gái khi yêu.

4 Bình luận chung về các ý kiến:

– Hai ý kiến là những nhận xét xác đáng về hồn thơ Xuân Quỳnh. Ý kiến thứ nhất cụ thể hóa hồn thơ Xuân Quỳnh với những nhận định thật sâu sắc, xác đáng. Ý kiến thứ hai là đánh giá mang tính khái quát về bài thơ Sóng ở góc nhìn về hồn thơ, về phong cách tác giả. Hai ý kiến có tính chất bổ sung cho nhau và khẳng định vị trí bài thơ Sóng trong thơ Xuân Quỳnh.

– Sóng góp phần khẳng định phong cách thơ tình Xuân Quỳnh, là lời tự hát về tình yêu với nhịp đập của một trái tim hồn hậu, giàu yêu thương, giàu khát vọng và ít nhiều những phấp phỏng, lo âu, vừa mạnh mẽ vừa yếu đuối… Sóng là tiếng nói rất trẻ trung và đằm thắm nồng nàn về tình yêu của người phụ nữ. Với Sóng, Xuân Quỳnh góp thêm một cách diễn tả độc đáo về đề tài muôn thuở của loài người – đề tài tình yêu.

– Thí sinh có thể bày tỏ quan điểm riêng của mình về các nhận định; cần nhận thức được những hiểu biết về tác giả và việc bám sát văn bản để bày tỏ ý kiến và thuyết phục về vấn đề là quan trọng.

 

ĐỀ SỐ 30. CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 2

Những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ được phát hiện và miêu tả như thế nào qua nhân vật vợ nhặt trong Vợ nhặt của Kim Lân và người đàn bà làng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu?

  1. Khái quát chung:

– Giới thiệu khái quát về nhà văn Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt:

+ Kim Lân là nhà văn nổi tiếng với thể loại truyện ngắn. Ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ, tâm lý của những người dân quê để viết nên những trang văn chân thật và cảm động về họ.

+ “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc được viết lại từ phần đầu của tiểu thuyết Xóm ngụ cư, là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của đời văn Kim Lân.

– Giới thiệu khái quát về nhà văn Nguyễn Minh Châu và tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”:

+ Nguyễn Minh Châu là một cây bút tiêu biểu trong nên văn học hiện đại Việt Nam, được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” cho công cuộc đổi mới văn học từ sau 1975.

+ Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa tiêu biểu cho phong cách văn xuôi và những đổi mới trong sáng tác của ông.

– Cả 2 tác phẩm đều khắc họa thành công hình ảnh người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốt đẹp, thông qua 2 nhân vật: người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài.

  1. Nội dung cụ thể:
  2. Nhân vật người vợ nhặt:

* Nhân vật được miêu tả trong bối cảnh đặc biệt: nạn đói khủng khiếp năm 1945, đứng giữa bờ vực của sự sống và cái chết. Người đàn bà ấy đã sống thật bi thảm: nghèo đòi, rách rưới tả tơi, mất hết nữ tính, mất cả tự trọng mà theo không về làm vợ một người đàn ông lạ chỉ sau một lời bông đùa…

* Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn người đàn bà này vẫn có nhiều nét đẹp quý giá:

– Lòng ham sống, khát vọng sống mãnh liệt: Thị theo không Tràng về làm vợ mà không một chút do dự. Tuy nhiên, đằng sau sự liều lĩnh ấy là một khát vọng sống mãnh liệt bởi khi thấy gia cảnh nghèo đói của Tràng, vốn không khá hơn mình là mấy, thị vẫn bằng lòng, chấp nhận và vui vẻ vun vén, chăm sóc cho gia đình nhỏ ấy.

– Đó là một người phụ nữ rất ý tứ, biết điều, hiền hậu, đúng mực, biết vun vén cho hạnh phúc gia đình:

+ Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu.: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”

+ Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám mặn chát, nghẹn bứ trong cổ nhưng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng”.

+ Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, ắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm”

=> Là nhân vật có phẩm chất tốt đẹp, có tư cách của một người phụ nữ Việt Nam : dù trong hoàn cảnh nào người phụ nữ vẫn khát khao một mái ấm gia đình, hạnh phúc.

  1. Nhân vật người đàn bà làng chài:

* Đó là một người đàn bà nghèo, bất hạnh, một nạn nhân đau khổ của nạn bạo lực gia đình: (0,25 điểm)

– Ngoại hình: cao lớn với những đường nét thô kệch, khuôn mặt mệt mỏi, mặt rỗ,…

– Bị chồng đánh đập, hành hạ thường xuyên và rất kinh khủng: 3 ngày một trận nhẹ, 5 ngày một trận nặng, bị đánh bằng thắt lưng, những trận đánh rất vô cớ,…

* Dù vậy, ở chị vẫn sáng lên những phẩm chất tốt đẹp: (0,25 điểm)

– Trái tim người mẹ bao la, giàu tình thương và đức hi sinh:

+ Rất mực yêu thương con: tận tâm bảo bọc, che chở, cố tránh cho con khỏi bị tổn thương…

+ Chấp nhận chung sống vời người đàn ông vũ phu chứ quyết không chịu bỏ cũng vì muốn những đứa trẻ luôn có bố “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”

+ Hạnh phúc rất đời thường và bình dị là khi nhìn những đưa con được ăn no.

– Tấm lòng bao dung, độ lượng của một người đàn bà thấu hiểu lẽ đời:

+ Chịu đựng tất cả những cơn giận vô cớ của người chồng: cam chịu, nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không chạy trốn, chỉ ôm lấy đứa con, van vỉ nó, ngăn cản sự phản kháng của nó…

+ Hiểu được nguồn gốc cơn giận của chồng: “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh” -> cái nghèo đói, khốn khổ đã biến một người đàn ông hiền lành, chất phác xưa thành một người chồng nát rượu, vũ phu, độc ác.

+ Chị hiểu lòng tốt của Đẩu và Phùng nhưng hơn ai hết chị hiểu nỗi cơ cực của cuộc sống lênh đênh trên biển, vì thể phụ nữ trên biển cần một người đàn ông để dựa.

+ Chị lại nhận lỗi về mình “giá tôi đẻ ít đi…” -> sự dằn vặt, nỗi khổ về tinh thần của chị.

=> Như vậy, việc chấp nhận cuộc sống với người chồng vũ phu dường như là cách để chị sẽ chia với những u uất, cùng quẫn, bế tắc của người chồng. Chị nhìn người chồng thật bao dung, độ lượng.

  1. Đánh giá:

– Vẻ đẹp của cả hai người phụ nữ này bị khuất lấp sau vẻ bề ngoài thô lỗ hay lam lũ, cam chịu. Cách phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ một mặt cho thấy bề sâu tâm hồn, tính cách, đạo đức của các nhân vật, mặt khác thể hiện tình nhân đạo, sự cảm thông và lòng tin ở con người (cụ thể ở đây là người phụ nữ) của các nhà văn. Cũng qua đó, nhà văn có cơ hội khắc họa được bối cảnh sống nghiệt ngã mà những người phụ nữ phải chịu đựng.

– Ngòi bút của các tác giả đã rất tinh tế khi chọn miêu tả ánh mắt, các cử chỉ, cách xưng hô… của nhân vật để cho người đọc thấy những nét đẹp ở họ. Các nhà văn đã gợi cho người đọc hiểu được dòng tâm trạng, những uẩn khúc tâm lí của nhân vật. Tuy vậy, sự khác nhau trong cách miêu tả cũng thể hiện rõ: giọng văn của Kim Lân nhân hậu mà dí dỏm, giọng văn Nguyễn Minh Châu trang nghiêm mà day dứt…

– Dù thể hiện hai phong cách nghệ thuật khác biệt, cả hai tác giả đều gặp nhau ở thái độ ngợi ca kín đáo đối với người phụ nữ Việt Nam. Cách phát hiện, miêu tả những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ gợi trong ta nhiều bài học về cách nhìn con người, đồng thời cũng bồi đắp ở ta thái độ yêu thương, quý trọng người phụ nữ.

 

ĐỀ SỐ 31. CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI LẦN V

Phân tích nhân vật Chiến trong Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) và nhân vật Dít trong Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành).

  1. Giới thiệu chung:

– Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là 2 tác phẩm xuất sắc, phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến.

– Dít và Chiến đều là những nữ chiến sĩ trẻ tuổi, gan góc, dũng cảm, tiêu biểu cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời chống Mĩ. Ở mỗi nhân vật đều có những vẻ đẹp riêng, hấp dẫn người đọc.

  1. Phân tích các nhân vật:

a/ Nhân vật Dít:

– Được xây dựng trên nguyên mẫu một người phụ nữ Tây Nguyên có “vẻ đẹp vừa lồ lộ vừa man dại” mà Nguyễn Trung Thành gặp trong một Đại hội chiến sĩ thi đua khu vực Tây Nguyên. Trong truyện, Dít được miêu tả là một thiếu nữ xinh đẹp, duyên dáng. Nhà văn đặc biệt tập trung miêu tả đôi mắt của người con gái này, một đôi mắt có hàng lông mày rậm, lúc nào cũng “mở to, bình thản, trong suốt”…

– Chưa đầy mười tuổi, Dít đã nhanh nhẹn, mưu trí lọt qua vòng vây của kẻ thù vào rừng tiếp tế cho cụ Mết và đám thanh nhiên. Bị giặc bắt, chúng bắn khủng bố tinh thần, Dít sau những phản xạ ban đầu đã trở nên kiên cường đến bất ngờ. Giữa làn đạn, con bé im bặt, đôi mắt mở to bình thản nhìn thẳng vào kẻ thù. Trước nỗi đau, nó tỏ ra mạnh mẽ, cứng cỏi một cách đặc biệt; mắt ráo hoảnh. Trong lúc cả làng còn chìm trong đau thương, Dít đã biến đau thương thành hành động; nó thức suốt đêm, gần đủ 30 lon gạo, đổ vào ruột nghé cho Tnú mang đi.

– Dít trưởng thành một cách nhanh chóng. Ba năm sau khi Tnú đi xa trở về, Dít đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội. Cô được về huyện dự Đại hội chiến sỹ thi đua. Trong cái đêm gặp Tnú, Dít thể hiện sự nghiêm khắc và tính kỷ luật cao của một người cộng sản.

=> Xây dựng nhân vật này, Nguyễn Trung Thành có ý đồ tạo ra một hình tượng mang ý nghĩa thay thế và tiếp nối. Dít sẽ tiếp bước chị gái mình trong cuộc chiến đấu đồng nghĩa thay thế Mai trong trái tim và cuộc đời Tnú như nhà văn từng chia sẻ

“Tôi muốn Dít sẽ là mối tình sau của Tnú”.

b/ Nhân vật Chiến:

– Về ngoại hình là một cô gái trẻ có sức vóc, khỏe mạnh: bắp tay tròn vo sạm đỏ, màu cháy nắng, thân người to và chắc nịch, bước đi bịch bịch….Đó là hình ảnh quen thuộc của các nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Thi.

– Về tính cách: Chiến đảm đang, tháo vát, giỏi thu vén, sắp đặt mọi việc. Cô cũng là người chị yêu thương, nhường nhịn em. Đặc biệt, Chiến là hình ảnh về người phụ nữ thời chiến: giàu lòng yêu nước, căm thù gặc, có tinh thần xả thân, sẵn sàng hy sinh vì Tổ Quốc. Mười chín tuổi Chiến vào chiến trường với một câu giản dị và sâu sắc “Đã làm thân con gái ra đi ta chỉ có một câu: nếu gặc còn thì tao mất, vậy à”…..Chú Năm từng hài lòng mà nói về đứa cháu gái của mình “Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thất, đặng bề nước non”…

– Chiến được miêu tả giống má một cách đặc biệt (từ vóc dáng, hình hài đến tính cách). Hơn một lần trong câu truyện, Việt có cảm nhận chị mình “giống in như má”. Nhưng Chiến là khúc sông sau của con sông truyền thống gia đình, cô hứa hẹn sẽ đi xa hơn trong người mẹ kiên cường đã mất của mình.

  1. Đánh giá:

– Cả Dít và Chiến đều mang trong mình những vẻ đẹp vừa truyền thống vừa hiện đại. Một mặt, họ là hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam hiền lành chăm chỉ, đảm đang, tháo vát, giàu đức hy sinh… Mặt khác, họ là sản phẩm của thời đại mới, thời đại anh hùng. Sinh ra vào thời kỳ đất nước có chiến tranh, họ là những người phụ nữ cứng cáp, vững vàng, giỏi chèo chống, gánh vác……điều đáng nói là vẻ đẹp nữ tính vốn có của họ không vì thế mà mất đi.

– Hai nhân vật vừa có những điểm tương đồng, vừa có những nét khác biệt. Cách mà các nhà văn miêu tả, khắc họa họ cũng in dấu ấn riêng cho quan niệm và phong cách nghệ thuật.

 

ĐỀ SỐ 32. CHUYÊN HÙNG VƯƠNG PHÚ THỌ

Bàn về nhân vật Việt và Chiến trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) có người cho rằng tính cách ở hai nhân vật này vừa có những nét giống nhau lại vừa có những nét khác nhau.

Suy nghĩ của em về ý kiến trên?

  1. Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ bởi ông đã gắn bó sâu nặng và sự am hiểu sâu sắc về những con người nơi đây.

– “Những đứa con trong gia đình” thuộc số những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Thi. Thành công nổi trội của truyện là nghệ thuật xây dựng các tính cách nhân vật với cá tính đậm nét, đặc biệt là hai nhân vật: Việt và Chiến.

  1. Cụ thể:
  2. Nét tính cách chung của hai chị em:

– Chung một hoàn cảnh: con một gia đình nông dân nghèo chịu nhiều mất mát đau thương nhưng giàu truyền thống yêu nước và cách mạng nên họ giống nhau về bản chất.

– Chung tình yêu thương là vẻ đẹp tâm hồn của hai chị em: thương ba má, chị Hai và em. Kính trọng và nghe lời chú Năm, cùng mối thù với bọn xâm lược, hai chị em cùng một ý nghĩ: phải trả thù cho ba và má, và có cùng nguyện vọng được cầm súng đánh giặc nên giành nhau đi tòng quân.

– Cả hai đều là những con người dũng cảm gan góc và từng lập được nhiều chiến công.

+ Việt: Từ nhỏ đã dám xông vào đá cái thằng đã giết cha mình; Việt cùng với chị đã chủ động tìm giặc để đánh: bắn tàu giặc trên sông, phá xe tăng địch. Khi chỉ còn một mình trên chiến trường, mình đầy thương tích nhưng Việt vẫn quyết sống mái với quân thù.

+ Chiến: một lòng một dạ quyết tâm tòng quân đánh giặc.

– Có những nét rất ngây thơ – có phần trẻ con: tranh giành công bắt ếch, thành tích bắn tàu chiến giặc.

  1. Nét riêng ở Việt và Chiến:

Nhân vật Việt: Việt là một thanh niên đáng yêu, vô tư, thơ ngây. Việt có dáng vẻ vụng về. lộc ngộc của một cậu bé mới lớn, thích bắt ếch, bắt cá, bắn chim… TRước ngày lên đường chiến đấu. Chiến bàn việc gia đình, Việt không mấy quan tâm mà chỉ mải chụp đom đóm, rồi ngủ lúc nào không hay. Vào bộ đội. Việt còn mang theo cây súng cao su, ra trận không sợ chết nhưng lại sợ ma; gặp lại đồng đội mừng quá, khóc òa…

Nhân vật Chiến:

+ Chiến mang vóc dáng của má, của con người lao động: “hai bắp tay tròn vo rám nắng…thân người to và chắc nịch…”

+ Chiến đặc biệt giống má khi thu xếp việc nhà trước khi cùng em trai lên đường tòng quân: biết lo liệu, thu xếp việc nhà đâu ra đấy…

+ Chiến biết nhường nhịn em nhưng cũng rất kiên quyết khi ghi tên tòng quân…

+ Là một cô gái đầy nữ tính: lúc nào cũng mang theo bên mình cây lược…

  1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Nhà văn đã xây dựng nhân vật vừa có cá tính vừa phù hợp với lứa tuổi, giới tính…

– Nguyễn Thi đã sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ vừa thể hiện nét riêng của nhân vật vừa tạo nên màu sắc địa phương độc đáo cho tác phẩm.

– Trong người anh hùng luôn có sự kết hợp giữa cái đời thường và cái phi thường – đó là hình mẫu về người anh hùng chúng ta thường gặp trong tác phẩm của Nguyễn Thi.

  1. Đánh giá khái quát:

– Khẳng định tính chính xác của ý kiến.

– Chiến và Việt là khúc sông sau chảy xa hơn trong dòng sông của một gia đình cách mạng. Họ là hiện thân cho vẻ đẹp của thế hệ thanh niên Việt Nam thời chống Mĩ với những phẩm chất của người anh hùng trên quê hương nam Bộ.

 

ĐỀ SỐ 33. CHUYÊN SƠN TÂY LẦN III

Bàn về đặc điểm cái tôi trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, có ý kiến cho rằng: Đó là cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt. Lại có ý kiến khẳng định: Bài thơ đã thể hiện một cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người.

Từ việc cảm nhận về cái tôi trong bài thơ, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

  1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

  1. Giải thích 2 ý kiến:

– Cái tôi là cái bản ngã, là tâm trạng, cảm xúc, là thế giới tâm hồn riêng của nhà thơ trước hiện thực khách quan. Qua cái tôi, ta có thể thấy được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng… của nhà thơ trước cuộc đời.

– Khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt: là những mong muốn, khát khao trong cuộc sống và tình yêu được đẩy lên đến cao độ, nồng nàn.

– Cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người: là cái tôi tinh tế trong cảm nhận, trăn trở suy tư khi nhận ra sự mong manh trong tình yêu và sự ngắn ngủi của đời người.

  1. Cảm nhận về cái tôi trong bài “Sóng”:

a/ Cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt:

– Cái tôi với nhiều cung bậc cảm xúc trong tinh yêu giống như qui luật của sóng trên biển cả: lúc dữ dội, ồn ào, mạnh mẽ lúc dịu dàng, lặng lẽ, nữ tính: dữ dội và dịu êm/ ồn ào và lặng lẽ

-Tình yêu mãi là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ,làm bồi hồi,xốn xang trái tim ngực trẻ (khổ 2)

– Cái tôi khát vọng được sống đúng với cá tính của mình, được thấu hiểu và được yêu thương nên đã dấn thân vào hành trình gian truân tìm kiếm hạnh phúc, hướng tới tình yêu chân thành, đích thực: sông không hiểu nổi mình/ sóng tìm ra tận bể

– Cái tôi còn khát vọng khám phá bản chất, nguồn gốc của tình yêu, để rồi nhận ra rằng tình yêu là bí ẩn như sóng và không thể nào lí giải.(khổ 3,4)

– Cái tôi mang nỗi nhớ nồng nàn da diết, nỗi nhớ ấy vượt qua mọi khoảng cách không gian, mọi giới hạn thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi cả vào trong tiềm thức, xâm nhập cả vào những giấc mơ.(khổ 5)

– Cái tôi khát vọng và tin tưởng tình yêu chung thuỷ sẽ vượt qua những biến động của cuộc sống, những thăng trầm của cuộc đời để đến được bến bờ hạnh phúc.(khổ 6,7)

b/ Cái tôi nhạy cảm day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người:

– Bằng sự chiêm nghiệm của một trái tim đa cảm và sự từng trải, nhà thơ đã sớm nhận ra nghịch lý: đời người là ngắn ngủi so với thời gian vô thuỷ vô chung; khát vọng tình yêu là khôn cùng mà kiếp sống của mỗi người là hữu hạn. (khổ 8)

– Cái tôi tìm cách hoá giải nghịch lý và nỗi day dứt ấy bằng khát vọng hoá thân vào sóng, hoà nhập vào biển lớn tình yêu để mãi mãi được yêu thương và dâng hiến để bất tử hóa tình yêu, để tình yêu vượt qua sự hữu hạn của đời người.(khổ 9)

c/ Nghệ thuật thể hiện :

– Cái tôi trong Sóng được thể hiện bằng thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu chân thành, da diết, riêng khổ 5 là khổ duy nhất trong bài gồm 6 câu thơ, như một sự phá cách để thể hiện một trái tim yêu tha thiết, nồng nàn.

– Ngôn ngữ bình dị với thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương phản, đối lập, các điệp từ; cặp hình tượng sóng và em vừa sóng đôi, vừa bổ sung hoà quyện vào nhau cùng diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của cái tôi thi sĩ.

  1. Bình luận hai ý kiến:

– Hai ý kiến đề cập đến những đặc điểm khác nhau của cái tôi Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng. Ý kiến thứ nhất nhất mạnh đến khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, đằm thắm của người phụ nữ ý kiến thứ hai khẳng định sự nhạy cảm, nỗi day dứt, lo âu, trăn trở về tình yêu, hạnh phúc khó bền chặt, về sự hữu hạn của đời người song trong niềm lo âu đó vẫn chứa đựng niềm tin tưởng vào cái đích cuối cùng của tình yêu.

– Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau thể hiện sự nhìn nhận toàn diện về cái tôi của thi sĩ; giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và thấu đáo hơn về vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

 

ĐỀ SỐ 34. CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 3

Trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, nhân vật trữ tình thổ lộ:

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?”

Anh/ chị hãy trình bày cảm nhận của mình về những điều “em” đã “nghĩ” và những điều đã làm nên nội dung trữ tình của bài thơ.

  1. Giới thiệu chung:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

  1. Trình bày cảm nhận:

– “Em” trong bài thơ là nhân vật trữ tình – một người con gái đang yêu và tôn thờ

tình yêu. Qua những điều “em” đã nghĩ “trước muôn trùng sóng bể”, người đọc nhận ra được nhiều điều về bản chất của tình yêu cũng như những nỗi niềm rất cụ thể của nhân vật trữ tình – sự hóa thân của chính tác giả.

– “Em” – nhân vật trữ tình đã thật tinh tế khi mượn “sóng” làm ẩn dụ tình yêu. Nhờ ẩn dụ này, bao nhiêu điều “em” khám phá về tình yêu được nói ra một cách đầy cảm xúc. Sóng có nhiều đối cực như tình yêu cũng có nhiều đối cực. Sóng luôn “tìm ra tận bể” như tình yêu chân chính hướng về những điều cao cả. Sóng có nguồn gốc bí ẩn cũng như sự bí ẩn vô tận của tình yêu. Sóng không bao giờ ngừng lặng như tình yêu luôn trăn trở, bồi hồi. Sóng luôn hướng về bờ như tình yêu luôn hướng đến sự gắn bó chung thủy. Sóng còn mãi giữa cuộc đời như tình yêu chân chính có sức sống vượt thời gian…

– Những điều “em” đã nghĩ cho thấy “em” vừa có khát vọng hiểu thấu tình yêu nói chung, vừa có mong muốn cháy bỏng được hiểu mình và bộc lộ mình trong tình yêu. Quả thật, “em” đã bộc lộ mình như một người con gái cả nghĩ, đầy lo toan, đầy trách nhiệm. Đặc biệt, em cũng là một con người táo bạo, muốn dâng hiến tất cả cho tình yêu dù trong lòng luôn có nỗi thao thức trước thời gian.

– Bài thơ Sóng bộc lộ khá rõ nữ tính của nhân vật trữ tình và phần nào của chính tác giả. Những điều “em” nghĩ về cơ bản cũng là những điều “em” đã trải nghiệm. Chính vì vậy, bài thơ có tính triết lý mà không hề khô khan. Nó là triết lý của trái tim, triết lý được chưng cất từ những dữ kiện cuộc đời của một người đã sống hết mình cho tình yêu.

– Bên cạnh những điều “em” đã “nghĩ”, cách “em” bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình cũng gây cho người đọc những ấn tượng đặc biệt. Câu thơ 5 chữ được sử dụng rất phù hợp để tạo nên giọng điệu tự sự nồng nàn. Ân dụ “sóng” vừa kín đáo vừa phơi mở tự nhiên hé lộ một nội tâm vừa già dặn, sâu sắc, vừa trẻ trung, bồng bột. Sự xuất hiện luân phiên của hai hình tượng là “sóng” và “em” cũng góp phần tạo cho bài thơ một nhịp sóng đầy sức gợi…

  1. Đánh giá:

– Qua “Sóng”, Xuân Quỳnh đã nói hộ đầy đủ nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu một cách chân thành, sâu sắc và sinh động. Bởi vậy, “Sóng” được xếp vào một trong những bài thơ tình hay nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam.

 

ĐỀ SỐ 35. CHUYÊN LÝ TỰ TRỌNG CẦN THƠ

Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho rằng, nét nổi bật ở người nghệ sĩ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm lòng trăn trở, lo âu về thân phận con người.

Anh/chị có suy nghĩ gì về những ý kiến trên?

  1. Khái quát về tác giả, tác phẩm:

– Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời chống Mĩ, đồng thời là người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới văn học sau năm 1975. Ở giai đoạn trước, ngòi bút của ông theo khuynh hướng sử thi, thời kì sau chuyển sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh , có nhiều đổi mới trong nghệ thuật viết truyện.

– “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu ở thời kì sau. Tác phẩm kể về chuyến đi thực tế của Phùng- một nghệ sĩ nhiếp ảnh, qua dó thể hiện cách nhìn sâu sắc của tác giả về cuộc sống và sự băn khoăn về thân phận con người.

  1. Phân tích:
  2. Giải thích ý kiến:

– Nét nổi bật ở người nghệ sĩ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp: khả năng khám phá, phát hiện tinh tế và sự rung động mãnh liệt trước những vẻ đẹp phong phú trong cuộc sống.

– Vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm lòng trăn trở, lo âu về thân phận con người: mối quan tâm thường trực đến số phận con người, nhất là những mảnh đời

bất hạnh, thái độ bất bình trước những ngang trái cuộc đời.

  1. Cảm nhận về nhân vật Phùng:

 – Một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp:

+ Phùng tinh tế, nhạy bén, nắm bắt được cảnh đẹp trời cho -> mải mê, say sưa cảm nhận và thưởng lãng, vồ ập nắm bắt và háo hức ghi vào ống kính điêu luyện của mình.

+ Niềm hân hoan của khám phá và sáng tạo đã tràn ngập tâm hồn khi Phùng chìm đắm trong những suy tưởng về sự thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện, về sự tận thiện và tận mĩ của nghệ thuật và cuộc sống.

– Một tấm lòng trăn trở, lo âu về thân phận con người:

+ Thái độ khi chứng kiến cảnh bạo lực trong gia đình hàng chài: sửng sốt, bức xúc, căm phẫn, xông vào can thiệp để bảo vệ người đàn bà hàng chài…

+ Lắng nghe, day dứt với chuyện đời người đàn bà hàng chài; lo lắng, ám ảnh về thân phận và tương lai của họ – nhất là bé Phác.

+ Từ đó, Phùng đã có những thay đổi quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật phải đến gần hơn cuộc sống, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vị nhân sinh; người nghệ sĩ cũng phải đến gần với cuộc sống và con người, không được có cái nhìn thờ ơ, vô cảm.

=> Nhân vật Phùng là đại diện tiêu biểu cho người nghệ sĩ chân chính với niềm

đam mê nghệ thuật và trái tim nhạy cảm, nhân hậu.

  1. Nghệ thuật thể hiện:

– Nghệ thuật trần thuật

– Vai trò người kể chuyện: Phùng vừa là một nhân vật trong truyện, vừa là người kể

chuyện tạo nên tính đa dạng về điểm nhìn. Trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, Phùng

được khắc họa với đời sống nội tâm sâu sắc.

– Nhân vật được đặt trong tình huống đặc biệt (tình huống nhận thức). Nhân vật phải

liên tiếp đối mặt với những cảnh đời trái ngược qua đó làm nổi bật lên các bình diện nhân cách của nhân vật nghệ sĩ.

  1. Đánh giá:

– Hai ý kiến trên bàn về những vẻ đẹp khác nhau trong tâm hồn người nghệ sĩ Phùng: ý kiến thứ nhất đề cao phẩm chất hàng đầu của một người nghệ sĩ: sự nhạy cảm và niềm say mê cái đẹp; ý kiến thứ hai nhấn mạnh phẩm chất đáng quý của người nghệ sĩ là tấm lòng hướng đến cuộc sống và con người.

– Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành cái nhìn cái nhìn thống nhất và toàm diện về vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật nghệ sĩ Phùng, giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn vẻ đẹp của nhân vật này cũng như thấm thía hơn tư tưởng của nhà văn.

 

ĐỀ SỐ 36. HOÀNG LỆ KHA TÂY NINH

Từ “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh), anh/chị có suy nghĩ gì về độc lập, tự do trong thời đại ngày nay đối với dân tộc và mỗi cá nhân.

1 Giới thiệu chung:

– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh -> nhấn mạnh các sáng tác thuộc thể văn chính luận, trong đó có Tuyên ngôn độc lập.

– Giới thiệu khái quát về tác phẩm: là một trong những áng thiên cổ hùng văn của dân tộc; đã mở ra 1 kỉ nguyên mới cho dân tộc ta- kỉ nguyên độc lập, tự do, nhân dân làm chủ đất nước, quyết định vận mệnh của mình.

  1. Phân tích:
  2. Khái quát những nội dung chính của bản tuyên ngôn trong hoàn cảnh lịch sử- Cách mạng tháng Tám:

– Hoàn cảnh lịch sử:

+ Cách mạng tháng Tám thành công, thực dân Pháp lâm le trở lại Việt Nam. 19/08/1945, khởi nghĩa dành chính quyền thắng lợi, phát xít Nhật đầu hàng.

+ 26/08/1845, Bác Hồ dời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội

+ Tại số nhà 48, phố Hàng Ngang, Bác đã viết bản Tuyên ngôn độc lập.

+ 2/9/1945, thay mặt cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.

– Các luận điểm chính của bản tuyên ngôn:

+ Nêu nguyên tắc về quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

+ Tố cáo tội ác thực dân trong 80 năm qua – phủ nhận quyền của Pháp đối với Việt Nam.

+ Khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và thể hiện quyết tâm bảo vệ nền độc lập.

  1. Suy nghĩ về độc lập- tự do trong thời đại ngày nay (Trong mỗi giai đoạn lịch sử, độc lập- tự do có ý nghĩa khác nhau):

– Thời đại ngày nay- xu thế hội nhập, toàn cầu hóa (Xu thế không thể đảo ngược).

– Độc lập- tự do thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau: bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ- biên giới hải đảo; độc lập về kinh tế- không phụ thuộc vào các nước khác trên tinh thần hợp tác; về văn hóa: chúng ta “Hòa nhập” nhưng không “Hòa tan”, khẳng định .vị thế, bản sắc văn hóa dân tộc trên trường quốc tế…

– Với mỗi cá nhân: suy nghĩ, hành động luôn trên tinh thần của công dân nước Việt Nam độc lập- tự hào dân tộc. Trong đời sống cá nhân, độc lập – tự do có ý nghĩa hết sức lớn lao khi ta thực sự sống là chính mình.

  1. Đánh giá:

– “Tuyên ngôn độc lập” có thể coi là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại mới, có giá trị lịch sử to lớn và giá trị nghệ thuật sâu sắc.

– Thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc, tinh thần quốc tế cao cả và một tầm tư tưởng lớn lao của Hồ Chí Minh

 

ĐỀ SỐ 37. CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LẦN 6

Phân tích nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (SGK Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục) của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Minh Châu là một cây bút tiêu biểu trong nên văn học hiện đại Việt Nam, được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” cho công cuộc đổi mới văn học từ sau 1975.

– Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa tiêu biểu cho phong cách văn xuôi và những đổi mới trong sáng tác của ông. Trong truyện, tác giả đã khắc họa thành công nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, qua đó thể hiện những quan điểm sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.

2.2 Phân tích nhân vật:

  1. Vị trí – vai trò của nhân vật:

– Phùng vừa là một nhân vật chính vừa là người kể chuyện, khiến câu chuyện càng trở nên chân thực, rõ nét hơn; đồng thời chứa đựng nhiều trăn trở, suy tư.

– Anh trước kia là một lính, từng vào sinh ra tử. Nay, từ chiến trường trở về, anh là một nhiếp ảnh gia.

  1. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật:

* Một nghệ sĩ nhiếp ảnh có tài, nhạy cảm và say mê cái đẹp:

– Được giao một nhiệm vụ khó khăn và quan trọng.

– Phát hiện được một “cảnh đắt trời cho” – “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một vẻ đẹp toàn bích… Trước cảnh đẹp ấy, anh thấy ngạc nhiên, sung sướng, tâm hồn mình được thanh lọc, nhận thấy “cái đẹp chính là đạo đức”.

– Xúc động trước cảnh đẹp ấy, Phùng vội vàng chụp liền một lúc hết 1/4 cuộn phim.

* Một nghệ sĩ có tấm lòng với cuộc đời và con người:

– Khi chứng kiến cảnh bạo lực gia đình:

+ Lần thứ nhất: Anh kinh ngạc, sững sờ mất mấy phút rồi đánh rơi chiếc máy ảnh lúc nào không biết, định chạy tới cứu giúp người phụ nữ thì thằng Phác đã xô tới trước.

+ Lần thứ hai: Anh xông ra ngăn cản người chồng vũ phu và bị thương, phải nằm viện.

– Nhờ đến sự can thiệp của chính quyền, pháp luật để giúp đỡ gia đình người đàn bà hàng chài.

– Hiểu ra rằng người đàn ông vũ phu kia vừa là nạn nhân của đói nghèo, lạc hậu, thiếu hiểu biết vừa là thủ phạm gây ra bạo lực gia đình. Vì vậy, muốn giải thoát con người khỏi đau khổ phải giải quyết triệt để cái đói nghèo, lạc hậu ấy.

– Lo lắng, trăn trở trước tương lai của những đứa trẻ như Phác và chị gái nó.

* Một nghệ sĩ luôn trăn trở về thiên chức nghề nghiệp:

– Chiếc thuyền ngoài xa: Hiện thực cuộc sống cũng như chiếc thuyền ở ngoài xa, chỉ khi ta nhìn nhận nó ở tầm gần mới hiểu hết bản chất.

– Cảnh bạo lực đằng sau khung cảnh tuyệt mĩ: Cái xấu, cái ác vẫn có thể tiềm ẩn ngay trong cái đẹp, cái thiện.

=> Nghệ thuật chân chính phải đến gần hơn với cuộc sống, phải là nghệ thuật vị nhân sinh; người nghệ sĩ chân chính không thể thờ ơ, vô tâm trước cuộc đời.

2.3 Đánh giá:

– Qua việc đặt nhân vật vào tình huống bất ngờ, đặc biệt, tập trung miêu tả những thay đổi về nhận thức của nhân vật, nhà văn đã gửi đến người đọc những thông điệp giàu ý nghĩa:

+ Nghệ thuật phải dành ưu tiên trước hết cho con người.

+ Người nghệ sĩ phải nhìn đời đa chiều, phải có tấm lòng yêu thương, trân trọng, bao dung, vị tha với con người.

+ Chủ nghĩa nhân đạo trong nghệ thuật không thể xa lạ với số phận con người.

 

ĐỀ SỐ 38. CHUYÊN NGUYỄN HUỆ HÀ NỘI LẦN 4

Kết thúc bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, nhân vật trữ tình khao khát:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Trên cơ sở phân tích những điều đã được bộc bạch trong bài thơ, anh / chị hãy làm sáng tỏ cội nguồn của niềm khát khao đó.

  1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và vấn đề:

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), lúc đó Xuân Quỳnh mới 25 tuổi trẻ trung, yêu đời. Đây là một bài thơ đặc sắc, viết rất hay về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

Khổ cuối của bài là khát vọng lớn lao được dâng hiến hết mình cho tình yêu.

  1. Phân tích cụ thể các vấn đề:

– Trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình, tình yêu làm nên giá trị cuộc đời; tình yêu tạo nên những cung bậc phong phú của mỗi đời người: Dữ dội và dịu êm, Ồn ào và lặng  lẽ. Nhờ tình yêu, con người có khát vọng tìm ra biển lớn , có ý thức xác định cái riêng giữa cái chung: Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể…

– Nhờ tình yêu, trái tim tuổi trẻ ý thức được mình đang tồn tại, đang không ngừng “bồi hồi” “nghĩ” “nhớ” (Bồi hồi trong ngực trẻ; Em nghĩ về anh, em; Lòng em nhớ đến anh). Có tình yêu là có thắc mắc (Từ nơi nào sóng lên); có tình yêu con người trở nên mạnh mẽ, vượt lên mọi thách thức (Con nào chẳng tới bờ, Dù muôn vời cách trở)

– Tình yêu cũng làm cho nhân vật ý thức đuợc sự hữu hạn của đời người (Cuộc đời tuy dài thế, Năm tháng vẫn qua đi), chính tình yêu đã đem lại cho con người sự nhạy cảm khác thường, cảm nhận được về lẽ tồn tại trong không gian và thời gian…

– Tình yêu làm cho cuộc đời của mỗi con người trở nên đáng sống, nhưng quỹ thời gian của mỗi người không phải là vô tận. Tình yêu tuy gắn với mỗi đời người cụ thể nhưng tình yêu còn là một giá trị vĩnh hằng. Do đó, mỗi người cần phải làm gì để sống mãi với tình yêu? Đây chính là cội nguồn của khát vọng:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.

Khát vọng được tan thành trăm con sóng nhỏ chỉ là cách nói thể hiện ước muốn được dâng hiến cuộc đời cho tình yêu. Với một tình yêu bất tử, sự tồn tại mong manh của mỗi đời người không còn đáng sợ.

  1. Đánh giá chung:

– Sóng được viết ra từ những xao động yêu đương của một trái tim tuổi trẻ. Đối diện với muôn ngàn con sóng thật của đại dương, con sóng lòng vỗ lên bao tâm trạng, dự cảm , lo âu và trên hết là khát vọng để Sóng trở thành một ẩn dụ đẹp về tình yêu.

 

ĐỀ SỐ 39. THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỀU LẦN 1

“Văn xuôi những năm kháng chiến chống Mỹ xứng đáng là bản anh hùng ca ca ngợi những con người miền Nam anh hùng, kiên cường, bất khuất, căm thù giặc cháy bỏng, yêu thương quê hương đất nước thiết tha, thủy chung, nghĩa tình son sắt với cách mạng, với kháng chiến”

Qua việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu đã học trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

 Yêu cầu:

– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương.

– Thí sinh có thể lấy dẫn chứng từ 2 tác phẩm tiêu biểu: “ Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành và “ Những đứa con trong gia đình”- Nguyễn Thi.

  1. KHÁI QUÁT CHUNG:

– Ý kiến trên đề cập đến chủ nghĩa anh hùng cách mạng – nguồn cảm hứng chủ đạo trong văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học giai đoạn 1945- 1975.

– Cả hai tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đều gắn bó với cuộc chiến đấu chống Mĩ, là những nhà văn chiến sĩ ở tuyến đầu máu lửa. Tác phẩm của họ mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình tượng nhân vật sinh động, bước vào văn học từ thực tế chiến đấu.

– Hai truyện ngắn “Rừng xà nu” ( 1965), “Những đứa con trong gia đình” (1966) đều  ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi đế quốc Mĩ đổ quân vào miền Nam nước ta, dân tộc ta đứng trước trận chiến một mất một còn để bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ quyền sống. Ra đời trong bối cảnh đó, hai tác phẩm ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với chất sử thi đậm đà.

2 CHỨNG MINH Ý KIẾN:

 * Những con người miền Nam chịu nhiều đau thương, mất mát – nỗi đau tiêu biểu cho đau thương của cả dân tộc. Ở họ, có tình yêu quê hương đất nước và lòng căm thù giặc sâu sắc:

– Tnú phải chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù tra tấn đến chết, bản thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay.

– Chiến và Việt chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc.

=>Những đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng:

+ Tnú lên đường đi “lực lượng” dù mỗi ngón tay mất đi một đốt.

+ Chiến và Việt cùng vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả nợ nước thù nhà là lẽ sống.

=> Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì: chỉ có cầm vũ khí đứng lên, ta mới có thể bảo vệ được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống. Chân lí đó đã được minh chứng qua số phận và con đường cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lí đó cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị, càng phải khắc sâu vào lòng người.

* Những con người miền Nam anh hùng, kiên cường, bất khuất, thủy chung, nghĩa tình son sắt với cách mạng, với kháng chiến:

– Nhân vật Tnú:

+ Từ nhỏ đã gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt được, tra tấn dã man vẫn quyết không chịu khai.

+ Anh vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù.

=> Ở Tnú toát lên vẻ đẹp của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ.

– Nhân vật Việt: bị thương trong trận đánh lại lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé. Còn trước kẻ thù, Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng.

– Nhân vật Chiến: cùng em bắn cháy tàu địch; quyết tâm lên đường trả thù cho gia đình với lời nói như dao chém đá: “Tao đã thưa với chú Năm rồi Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”

– Các nhân vật khác:

+ Cụ Mết: luôn tự hào về buôn làng, về người Strá; luôn dặn dò con cháu giữ niềm tin sắt đá “Cán bộ là Đảng, Đảng còn núi nước mình còn” và quyết tâm chống lại kẻ thù “Chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”

+ Mai: một cô gái gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng đi nuôi cán bộ, thà chết chứ không chịu khai ra chồng ở đâu.

+ Dít: trước súng đạn kẻ thù, đôi mắt nó vẫn bình thản lạ lùng.

+ Ba má Việt và chú Năm: đều nhiệt tình tham gia cách mạng. Đặc biệt, chú Năm là người lưu giữ truyền thống gia đình, là khúc thượng nguồn trong dòng sông lịch sử  gia đình.

=> Cụ Mết, Mai, Dít, Heng trong “Rừng xà nu”; ba, má, chú Năm trong “Những đứa con trong gia đình” đều là những con người yêu quê hương đất nước, gắn bó với buôn làng, với gia đình, với người thân yêu. Tình yêu tổ quốc của họ bắt đầu từ những tình cảm bình dị đó, cho nên nó càng bền bỉ, càng có sức mạnh lớn lao khiến kẻ thù phải run sợ.

Tóm lại, các nhân vật của hai truyện ngắn đều đã vượt lên nỗi đau và bi kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những đau thương của họ cũng chính là đau thương của dân tộc trong những năm tháng chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của họ cũng chính là tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

3 ĐÁNH GIÁ CHUNG:

-Với nghệ thuật miêu tả và khắc họa nhân vật tài tình, các tác giả đã dựng nên những chân dung anh hùng rất sinh động; đồng thời tái hiện lại không khí và tinh thần của dân tộc trong thời đại chống Mĩ cứu nước.

– Qua đó chúng ta cảm nhận được tấm lòng yêu nước của các nhà văn. Họ đã khơi dậy trong mỗi con người Việt Nam lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm với vận mệnh non sông.

 Lưu ý chung: Bài làm có thể trình bày theo những cách khác nhau, dẫn chứng khác nhau nhưng cần làm nổi bật được chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong văn học thời chống Mĩ cứu nước. Bài viết đảm bảo bố cục 3 phần, luận điểm rõ ràng, logic chặt chẽ, không mắc lỗi diễn đạt, dẫn chứng xác thực, không xa rời văn bản.

 

ĐỀ SỐ 40. CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH LẦN 2

Cảm nhận về vẻ đẹp của hình tượng con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp qua hai đoạn thơ sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Quang Dũng, Tây Tiến, SGK Ngữ văn 12, chương trình chuẩn)

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

(Tố Hữu, Việt Bắc, SGK Ngữ văn 12, chương trình chuẩn)

  1. Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

– Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu có sức chinh  phục mạnh mẽ bởi niềm say mê lí tưởng, khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn, tính dân tộc đậm đà.

– Quang Dũng là hồn thơ lãng mạn, hào hoa, yêu tha thiết quê hương đất nước. Tác giả có khuynh hướng khai thác vẻ đẹp bi tráng, hào hùng.

– Việt Bắc và Tây Tiến là những thành tựu xuất sắc của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Cả hai tác phẩm đều khắc họa hình tượng những con người Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến.

Đây là hai đoạn thơ tiêu biểu trong hai bài thơ khắc họa vẻ đẹp của tập thể những con người Việt Nam anh hùng.

  1. Trình bày cảm nhận:

a Chỉ rõ, phân tích điểm tương đồng trong hình tượng tập thể trong 2 đoạn thơ:

– Đều được xây dựng bằng bút pháp sử thi và cảm hứng lãng mạn.

– Cả 2 đoạn đều tái hiện lại một không khí hào hùng, âm vang chiến trận mà trong đó, hình tượng tập thể nổi lên như những người anh hùng có sức mạnh phi thường, hai hình tượng tập thể với phẩm chất anh hùng, dũng cảm, với trái tim yêu nước nồng nàn và sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng, có tâm hồn lãng mạn. Khẳng định lẽ sống cao đẹp sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước.

– Cảm xúc tự hào ngợi ca.

  1. Chỉ ra và phân tích điểm khác biệt trong hình tượng tập thể con người Việt Nam trong hai đoạn thơ:

 * Đoạn thơ trong bài Tây Tiến thể hiện vẻ đẹp của một tập thể anh hùng: hội tụ sức mạnh của tuổi trẻ Việt Nam và mang nét rất riêng của đoàn binh Tây Tiến, vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn của thanh niên trí thức Hà thành. Hình tượng được khắc họa trong mất mát, hi sinh nhưng vẫn hoành tráng, hào hùng; vì vậy, âm hưởng của đoạn thơ là âm hưởng bi tráng.

– Vị trí của đoạn thơ: là đoạn ba của bài thơ. Sau khi khắc họa hình tượng người lính trên những cung đường hành quân, nhà thơ đã khắc họa tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến.

– Đặc điểm của hình tượng:

+ Người lính Tây Tiến được khắc họa một cách chân thực, có những giới hạn không thể vượt qua như bệnh tật, ốm yếu, cái chết: “không mọc tóc”, da “xanh màu lá”, dãi dầu và “về đất”

+ Nhưng họ vẫn thể hiện vẻ đẹp phi thường, hào hùng: dữ oai hùm, mắt trừng.

+ Họ cũng là những thanh niên lãng mạn, hào hoa: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

+ Lí tưởng sống cao đẹp: sự hi sinh tự nguyện: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Qua trí tưởng tượng của Quang Dũng, người lính được khoác trên mình tấm áo bào sang trọng của các chiến tướng mặc khi ra trận, mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cổ điển. Sự ra đi của người lính nhẹ nhàng, thanh thản như là sự trở về với đất mẹ yêu thương. Âm thanh tiếng gầm của dòng sông Mã như khúc tráng ca đưa người lính về nơi an nghỉ. Cảm xúc tiếc thương, đau đớn, nhưng vẫn tràn đầy niềm tự hào.

– Nghệ thuật biểu hiện: sắc thái cổ điển thường thấy trong thể hành, hình ảnh ước lệ, từ Hán Việt, vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng.

 * Đoạn thơ trong bài Việt Bắc: Tập thể anh hùng trong đoạn thơ của bài Việt Bắc hội tụ sức mạnh của cả dân tộc, sức mạnh của quá khứ, được khắc họa trong không khí ra trận, âm hưởng anh hùng ca.

– Nội dung của đoạn trích: là lời người ra đi đáp lại người ở lại, thể hiện nỗi nhớ Việt bắc trong những ngày chiến dịch.

– Đặc điểm của hình tượng tập thể anh hùng trong đoạn thơ:

+ Không gian xuất hiện: những con đường Việt Bắc.

+ Thời gian: ban đêm; cho thấy sự gian khổ, điều bất thường của chiến tranh.

+ Những người lính đông đảo và có sức mạnh lay trời chuyển đất, thể hiện ánh sáng lí tưởng đẹp đẽ, tâm hồn lãng mạn (chú ý các hình ảnh: “rầm rập như là đất rung”, “điệp điệp trùng trùng”, “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”)

+ Đoàn dân công phục vụ chiến dịch được miêu tả trong ánh sáng của ngày hội kháng chiến và ánh sáng của tương lai, họ có trái tim cách mạng rực lửa và sức mạnh san phẳng mọi khó khăn. (Chú ý các hình ảnh: “đỏ đuốc”, “ từng đoàn”, “bước chân nát đá”, “đèn pha bật sáng”)

+ Cảm xúc: tự hào tin tưởng, lạc quan (hình ảnh “Những đường Việt ắc của ta”, “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”).

– Nghệ thuật biểu hiện: những yếu tố thể hiện tính dân tộc trong thơ Tố Hữu: thể thơ lục bát, vận dụng thành ngữ, từ láy, tiểu đối, hình ảnh ước lệ. Đoạn thơ thể hiện xu hướng đổi mới thơ lục bát bằng cảm hứng anh hùng ca và giọng điệu hào hùng; đoạn thơ đã xây dựng hình tượng những con người anh hùng và bút pháp khoa trương mang màu sắc sử thi.

  1. Đánh giá chung:

– Xây dựng hình tượng tập thể anh hùng, hai đoạn thơ góp phần thể hiện đặc điểm của thơ ca cách mạng là khuynh hướng sử thi vẻ đẹp lãng mạn.

– Cùng thể hiện lòng yêu nuớc, đề cao lí tưởng sống cao đẹp của con người.

– Hai đoạn thơ góp phần khẳng định giá trị là bản anh hùng ca cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

 

ĐỀ SỐ 43. THPT ĐỖ ĐĂNG TUYỀN QUẢNG NAM LẦN 1

 Phân tích hình tượng Sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của

Nguyễn Tuân.

 Yêu cầu chung

 – Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giả theo nhiều cahcs khác nhau nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm

 Yêu cầu cụ thể:

  1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– “Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa” (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu”.

– “Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong “ Tùy bút sông Đà”. Trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng con sông Đà vừa hung bạo, dữ dội, là “kẻ thù số một” của con người, vừa là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa – trữ tình, thơ mộng, làm say đắm  lòng người.

  1. PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG SÔNG ĐÀ

a Sông Đà hung bạo, dữ dội:

– Vách đá “đá bờ sông dựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chặt lấy lòng sông hẹp. Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách:

+ “Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”

+ “Con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ can nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ bên này qua bên kia vách…”

-> So sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ và lạ lùng.

– Gió trên sông Đà: “Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …” -> bằng lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp, gợi hình ảnh con sông Đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người.

– Những hút nước ở quãng Tà Mường Vát: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “chỗ giếng nước sâu ặc ặc lên …” những cái hút nước lôi tuột bè gỗ xuống hoặc hút những chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác” -> Lối so sánh độc đáo khiến con sông Đà không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần và uy hiếp con người.

– Âm thanh thác nước sông Đà:

+ Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”, “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…” -> Sự liên tưởng vô cùng phong phú, âm thanh của thác nước sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả không khác gì âm thanh của một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Lấy lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân quả là đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật.

– Trùng vi đá:

+ Trùng vi thạch trận thứ I: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”…

+ Trùng vi thạch trận thứ II: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…

+ Trùng vi thạch trận thứ III: Sông Đà sắp đặt bênphải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.

-> Nhận xét: Với trí tưởng tượng phong phú, những câu văn tài hoa, uyên bác , vận dụng ngôn ngữ của nhiều ngành khác nhau như võ thuật, thể thao, quân sự,…, Nguyễn Tuân đã tái hiện trước mắt người đọc một Sông Đà hung bạo, độc ác không khác gì “kẻ thù số một của con người”.

b Sông Đà trữ tình, thơ mộng

 – Khái quát dòng sông:

+ Sông Đà là bức tranh thủy mặc vương vấn lòng người.

+ Từ trên tàu bay nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo …”

– Màu sắc dòng sông thay đổi theo mùa:

+ “Mùa xuân xanh màu ngọc bích”, khác với sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh hến”.

+ Mùa thu nước sông “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa …”

-> Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ.

– Sông Đà gợi không khí huyền thoại thơ mộng

+ Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ cực kì gợi cảm: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu“ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” …

+ Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa… lặng tờ “như từ Lí, đời Trần, đời Lê”.

=> Nhận xét: Cảnh sông Đà đẹp, thơ mộng, hữu tình và đầy sức sống, làm mê đắm

lòng người.

c Nghệ thuật miêu tả:

– Sông Đà được khắc họa bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, cùng hệ thống từ vựng phong phú, giàu có, thể hiện sự tài hoa uyến bác của Nguyễn Tuân.

– Vận dụng kiến thức phong phú, nhất là ngôn từ ở các ngành quân sự, võ thuật, điện ảnh,… để miêu tả con sông ở nhiều góc độ.

– Sử dụng nhiều câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Hai đặc điểm trên tưởng chừng như đối lập mà hài hòa, thống nhất trong cùng đối tượng. Sông Đà được nhìn nhận như một con người, có tính cách cụ thể, sinh động.

– Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha với thiên nhiên đất nước. Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có. Ông xứng đáng là một cây bút tài hoa bậc nhất của nền văn học Việt Nam.

Lưu ý chung:

  1. Đây là một đáp án mở, thang điểm chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của các phần nội dung lớn nhất thiết phải có.
  2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, điễn đạt lưu loạt, có cảm xúc.
  3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.
  4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng
  5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp, chính tả

 

ĐỀ SỐ 41. THPT CÙ HUY CẬN HÀ NĨNH LẦN 1

Chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn thơ Đất Nước được sử dụng vừa quen thuộc vừa mới lạ. Từ việc cảm nhận về đoạn thơ Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

1 GIỚI THIỆU CHUNG:

– Giới thiệu về: nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, tác phẩm “Mặt đường khát vọng” và đoạn thơ Đất Nước:

+ Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút tiêu biểu trong nền thơ ca kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam.

+ Trường ca “Mặt đường khát vọng” được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

+ Đoạn thơ trên thuộc chương V – chương “Đất nước” của bàn trường ca; thể hiện những nhận thức sâu sắc về đất nước, trong đó nổi bật là hình ảnh đất nước hiện lên trong quan hệ gắn bó với mỗi con người.

– Dẫn dắt nhận định: Chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn thơ Đất Nước được sử dụng vừa quen thuộc vừa mới lạ.

2 CỤ THỂ:

a Nhà thơ đã vận dụng thành công chất liệu văn hóa dân gian. Những chất liệu ấy vừa quen thuộc (gần gũi với cuộc sống của mỗi con người

Việt Nam) vừa mới lạ (với những sáng tạo mới mẻ, hấp dẫn)

– Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng, phong phú, tất cả đều gần gũi, quen thuộc với mỗi con người Việt Nam

+ Có phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than, con cúi,…).

+ Có ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích.

– Cách vận dụng độc đáo, sáng tạo:

+ Vận dụng ca dao, tục ngữ nhưng dẫn dắt khéo léo, khi lấy nguyên vẹn toàn bài khi chỉ mượn ý mượn tứ để khẳng định, tôn vinh những nét đẹp trong sinh hoạt và tâm hồn con người Việt Nam. Đó là sự chăm chỉ chịu thương, chịu khó; là tấm lòng thủy chung son sắt trong tình yêu; là sự duyên dáng, ý nhị trong từng lời ăn tiếng nói…

Ví dụ:

~ “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” lấy ý từ bài ca dao “Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” hay “Muối ba năm muối hãy còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta tình nặng nghĩa dày/ Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”

~ “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

+ “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” lấy ý từ bài ca dao “Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất ”

+ Liệt kê hàng loạt những câu chuyện từ xa xưa trong truyền thuyết, cổ tích dân tộc để làm nổi bật vẻ đẹp trù phú của đất nước, những truyền thống quý báu của nhân dân ta đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc “làm ra Đất Nước”

Ví dụ: Truyến thống đoàn kết, tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”, tinh thần uống nước nhớ nguồn “Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Hoặc tô đậm sự trù phú tươi đẹp của quê hương:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, à Đen, à Điểm”

b Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, có thể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này.

c Bằng việc sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian, bên cạnh việc lí giải, định nghĩa Đất Nước ở nhiều bình diện [không gian, thời gian lịch sử, truyền thống văn hóa] nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn làm nổi bật một tư tưởng mới mẻ: “Đất Nước của nhân dân/ Đất Nước của ca dao thần thoại”

3 ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Nhận định được nêu ra trong bài là một cơ sở quan trọng để khám phá, tìm hiểu tác phẩm nói chung và đoạn thơ nói riêng. Quan đoan trích, ta thấy được tư tưởng sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ kết tinh tư tưởng yêu nước, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ, cũng là đóng góp lớn của ông đối với thơ ca dân tộc. Đoạn thơ khẳng định tài năng sáng tạo, sự am hiểu tường tận về văn hóa dân gian của tác giả.

– Thành công đòi hỏi ở nhà thơ Nguyễn Khoa Điểm một vốn sống, vồn văn hóa phong phú. Một sự nhận thức sâu sắc, mới mẻ về Đất nước, về Nhân Dân. Đồng thời đời hỏi ở nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có một tài năng, một bản lĩnh của người cầm bút.

– Qua đoạn thơ, để lại bài học sâu sắc về cuộc sống: biết trân trọng những giá trị văn hóa dân gian; bài học về sáng tạo nghệ thuật: đem đến những sáng tạo, mới mẻ từ những giá trị gần gũi, quen thuộc.

Yêu cầu về kĩ năng:

– Thí sinh có thể phân tích tác phẩm theo mạch suy luận về Đất Nước nhưng cần tập trung làm rõ yêu cầu trọng tâm đề

– Biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt mạch lạc, có cảm xúc, dẫn chứng phù hợp.

 

ĐỀ SỐ 42. THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI HÀ TĨNH LẦN 1

“Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca doa thần thoại”

Hãy phân tích đoạn trích “ Đất Nước” trích trường ca “ Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm để là sáng tỏ ý thơ trên?

Yêu cầu chung

– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giả theo nhiều cahcs khác nhau nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm

 Yêu cầu cụ thể:

  1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ. Thơ ông hấp dẫn người đọc ở sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam.

– “ Đất Nước” thuộc phần đầu chương V của trường ca “ Mặt đường khát vọng”. Đây đuợc xem là chương hay và sâu sắc nhất. Tác giả chia đoạn thơ thành 5 khổ, mỗi khổ ứng với một luận điểm, nhưng đều nhằm một mục đích đó là làm sáng tỏ tư tưởng: “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Chính luồng tư tưởng này đã thôi thúc tuổi trẻ các tỉnh Miền Nam tham gia chiến đấu giành độc lập cho nước nhà và khơi dậy niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta.

  1. GIẢI THÍCH Ý KIẾN:

 Tư tưởng “ Đất Nước của Nhân dân”, “ Đất nước của ca dao thần thoại”.

– Đất Nước một đề tài lớn, một hình tượng trữ tình rất đẹp trong thơ ca Việt Nam, nhưng ở mỗi giai đoạn văn học, mỗi thời kì lịch sử, mỗi tác giả, tác phẩm thì hình tượng ấy lại mang những tư tưởng riêng, lấp lánh màu sắc thẩm mĩ riêng.

– Với Nguyễn Khoa Điềm:

+ “Đất Nước của Nhân Dân” biểu hiện qua chiều dài lịch sử, chiều rộng không gian địa lí, bề dày truyền thống văn hóa và khẳng định Nhân dân chính là người làm ra Đất Nước.

+ “Đất Nước của ca dao, thần thoại” biểu hiện qua giọng tâm tình thủ thỉ và việc sử dụng chất liệu văn hóa dân gian.

  1. PHÂN TÍCH , CHỨNG MINH Ý KIẾN:
  2. Tư tưởng Đất nước của nhân dân:

 Đất nước được nhà thơ nhìn nhận và thể hiện qua bề rộng không gian địa lí.

– Theo cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, “Đất Nước” là không gian vô cùng gần gũi thân thương, gắn liền với những sinh hoạt đời thường của con người, gắn bó với là bao kỉ niệm của tình yêu đôi lứa:

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

– Đất nước là không gian sinh tồn của cộng đồng người Việt qua các thế hệ được tạo lập từ thuở sơ khai với truyền thuyết:

“Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở …”

– Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục suy tư về Đất Nước qua bề rộng lãnh thổ:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu …

Những người dân nào đã góp nên tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”

Đất nước được thể hiện và cảm nhận trong chiều dài lịch sử

– Đất Nước có từ xa xưa, gắn với lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc mà sự bắt đầu rất đỗi giản dị, thân thương: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi… miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước được thể hiện ở bề sâu văn hóa dân tộc qua cái nhìn đầy tự hào của thanh niên yêu nước:

– Đất Nước gắn liền với những phong tục tập quán trong sinh hoạt đời thường: câu chuyện mẹ kể, miếng trầu bà ăn, thói quen “bới tóc sau đầu”,”hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng ”

– Khẳng định những truyền thống quý báu của dân tộc: lối sống tình nghĩa, thủy chung “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”, biết ơn nguồn cội “Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”, sự cần cù trong lao động, anh dũng trong đấu tranh bảo vệ độc lập ” iết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu”,…

 Tác giả khẳng đinh “Đất Nước của Nhân Dân” bởi ông đã nhìn ra vai trò to lớn của Nhân dân trong việc “làm ra Đất Nước”:

– Trước hết, nhà thơ khẳng định “Đất Nước là máu xương của mình” để nhấn mạnh sự gắn bó khăng khít giữa mỗi cá nhân với Đất Nước, trách nhiệm của mỗi người trong việc dựng xây, bảo vệ Đất Nước.

– Nhà thơ khẳng định chính những con người nhỏ bé, bình dị đã hóa thân vào Đất Nước:

“Những người vợ nhớ chống

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”

– Họ là những con người vô danh vẫn ngày đêm âm thầm lập chiến công và lưu giữ, truyền lại những giá trị vật chất, tinh thần cho con cháu mai sau, để Đất Nước trường tồn:

“Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Có nội thù thì vùng lên đánh bại”

– Cách nói về Đất Nước: giản dị tự nhiên đậm màu sắc dân gian. Đất nước hiện lên từ những cái “ngày xửa ngày xưa….”, trong những câu chuyện cổ tích mẹ kể có ông Bụt, bà Tiên, cô Tấm thảo hiền, có sự tích trầu cau, Thánh Gióng, …

b Đất nước của ca dao thần thoại:

Giọng thơ thủ thỉ tâm tình như lời trò chuyện giữa “anh – em” tạo nên âm vang ngân nga, sâu lắng, thiết tha và trang trọng về Đất Nước.

Sử dụng ở mức độ đậm đặc và rất hiệu quả các chất liệu văn hóa dân gian:

– Nguyễn Khoa Điềm đã đưa người đọc vào một thế giới ngọt ngào, bay bổng, đậm chất thơ với những cổ tích, ca dao, thần thoại của dân tộc khiến hình anh Đất Nước càng trở nên gần gũi, thân thuộc. (hình ảnh “miếng trầu”, “gừng cay muối mặn”, “đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”,…)

– Đọc đoạn thơ ta còn thấy hiện lên một Đất Nước giàu bản sắc với những phong tục tập quán rất riêng: tục ăn trầu, búi tóc, giã gạo, giỗ Tổ,…

c Nghệ thuật thơ:

– Lối thơ giàu chất suy tưởng, giọng thơ đầy chất trữ tình – chính trị, sâu lắng, thiết tha.

– Vận dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian.

– Thể thơ tự do phóng khoáng, phù hợp với việc biểu lộ cảm xúc.

4 Đánh giá chung:

– Đoạn thơ cho thấy tư tưởng về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm vừa có sự kế thừa truyền thống, vừa mang tinh thần của thời đại. Nó góp phần làm phong phú, mới mẻ những khám phá về Đất Nước trong thơ ca thời chống Mĩ; khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân với vận mệnh non sông.

– Đoạn thơ bộc lộ rõ nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của ông.

 

ĐỀ SỐ 43. SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC LẦN 1

Về nhân vật ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa”. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: “Ông lái đò là một người lao động bình thường”

VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– “Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa” (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu”.

– “Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong “ Tùy bút sông Đà”. Với khát khao truy tìm “chất vàng mười của tâm hồn vùng Tây Bắc” – “thứ vàng mười đã được thử lửa” (Đi mở đường), Nguyễn Tuân đã viết lên bài ca cuộc sống của con người và thiên nhiên Tây Bắc với nhiều nét độc sáng mới lạ.

GIẢI THÍCH Ý KIẾN

Ý kiến “Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa”

“ Ông lái đò là một người lao động bình thường”

– Người nghệ sĩ tài hoa là những người có rung động tâm hồn mãnh liệt trước mọi vui buồn của đời sống và có khả năng thể hiện những rung động ấy bằng những phương tiện nghệ thuật đặc thù. Ở ý kiến trên, người nghệ sĩ tài hoa được hiểu là người đạt tới trình độ điêu luyện trong nghề nghiệp và có đời sống tâm hồn đậm chất nghệ sĩ.

– Người lao động bình thường là người lao động thầm lặng, vô danh, không tên tuổi giống như bao người lao động khác trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

– Khẳng định 2 ý kiến trên bổ sung cho nhau, làm hoàn thiện chân dung, tính cách người lái đò sông Đà.

CHỨNG MINH- BÌNH LUẬN Ý KIẾN

* Ông lái đò – một nghệ sĩ tài hoa

– Ông lái đò có tính cách phóng khoáng, thích đối mặt với thử thách, mạo hiểm, gian nguy.

– Ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.

– Cuộc băng ghềnh vượt thác ngoạn mục đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một “tay lái ra hoa”:

+ Vòng vây thứ nhất, sông Đà bày ra nhiều cạm bẫy. Ông lái đò bị sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm. Nhưng bằng tinh thần dũng cảm, ông đã tỉnh táo chỉ huy sáu bơi chèo, chiến thắng trùng vi thạch trận đầy nguy hiểm.

+ Vòng vây thứ hai, sông Đà thay đổi chiến thuật. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, xác định đúng cửa sinh và chiến thắng thằng đá tướng đứng chiến ở cửa giữa.

+ Vòng vây thứ ba, sông Đà tiếp tục thay đổi chiến thuật, bên phải bên trái đều là cửa tử. Ông lái đò phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Thế là hết thác.

* Ông cũng là một người lao động bình thường:

– Ông lái đò sinh ra bên bờ sông Đà và gắn bó với nghề sông nước như bao người lái đò khác nơi thượng nguồn sông Đà khuất nẻo.

– Đời sống tâm hồn giản dị: không nói nhiều về chiến công; dù đi đâu cũng luôn nhớ về nương ruộng, bản mường.

* Nghệ thuật thể hiện:

– Ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, tài hoa; kết hợp kể với tả nhuần nhuyễn và đặc sắc, nghệ thuật khắc họa nhân vật độc đáo, sáng tạo.

– Bút pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo, thú vị; vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật góp phần miêu tả cuộc chiến hào hùng và khẳng định vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.

ĐÁNH GIÁ:

– Qua cảm nhận hình tượng ông lái đò, có thể thấy, ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa trên sông nước; đồng thời, cũng là một người lao động giản dị bình thường.

– Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau đem đến một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về nhân vật.

 

ĐỀ SỐ 44. THPT THIỆU HÓA THANH HÓA

Về bài thơ “ Sóng” của Xuân Quỳnh, có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ thể hiện quan niệm rất mới mẻ và hiện đại của Xuân Quỳnh về tình yêu”. Nhưng lại có ý kiến khác cho rằng “Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu mang tính truyền thống

Từ cảm nhận về bài thơ “ Sóng” , hãy bình luận những ý kiến trên?

1 GIỚI THIỆU CHUNG:

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), lúc đó Xuân Quỳnh mới 25 tuổi trẻ trung, yêu đời. Đây là một bài thơ đặc sắc viết rất hay về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

2 CỤ THỂ:

2.1 Giải thích ý kiến:

 – Ý kiến thứ nhất: “ Bài thơ thể hiện quan niệm rất mới mẻ và hiện đại của Xuân Quỳnh về tình yêu”

Quan niệm mới mẻ, hiện đại là quan niệm ngày nay, quan niệm của những người có đời sống văn hóa, tinh thần không bị ràng buộc bới ý thức hệ tư tưởng phong kiến.

Về tình yêu, sự mới mẻ, hiện đại thể hiện ở: chủ động bày tỏ những khát khao yêu  đương mãnh liệt, khát vọng mạnh mẽ táo bạo về những rung động rạo rực cảm xúc trong lòng, tin vào sức mạnh của tình yêu.

– Ý kiến thứ hai: “bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu mang tính truyền thống”

Quan niệm truyền thống là quan niệm có từ xa xưa, được bảo tồn trong đời sống hiện đại. Trong tình yêu, nó được thể hiện ở những nét đẹp truyền thống: đằm thắm, dịu dàng, thủy chung,…

=> Khẳng định: hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau làm nên vẻ đẹp của bài thơ: bài thơ thể hiện quan niệm của Xuân Quỳnh về tình yêu rất mực mới mẻ, hiện đại lại mang vẻ đẹp truyền thống.

2.2 Cảm nhận:

a Bài thơ thể hiện quan niệm mới mẻ hiện đại của Xuân Quỳnh về tình yêu:

– Đó là một tình yêu với nhiều cung bậc phong phú, đa dạng: dữ dội, ồn ào, dịu êm, lặng lẽ.

– Đó là sự mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và rung động rạo rực trong lòng mình “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể” So sánh: không còn sự thụ động, chờ đợi tình yêu mà chủ động, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt.

– Người con gái dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời.

b Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu mang tính truyền thống:

– Nỗi nhớ thương trong tình yêu được thể hiện qua hình tượng sóng và em “Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức” Nỗi nhớ thường trực, da diết, mãnh liệt suốt đêm ngày.

– Tình yêu gắn liền với sự chung thủy: Với em không chỉ có phương Bắc, phương Nam mà còn có cả “phương anh”. Đó là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư.

– Tình yêu gắn với khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc: Cũng như sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, người phụ nữ trên hành trình đi tìm hạnh phúc cho dù lắm chông gai nhưng vẫn tin tưởng sẽ cập bến.

c Nghệ thuật biểu hiện:

– Thể thơ năm chữ, nhịp điệu thơ đa dạng, linh hoạt tạo nên âm hưởng của những con sóng: lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm rất phù hợp với việc gởi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái tình cảm phức tạp của tâm hồn.

– Cấu trúc bài thơ được xác lập theo kiểu đan xen giữa hình tượng sóng – bờ, anh -em cũng góp phần làm nên nét đặc sắc cho bài thơ.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Hai ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu, thể hiện rõ những quan niệm mang tính mới mẻ, hiện đại, thậm chí táo bạo, chân thực, mãnh liệt, nồng nàn, đắm say của Xuân Quỳnh về tình yêu. Nhưng mặt khác. Quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh có cốt rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc vì thế thơ Xuân quỳnh nói chung và bài thơ “Sóng” nói riêng tạo sự đồng điệu trong nhiều thế hệ độc giả.

– Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm. “Sóng” xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ tình hiện đại Việt Nam nói chung.

 

ĐỀ SỐ 45. THPT A NGHĨA HƯNG NAM ĐỊNH LẦN 1

Bàn về bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh , có ý kiến cho rằng: Bài thơ đã thể hiện được một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời. Nhưng lại có ý kiến khác cho rằng: Tình yêu mà Xuân Quỳnh thể hiện trong bài thơ mang tính hiện đại như tình yêu hôm nay.

Bằng việc cảm nhận bài thơ “Sóng”, anh/chị hãy bình luận về hai ý kiến trên.

  1. KHÁI QUÁT:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

  1. CỤ THỂ:

2.1. Giải thích ý kiến:

 – Giải thích:

+ “Tính chất truyền thống…”: có từ xưa, được bảo tồn trong cuộc sống hiện đại, trở thành nét đặc trưng về tinh thần, văn hóa của cộng đồng, dân tộc…

+ “Tính hiện đại…”: thời đại ngày nay, con người có đời sống văn hóa, tinh thần tự do, dân chủ, không bị ràng buộc bởi những hệ tư tưởng phong kiến.

– Hai ý kiến đề bài đưa ra đều đúng, bổ sung cho nhau, làm nên vẻ đẹp hoàn thiện của tình yêu mà Xuân Quỳnh muốn thể hiện.

2.2. Phân tích ý kiến:

  1. “Bài thơ đã thể hiện được một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời”.

– Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách: (nỗi nhớ tràn ngập không gian, thời gian; cả ý thức lẫn vô thức: “cả trong mơ còn thức”)

– Tình yêu gắn liền với sự chung thủy: Với em không chỉ có phương Bắc, phương Nam mà còn có cả “phương anh”. Đó là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư.

– Tình yêu gắn với khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc: Cũng như sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, người phụ nữ trên hành trình đi tìm hạnh phúc cho dù lắm chông gai nhưng vẫn tin tưởng sẽ cập bến.

  1. “Tình yêu mà Xuân Quỳnh thể hiện trong bài thơ mang tính hiện đại như tình yêu hôm nay”

– Tình yêu là trạng thái tâm lí phong phú, đa dạng, luôn chứa đựng những biến động, thao thức thất thường, vừa nồng nàn, táo bạo, tha thiết, vừa tỉnh táo, đắm say “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”

– Trong tình yêu người phụ nữ không cam chịu, nhẫn nhục mà luôn chủ động, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt, đồng cảm, bao dung“Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”

– Người con gái dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời.

  1. Nghệ thuật:

– Bài thơ có âm hưởng vừa dạt dào, sôi nổi, vừa êm dịu, lắng sâu. Kết cấu song trùng hai hình tượng sóng và em giúp người phụ nữ biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn và những quan niệm về tình yêu vừa mới mẻ, hiện đại, vừa sâu sắc, mang tính truyền thống.

– Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, cách ngắt nhịp linh hoạt, nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ được sử dụng sáng tạo, tài hoa.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Hai ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu, thể hiện rõ những quan niệm mang tính mới mẻ, hiện đại, thậm chí táo bạo, chân thực, mãnh liệt, nồng nàn, đắm say của Xuân Quỳnh về tình yêu. Nhưng mặt khác. Quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh có cốt rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc vì thế thơ Xuân quỳnh nói chung và bài thơ “Sóng” nói riêng tạo sự đồng điệu trong nhiều thế hệ độc giả.

– Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm. “Sóng” xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ tình hiện đại Việt Nam nói chung.

 

ĐỀ SỐ 46. THPT HÒN GAI QUẢNG NINH

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Tôi buộc lòng tôi với người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạch khối đời

(Từ ấy – Tố Hữu)

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

(Sóng – Xuân Quỳnh)

KHÁI QUÁT:

-Giới thiệu về Tố Hữu với bài thơ “Từ ấy” và Xuân Quỳnh với bài thơ “Sóng”.

+ Tố Hữu – một nhà thơ lớn của nền văn học Cách mạng Việt Nam. Hồn thơ Tố Hữu bắt gặp và gắn bó với lí tưởng Cách mạng từ rất sớm. “Từ ấy” là một bài thơ hay, đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng và cuộc đời ông.

+ Xuân Quỳnh – một hồn thơ nữ vừa đằm thắm, dịu dàng vừa sâu sắc, mãnh liệt – một gương mặt tiêu biểu của thơ ca thời kì chống Mĩ. “Sóng” là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất cho hồn thơ Xuân Quỳnh.

-Trích dẫn hai đoạn thơ.

PHÂN TÍCH:

  1. Đoạn thơ trong bài thơ “Từ ấy”

“Tôi buộc lòng tôi với người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạch khối đời”

Đây là khổ 2 của bài thơ, là lời thề hứa nguyện gắn bó suốt đời với lí tưởng Cách mạng của nhà thơ.

-“Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu: đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam.

– Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống – Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”, mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.

=> Lời thơ nống nàn, tha thiết, sôi nổi, nghệ thuật điệp “tôi”, ” để” đã cho thấy sự say mê lí tưởng và sự trưởng thành của nhà thơ: Cái Tôi nhà thơ đã hòa nhập với với cái ta chung.

  1. Đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Đoạn thơ là khổ cuối của bài “Sóng”, là khao khát hòa nhập trong tình yêu của Xuân Quỳnh.

– Đây là một khát khao đầy nữ tính. Xuân Quỳnh mơ ước được “tan ra” như “trăm con sóng nhỏ” giữa biển lớn tình yêu, nghĩa là quên mình, hi sinh cho người mình yêu và cho tình yêu của mình. Tan ra mà không mất đi, ngược lại nó biết rằng mình sẽ còn mãi, sẽ ngàn năm còn vỗ.

– Những cặp khái niệm những tưởng đối lập nhau: “sóng” – “bờ”, “sóng” – “biển”, “tan ra” – “còn vỗ”…thật ra lại rất thống nhất. Đây là hành trình đi đến cõi bất tử của tình yêu.

– Hình ảnh “biển lớn tình yêu” trong thơ Xuân Quỳnh mang một ý nghĩa thật đẹp đẽ. Tình yêu của mỗi cá nhân con người sẽ thật nhỏ bé, mong manh và nhiều khi trở nên vô nghĩa, phù phiếm nếu nó không gắn với cuộc đời rộng lớn. Nghĩa là Xuân Quỳnh đã đi từ thế giới của cái tôi đến thế giới của cái ta, đã mang hạnh phúc của lứa đôi hòa vào hạnh phúc của muôn người.

=> Lời thơ rất ngắn gọn mà hàm súc, cho ta thấy vẻ đẹp nữ tính và sự sâu sắc của hồn thơ Xuân Quỳnh

ĐÁNH GIÁ:

– Hai đoạn thơ thuộc hai bài thơ khác nhau, do hai nhà thơ sáng tác, tưởng chừng như khác biệt nhưng thực ra lại có điểm tương đồng: Tố Hữu và Xuân Quỳnh đã gặp gỡ nhau khi hi sinh bản thân mình, gắn cái “tôi” với cái “ta”, gắn tình cảm cá nhân với tình cảm cộng đồng.

– Tuy nhiên ở mỗi đoạn thơ, các nhà thơ lại gửi gắm những tâm tư khác nhau:

+ Tố Hữu hi sinh bản thân cho Tổ quốc, cho nhân dân cần lao còn Xuân Quỳnh lại quên mình, hi sinh cho người mình yêu và cho tình yêu của mình.

+ Nếu Tố Hữu gắn bó đời mình với nhân dân lao động, thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân thì Xuân Quỳnh lại gắn tình yêu cá nhân với cuộc đời rộng lớn, mang hạnh phúc cá nhân hòa vào hạnh phúc của muôn người.

-Sở dĩ có sự khác biệt là do yếu tố thời đại, sự khác biệt về tư tưởng, phong cách của mỗi nhà thơ.

Lưu ý: Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.

 

ĐỀ SỐ 47. CHUYÊN NGUYỄN HUỆ YÊN BÁI

Có ý kiến cho rằng: Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi tình nghĩa cách mạng sâu nặng, sắt son, vừa là bản hùng ca tráng lệ về nhân dân Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến.

Qua đoạn trích học, anh(chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

1 KHÁI QUÁT CHUNG:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tố Hữu là cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam với phong cách thơ trữ tình chính trị. “Việt Bắc”là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu…

– Trích dẫn ý kiến: Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi tình nghĩa cách mạng sâu nặng, sắt son, vừa là bản hùng ca tráng lệ về nhân dân Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến.

2 CỤ THỂ:

2.1 Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu là khúc tình ca ca ngợi tình nghĩa cách mạng sâu nặng, sắt son

– Tình cảm lưu luyến vấn vương được thể hiện qua đoạn đầu của bài thơ: lối hát đối đáo giao duyên, sử dụng đại từ nhân xưng “mình”-“ta” đầy thân mật, biện pháp điệp ngữ “Mình về có nhớ”, “Mình đi có nhớ”… (Phân tích 8 câu thơ đầu)

– Lối sống ân nghĩa, ân tình được thể hiện qua hàng loạt những kỉ niệm của tác giả về những năm tháng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ của đồng bào Việt Bắc. (Phân tích đoạn thơ “Mình đi có nhớ…” hoặc “Ta đi ta nhớ những ngày/ Mình đây ta đó…”)

– “Việt Bắc” là bản tình ca ca ngợi vẻ đẹp của cảnh và con người Việt Bắc (Cảnh Việt Bắc đẹp, hài hòa đường nét, màu sắc, âm thanh, hài hòa giữa cảnh và người. Con người Việt Bắc đẹp trong lối sống, đẹp trong lao động…) (Phân tích bức tranh tứ bình)

2.2 “Việt Bắc” là bản hùng ca tráng lệ về nhân dân Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến

– Phần sau của bài thơ là một Việt Bắc hào hùng trong chiến đấu: khung cảnh sử thi, giọng điệu dồn dập, âm hưởng hào hùng, những hoạt động sôi nổi…góp phần diễn tả sức mạnh và khí thế chiến đấu của cuộc kháng chiến.

– Sức mạnh của cuộc kháng chiến được bắt nguồn từ lòng căm thù “miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”, từ tinh thần đoàn kết, từ lối sống ân tình “mình đay ta đó đắng cay ngọt bùi”…

– Một dân tộc đã vượt qua đau thương để lập hàng loạt chiến công, để Việt Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng.

(Phân tích “Những đường Việt Bắc của ta…tàn lửa bay” và “Những khi giặc đến  giặc lùng…”)

2.3 Lí giải:

Nói Việt Bắc vừa là một bản anh hùng ca, vừa là một bản tình ca là khẳng định sự hòa quyện giữa sử thi và trữ tình.

+ Ra đời ở một bước ngoặt lớn lao của lịch sử dân tộc, vậy nên bài thơ mang tính chính trị là điều dễ hiểu.

+ Thắm thiết chất trữ tình là bởi bài thơ cùng một lúc nói được nhiều tình cảm của con người cách mạng và kháng chiến. Đó là tình yêu nước lớn lao, cụ thể trong trích đoạn: yêu nước chính là yêu Việt Bắc – cái nôi của phong trào cách mạng, chiến khu của kháng chiến trường kì. Đó là tình yêu thiên thiên Việt bắc hùng vĩ và thơ mộng, con người Việt bắc nghèo khổ, mộc mạc mà nghĩa tình sâu ặng. Đó là lòng biết ơn, niềm kính yêu Đảng và lãnh tụ. Đó là nghĩa tình thủy chung với cội nguồn, với cách mạng và kháng chiến…

3 ĐÁNH GIÁ:

– Khẳng định lại: bài thơ “Việt Bắc” là bản tình ca và cũng là bản hùng ca ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến.

– Khẳng định vị thế của bài thơ bây giờ và mãi mãi về sau.

 

ĐỀ 48. THPT MỸ ĐỨC A

Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh có đoạn:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

 

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

 

Ở ngoài kia đại dương

Trăm nghìn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở”

Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ trên và từ đó nói lên suy nghĩ của bản thân về tình yêu của tuổi trẻ hôm nay?

  1. Đặt vấn đề (Giới thiệu đôi nét về tác giả Xuân Quỳnh, bài thơ “Sóng”, đoạn trích)

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ ca kháng chiến chống Mĩ; một hồn thơ vừa nhiều trắc ẩn vừa hồn nhiên, tươi tắn, chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

– “Sóng” tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh và được coi là bài thơ đi cùng năm tháng bởi nó có trong túi thơ của bất cứ người con gái đang yêu nào, ở bất cứ thời đại nào.

– Vấn đề cần nghị luận: đoạn thơ thuộc khổ 5, 6, 7 của bài, là tiếng nói của một trái tim yêu chân thành, sâu sắc, mãnh liệt, luôn khao khát hướng tới hạnh phúc trọn vẹn, vượt qua mọi giông tố cuộc đời.

  1. Giải quyết vấn đề
  2. Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ
  3. H/s chuyển dẫn được vấn đề bằng một trong các cách sau:

– Thể thơ và hình tượng thơ.

– Khái quát được nội dung của những đoạn thơ trước.

– Đề tài tình yêu trong thơ ca xưa và nay.…

  1. Khổ đầu:

 Nội dung: Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ

* Hình tượng sóng: “Con sóng…ngủ được”

– Không gian nào: “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”

– Thời gian nào: “ngày” cũng như “đêm”

=> Sóng bồn chồn thao thức “không ngủ được” vì “nhớ bờ”. Nỗi nhớ triền miên, thường trực suốt đêm ngày.

* Tình cảm của người thiếu nữ: “Lòng em…còn thức”

– Lấy không gian và thời gian để đo nỗi nhớ của em

– “Trong mơ” và “còn thức”: cả trong thực và trong mộng, em vẫn “nhớ đến anh”. Hình ảnh người yêu luôn ngự trị trong trái tìm cuả người thiếu nữ, nó len lỏi cả vào trong giấc mơ, trong tiềm thức.

Nghệ thuật:

– Các động từ – vị ngữ: “nhớ bờ”, “không ngủ được” được Xuân Quỳnh dung rất đắt, tinh tế và biểu cảm, đem đến cho người đọc những cám xúc rất đẹp về tình yêu.

– Cấu trúc song hành đối xứng và điệp ngữ làm cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hòa, âm điệu nhạc điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, say đắm, ngọt ngào.

– Sóng đã được nhân hóa mang hồn em và tình em. Từ cảm thán “ôi” xuất hiện trong đoạn thơ như một tiếng lòng.

=> Sóng trên đại dương là biểu tượng cho sự sống muôn đời, cũng như tình yêu của “em” đối với “anh” mãi mãi là nỗi khao khát nhớ thương, mong đợi trong không gian, trong thời gian.

  1. Khổ thơ thứ hai:

 Nội dung : Tình yêu gắn liền với sự thủy chung

– Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược”: tình yêu có muôn vàn cách trở, có gặp phải những trở ngại…

– “Phương bắc”, “phương nam” : không gian xa cách

=> Tác giả khẳng định lòng thủy chung: dù ở phương nào, nơi nào cũng chỉ hướng về nơi anh, về phương anh

Nghệ thuật

– Điệp từ, điệp cấu trúc ngữ pháp góp phần tạo nên nhịp điệu nồng nàn, say đắm, thích hợp cho việc diễn tả nỗi nhỡ mãnh liệt

– Dưới hình thức nói ngược tác giả muốn khẳng định dù vật đổi sao rời, dù xuôi hóa ngược, dù cho ở đâu, em như kim chỉ nam, em luôn hướng về anh

  1. Khổ thơ thứ ba:

 Nội dung: Tình yêu gắn liền với khát vọng, niềm tin

– Những con sóng ở đại dương dù gió xô bão táp tới phương nào đi chăng nữa thì cuối cùng sóng vẫn trở về với bờ.

– Em cũng như sóng, cho dù gặp bao khó khăn em cũng sẽ vượt qua hết để đến với anh, bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh

Nghệ thuật:

– Sử dụng số từ “trăm nghìn”, Giả thiết “dù”: để khẳng định “con nào chẳng tới bờ” về: đặc điểm, vẻ đẹp của sóng.

– “Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của “em”, là hiện thân của cái tôi trữ tình. Sóng nói hộ người con gái đang yêu những điều thầm kín nhất.

e Tiểu kết: Qua đoạn thơ ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người con gái đang yêu, vừa có nét truyền thống – chung thủy, khao khát hạnh phúc mãnh liệt, vừa có nét hiện đại: chủ động bày tỏ tình yêu.

* Thí sinh mở rộng được vấn đề bằng cách so sánh đối chiếu nỗi nhớ trong văn học dân gian hoặc văn học viết. Từ đó thấy được một cách nói mới mẻ, một cách diễn đạt độc đáo của Xuân Quỳnh khi thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu.

  1. Liên hệ thực tế: Tình yêu của tuổi trẻ hôm nay

– Tuổi trẻ hôm nay vẫn phát huy được những vẻ đẹp của tình yêu trong bài thơ như:

+ Sự thuỷ chung trong tình yêu

+ Niềm khát khao, tin tưởng vào một tình yêu đích thực

+ Chủ động vươn tới một tình yêu tốt đẹp

– Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ các bạn trẻ có quan niệm sai lầm trong tình yêu. Họ sống thực dụng, không trân trọng những giá trị truyền thống đẹp đẽ của tình yêu. Cần phải phê phán hiện tượng này. ( Học sinh lấy dẫn chứng thực tế và phân tích để làm sáng tỏ luận điểm)

– Thí sinh rút ra được bài học cho bản thân.

III. Kết thúc vấn đề

– Khẳng định lại vẻ đẹp của tình yêu được thể hiện trong đoạn thơ.

– Ý nghĩa của bài thơ trong việc bồi đắp tâm hồn của tuổi trẻ.

 

ĐỀ SỐ 49. THPT CẨM LÝ BẮC GIANG

“Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn”

(“Đàn ghi ta của Lorca”- Thanh Thảo, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2014)

Thanh Thảo là nhà thơ luôn khao khát cách tân và có cảm hứng đặc biệt với những con người có nhân cách cao quý, vĩ đại. Anh/chị có thấy đặc điểm đó thể hiện trong đoạn thơ trên không? Hãy phân tích và lí giải.

1 KHÁI QUÁT:

– Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca thời kì kháng chiến chống Mĩ, cũng là một cây bút luôn nỗ lực cách tân trong nghệ thuật, nổi bật là sự tìm kiếm cách biểu đạt mới cho thơ. Thơ ông giàu nhạc tính, hàm súc, đa nghĩa.

– “Đàn ghi ta của Lorca” là một trong những sáng tác tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Thanh Thảo.

– Sáu dòng thơ đầu đã thể hiện khao khát cách tân và cảm hứng đặc biệt với những con người có nhân cách cao quý, vĩ đại của Thanh Thảo.

2 CỤ THỂ:

2.1 Những cách tân nghệ thuật của Thanh Thảo:

a Thể thơ:

– Đoạn thơ cũng như cả bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Tất cả các dòng thơ nối tiếp nhau, không viết hoa ở những chữ đầu dòng. Đây là một dụng ý nghệ thuật của Thanh Thảo. Nó tạo ra sự liền mạch, liên tiếp của hình ảnh, cảm xúc. Dường như Thanh Thảo đã đưa âm nhạc vào thơ.

b Từ ngữ, hình ảnh thơ:

Các hình ảnh xuất hiện trong khổ thơ này lúc đầu tưởng như rời rạc, phi lí (đây cũng là biểu hiện của thơ tượng trưng siêu thực) nhưng mạch ngầm liên kết giữa chúng lại tạo ra một trường nghĩa sâu sắc:

– Hình ảnh “Những tiếng đàn bọt nước” đã thể hiện rất rõ dấu ấn của thơ tượng trưng siêu thực trong cảm nhận, liên tưởng của nhà thơ. Âm thanh đã mang một hình hài cụ thể hay Thanh Thảo đã nhìn ra hình ảnh trong âm thanh? Tiếng đàn chính là linh hồn, sinh mệnh, của Lorca. Khi đọc câu thơ này cả thính giác và vị giác của ta đều được huy động “Tiếng đàn bọt nước” là biểu hiện cho cái đẹp mong manh mà bất tử.

– Hình ảnh “áo choàng đỏ gắt” gợi nhắc đến môn thể thao lừng danh của đất nước Tây Ban Nha, vừa mạo hiểm, vừa hấp dẫn: đấu bò tót. Đồng thời nó còn làm hiện lên hình ảnh một đấu trường đẫm máu giữa Lorca và nền chính trị độc tài.

– Hình ảnh “tiếng đàn bọt nước”, “áo choàng đỏ gắt”, “vầng trăng chếnh choáng”, “yên ngựa mỏi mòn” kết hợp với nhau tạo thành vẻ đẹp riêng của nền văn hóa Tây Ban Nha. Đất nước Tây Ban Nha xinh đẹp với những trận đấu bò tót rực lửa, với tiếng ghi ta say đắm lòng người đã nổi tiếng trên toàn thế giới. Hình ảnh người nghệ sĩ Lorca – một nghệ sĩ được coi là vĩ đại nhất của Tây ban Nha thế kỉ XX đã được khắc họa trên phông nền văn hóa của dân tộc mình như thế.

– Chuỗi âm thanh “li-la li-la li-la” đã mô phỏng khúc dạo đầu của một bản ghi ta.Nhưng li-la còn là tên một loài hoa mang sắc tím rất dịu dàng mà phương Tây yêu thích – hoa tử đinh hương. Cách diễn đạt của lời thơ làm cho âm thanh mang màu sắc, hình khối, thậm chí cả hương thơm. Cái đẹp hiện hữu một cách đa chiều, đa diện.

– Những từ ngữ “lang thang”, “đơn độc”, “mỏi mòn” kết hợp với những câu thơ dài ngắn đan xen gợi ra hình ảnh bước chân người lãng tử phiêu bồng trên hành trình đơn độc để ca ngợi tự do và khao khát sáng tạo nghệ thuật.

2.2 Cảm hứng với những con người có nhân cách ca quý, vĩ đại:

– Trong đoạn thơ này, Thanh Thảo đã khắc họa thành công hình ảnh Lorca – một con  người tài năng và có những khát vọng vĩ đại.

+ Lorca dùng tiếng đàn của mình để hát lên khát vọng tự do, khát vọng yêu thương, hoàn toàn đối lập với nền chính trị độc tài tàn bạo của chế độ Phát xít Phrăng-cô.

+ Tiếng đàn của Lorca còn thể hiện những khát vọng cách tân trước nền nghệ thuât già nua, bảo thủ của Tây Ban Nha.

– Đoạn thơ còn bộc lộ niềm trân trọng và nỗi xót thương sâu sắc của nhà thơ trước một Lorca tài hoa nhưng đơn độc và bạc mệnh.

3 ĐÁNH GIÁ:

– Đoạn thơ đã chứng tỏ Thanh Thảo là nhà thơ luôn khao khát cách tân và có cảm hứng đặc biệt với những con người có nhân cách cao quý, vĩ đại. Bằng lối tư duy tượng trưng siêu thực, nghệ thuật tương phản, ngôn ngữ mới mẻ, giàu nhạc tính, Thanh Thảo đã khắc họa chân thực hình ảnh Lorca trong không khí chính trị và văn hóa đậm đà bản sắc Tây Ban Nha. Từ đó, người đọc hình dung ra cuộc đời, thân phận và tính cách của Lorca. Đó là một nghệ sĩ du ca lãng tử, hào hoa, có tâm hồn tự do, phóng khoáng, khao khát chế độ dân chủ song rất cô đơn.

– Những cách tân độc đáo của nhà thơ xuất phát từ chính niềm ngưỡng mộ trước Lorca. Đoạn thơ và cả bài thơ có nét tương đồng với “Đôc tiểu thanh kí” của Nguyễn Du. “Kính gửi cụ Nguyễn Du” của Tố Hữu vì những bài thơ này đều cất lên tiếng nói tri ân giữa con người với con người, giữa nghệ sĩ với nghệ sĩ dù ở bất kì không gian, thời gian nào.

 

ĐỀ SỐ 50. THPT QUÌ CHÂU LẦN 1

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ (“Chữ người tử tù”-Ngữ văn 11, tập một) và nhân vật người lái đò trong cảnh vượt thác sông Đà (tùy bút “Người lái đò sông Đà”-Ngữ văn 12, tập một) để làm rõ cách nhìn của Nguyễn Tuân về con người.

  1. KHÁI QUÁT:

– Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ tài hoa suốt đời đi tìm cái đẹp, có cá tính mạnh và phong cách độc đáo.

– Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám. Tác phẩm viết về một tử từ tài hoa có thiên lương, khí phách, một quản ngục có sở thích chơi chữ, ngưỡng mộ những con người tài hoa.

– “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm in trong tập tùy bút “Người lái đò sông Đà” Tác phẩm là kết quả của chuyến đi gian khổ mà đầy lí thú của Nguyễn Tuân lên miền Tây Bắc kì vĩ. Chuyến đi đã giúp ông khám phá “thứ vàng Mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn, tính cách của những người lao động bình thường, giản dị.

– “Chữ người tử tù” và “Người lái đò sông Đà” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám.

  1. CỤ THỂ:
  2. Nhân vật Huấn Cao:

– Là nhân vật trung tâm của tác phẩm – một tử tù có khí phách, thiên lương.

Phẩm chất nổi bật ở Huấn Cao là khí phách hiên ngang, tài hoa, nghệ sĩ.

– Trong cảnh cho chữ:

+ Ta gặp lại một Huấn Cao tài năng với nét chữ vuông tươi tắn trên nền tấm lụa trắng tinh. Ở đây Huấn Cao không còn là một tên tử tù mà là một nghệ sĩ đang say sưa sáng tạo.

+ Ta gặp một Huấn Cao có khí phách trong hình ảnh “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng” mà nét chữ vẫn tung hoành, thể hiện hoài bão của một con người, một cuộc đời.

+ Vẻ đẹp thiên lương cũng được tỏa sáng: Huấn Cao hiện lên là một con người có tâm hồn tinh tế, tha thiết yêu đời, trải qua bao đọa đầy mà tâm hồn không hề chai sạn (cảm nhận mùi thơm của thoi mực). Huấn Cao – một tên tử tù không nghĩ đến cái chết của bản thân mà nghĩ đến cuộc sống của kẻ khác (khuyên quản ngục về quê, lời khuyên là lời di huấn tinh thần về một lẽ sống cao đẹp)

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: đặt nhân vật trong tình huống hết sức éo le, bút pháp lãng mạng, lí tưởng hóa nhân vật.

  1. Nhân vật người lái đò sông Đà:

– Cùng với sông Đà, người lái đò sông Đà là hnhf tượng trung tâm. Là cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Tuân trong tùy bút “Người lái đò sống Đà” . Ở người lái đò sông Đà có sự thống nhất, hài hòa giữa sự môc mạc, giản dị và chất tài hoa nghệ sĩ.

-Cuộc chiến đầu sống còn với thác nước sông Đà – kẻ thù số một của con người đã thể hiện phẩm chất tài hoa của nhân vật này. Cuộc chiến đấu cam go quyết liệt trải qua ba chặng:

+ Ở trùng vi thạch trận thứ nhất

+ Ở trùng vi thạch trận thứ hai

+ Ở trùng vi thạch trận thứ ba

Trong cả 3 lần, đối mặt với đá, thác sông Đà, người lái đò đã hiện lên như một anh hùng chiếm trận dũng cảm, gan dạ, mưu trí, thật xứng là “một tay lái ra hoa”. Ông thuộc hết binh pháp của thần sông, thần núi, vượt qua ba lớp trùng vi thạch trận của sông Đà một cách ngoạn mục.

– Khi đã vượt qua ghềnh thác, ông lái đò biết thưởng thức cuộc sống như một người nghệ sĩ: “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam…”

– Nghệ thuật miêu tả nhân vật: bút pháp lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú, ngôn ngữ tài hoa, sắc sảo.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Nguyễn Tuân là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp: cái đẹp ở thiên nhiên, cái đẹp trong con ngươi, cái đẹp ở truyền thống văn hóa… Nhân vật của Nguyễn Tuân dù ở lĩnh vực nào cũng là những con người tài hoa nghệ sĩ. Kiểu nhân vật tài hoa như Huấn Cao và người lái đò sông Đà được ra đời từ cảm hứng ấy.

– Đều là những nhân vật tài hoa, nghệ sĩ song nếu Huấn Cao là con người trong vang bong một thời, phiêu bạt với đời thì người lái đò sông Đà là con người lao động trông công cuộc xây dựng đất nước, gần gũi, mộc mạc, giản dị. Đó là sự thay đổi trong quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám.

Lưu ý: Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý chính trên. Bài viết phải đảm bảo bố cục 3 phần, trình bày logic, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt.

 

ĐỀ SỐ 51. THPT HOÀNG HOA THÁM

“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài và “Vợ nhặt” của Kim Lân là hai truyện ngắn đều viết về số phận và vẻ đẹp tâm hồn của người lao động.

Em hãy phân tích hai truyện ngắn trên trong mối quan hệ đối sánh để nêu bật đặc sắc riêng của từng tác phẩm.

1 GIỚI THIỆU CHUNG:

– Giới thiệu tác giả Tô Hoài với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, Kim Lân với truyện ngắn “Vợ nhặt”

+ Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

+ Kim Lân – người “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn”. Có ý kiến cho rằng nếu chọn ra 10 cây bút tiêu biểu nhất của văn học hiện đại Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám thì không có ông nhưng nếu chọn ra 10 truyện ngắn hay nhất thì Kim Lân có đến 2 tác phẩm là “Làng” và “Vợ nhặt”. Trong đó, “Vợ nhặt” là một câu chuyện đầy ám ảnh.

– Hai tác phẩm trên là những sáng tác tiêu biểu của hai nhà văn, đều viết về số phận và vẻ đẹp tâm hồn của người lao động. Bên cạnh những nét tương đồng, ở hai truyện ngắn vẫn có những nét riêng độc đáo.

2 PHÂN TÍCH: (5,0 điểm):

2.1 Số phận của người lao động trong 2 tác phẩm: (2,5 điểm)

a Truyện “Vợ chồng A Phủ” phản ánh số phận đau khổ, tủi nhục của những người dân lao động dưới ách thống trị của cường quyền và thần quyền ở vùng miền núi Tây Bắc. Chứng minh qua cuộc đời nhân vật Mị và A Phủ:

– Nhân vật Mị:

+ Thân phận con dâu gạt nợ nhưng thực chất, Mị chỉ như kẻ ở cho nhà thống lí Pá Tra.

+ Bị bóc lột tàn tệ: làm việc quần quật, con trâu con ngựa làm còn có lúc nghỉ ngơi nhưng Mị thì không, trong đêm tình mùa xuân khi sức sống trỗi dậy ngay lập tức bị A Sử dập tắt, bắt trói vào cột…

+ Mị từ một cô gái trẻ trung, yêu đời trở thành “con rùa lùi lũi trong xó cửa”, tê liệt cả khả năng phán kháng…

– Nhân vật A Phủ:

+ Chịu đau khổ, bất hạnh: mồ côi cha mẹ, bị đem bán đổi thóc, lưu lạc ở Hồng Ngài rồi vì dám đứng lên bảo vệ công bằng, lẽ phải mà bị đánh đập, phạt vạ, trở thành kẻ ở cho nhà thống lí.

+ Kiếp nô lệ bị bóc lột, chà đạp: bị phạt vạ vô lí, làm việc quần quật mấy năm không hết nợ, đánh mất bò nên bị trói đến chết (tính mạng rẻ mạt)…

b Truyện “Vợ nhặt” phản ánh số phận khốn khổ, rẻ mạt của con người giữa thời đói:

– Cảnh nười chết đói tràn ngập khắp xóm ngụ cư: Người chết như ngả rạ, người sống thì “vật vờ như những bóng ma”,…

– Số phận con người được tô đậm qua nhiều nhân vật cụ thể:

+ Tràng: xấu, nghèo, dân ngụ cư, ế vợ.

+ Người vợ nhặt: quần áo rách tả tơi, mặt xám ngoét, nghèo đói nên cong cớn, chỏng lỏn, chấp nhận theo không Tràng về làm vợ cốt để có miếng ăn.

+ Bà cụ Tứ: cái nghèo khổ in dấu trong dáng hình “lọng khọng” đầy ám ảnh

2.2 Vẻ đẹp tâm hồn của con người qua 2 tác phẩm:

a Trong “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã tập trung miêu tả sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do cháy bỏng và khả năng cách mạng ở những con người nghè khổ:

Nhân vật Mị:

– Là một người con gái xinh đẹp, có tài thổi sáo, tâm hồn trong sáng, yêu đời. Mị rất hiếu thảo: vì thương bố Mị chấp nhận làm con dâu gạt nợ, sống cuộc đời tăm tối, tủi nhục.

– Có sức sống tiềm tàng mãnh liệt [phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân]: Không khí ngày xuân ở Hồng Ngài, tiếng sao gọi bạn tình và nhất là hơi rượu đã làm thức dậy tâm hồn Mị. Từ một kẻ lầm lũi, tê liệt khả năng phản kháng, Mị bỗng sống dậy ý thức về thân phận, thấy đau khổ và nghĩ đến cái chết. Rồi Mị lại muốn làm đẹp, muốn đi chơi, muốn được sống như ngày còn trẻ, còn được tự do…

– Là một cô gái giàu tình thương, có khát vọng sống mãnh liệt và có khả năng cách mạng:

+ Mị cắt dây trói cứu A Phủ chính là tự giải thoát bản thân mình.

+ Vùng chạy theo A Phủ rồi sau hau người đã đến với cách mạng.

Nhân vật A Phủ:

– Là một chàng trai khỏe khoắn, chăm lao động, tính tình cương trực: Ai lấy được A Phủ “như có một con trâu tốt trong nhà”, dám chống lại những bất công ngang trái,…

– Là người tình nghĩa và có tình yêu tự do và tinh thần cách mạng:

+ Khi Mị cởi trói, A Phủ khuỵu xuống, không bước được rồi ngay sau đó đã “quật sức vùng lên chạy” thoát khỏi gông cùm, xiềng xích.

+ Khi Mị nói “A Phủ cho tôi đi”, A Phủ đã không bỏ lại người đàn bà khốn khổ ấy.

+ Tìm đến cách mạng, trở thành cán bộ giỏi

b Trong “Vợ nhặt”, Kim Lân đã cho thấy:

– Dù hoàn cảnh nghèo đói khốn cùng, con người vẫn yêu thương, đùm bọc nhau:

+ Tràng nhặt vợ về cưu mang.

+ Bà cụ Tứ sẵn sàng chấp nhận người con dâu với tất cả tình thương của một người mẹ đã trải đời.

+ Người vợ nhặt sẵn sàng theo không Tràng mong qua cảnh đói nghèo nhưng khi ăn miếng cháo cám “nghẹn bứ trong cổ họng” vẫn điềm nhiên, tỏ ra vui vẻ nghĩa là đã cảm thông, thấu hiểu và sẵn sàng chia sẻ sự nghèo khó với mẹ con Tràng.

– Khao khát hạnh phúc, niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng:

+ Người dân ngụ cư vui khi Tràng có vợ.

+ Tràng tủm tỉm cười, hôm sau xúc động trước cảnh nhà cửa sân vườn được quét dọn sạch sẽ…

+ Người vợ nhặt trở thành người phụ nữ dịu dàng, nữ tính, chu đáo.

+ Bà cụ Tứ dặn dò, chỉ bảo các con, toàn nghĩ đến chuyện tương lai “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”…

+ Hình ảnh đoàn người đói đi trên đê sộp và lá cờ Việt Minh dự báo về một cuộc  đổi đời

2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Trong “Vợ chồng A Phủ”:

+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình, sâu sắc.

+ Giọng kể trầm lắng.

+ Sáng tạo nhiều chi tiết đặc sắc: căn buồng của Mị, tiếng sáo, giọt nước mắt A Phủ,…

– Trong “Vợ nhặt”:

+ Giọng điệu đôn hậu, hóm hỉnh

+ Tình huống truyện vừa éo le vừa độc đáo, bất ngờ.

+ Miêu tả tâm trạng nhân vật tài tình.

2.4 So sánh: (2,0 điểm):

a Giống nhau:

– Lấy bối cảnh những năm 1945 – 1954

– Phản ánh số phận bi thảm đồng thời cũng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động

– Tố cáo xã hội thực dân phong kiến chà đạp, đẩy con người vào đau khổ.

– Thể hiện tinh thần nhân đạp sâu sắc: trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng chính đáng của con người, có niềm tin vào sự đổi đời của con người.

– Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tài tình, tinh tế.

b Khác nhau:

– “Vợ chồng A Phủ” tập trung phản ánh:

+ Số phận: người lao động bị áo bức, bóc lột

+ Vẻ đẹp: sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do.

– “Vợ nhặt” tập trung phản ánh:

+ Số phận: rẻ rúng vì đói nghèo.

+ Vẻ đẹp: khát vọng sống, ước mơ hạnh phúc.

3 ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Nhấn mạnh: hai tác phẩm bên cạnh những nét tương đồng vẫn có những nét riêng biệt, thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả.

– Khẳng định giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn của hai tác phẩm cũng như tài năng của hai tác giả.

Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau song cần phải đảm bảo những ý chính như trên ài làm phải đảm bảo bố cục 3 phần, trình bày sạch sẽ, khoa học, không mặc lỗi diễn dạt

 

ĐỀ SỐ 52. THPT THỐNG NHẤT

Về một vẻ đẹp của tình yêu mà anh/chị tâm đắc trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh. Từ đó, trình bày suy nghĩ về tình yêu của tuổi trẻ hôm nay.

1 Phân tích một vẻ đẹp của tình yêu trong bài thơ “Sóng”:

a Khái quát về bài thơ “Sóng”

– Hoàn cảnh ra đời, đề tài, cảm hứng bao trùm bài thơ:

Bài thơ “Sóng” được viết năm 1967, khi Xuân Quỳnh đang ở bãi biển Diêm Điền (Thái Bình). Lúc này Xuân Quỳnh đã nếm trải đổ vỡ trong hạnh phúc gia đình.

Nhưng ở độ tuổi 25, với sức sống căng tràn, tâm hồn sôi nổi, nhà thơ vẫn nhìn đời  bằng cái nhìn trong sáng đầy tin yêu.

Bài thơ nằm trong tập “Hoa dọc chiến hào” và bản thân nó cũng là một bông hoa lạ nở dọc chiến hào vì trong những năm tháng ấy, khi đa số các nhà thơ tập trung viết về đất nước, nhân dân thì Xuân Quỳnh lại làm một cuộc lội ngược dòng để viết về tình yêu. Có lẽ, khát vọng tình yêu là một khát vọng đầy tính nhân bản của con người. Nó bất chấp chiến tranh và có khả năng vượt lên trên cái chết. Giữa những bài thơ cùng đề tài, “Sóng” vẫn lấp lánh một vẻ đẹp riêng. Đọc thi phẩm này, người ta không hề thấy dư âm của chiến tranh. Đây được coi là bài thơ đi cùng năm tháng.

– Những vẻ đẹp của tình yêu được gửi gắm qua bài thơ: sự chân thành, thủy chung, mãnh liệt, khao khát hòa hợp, dâng hiến cho tình yêu…

b Phân tích một vẻ đẹp của tình yêu:

Thí sinh có thể tự do chọn một vẻ đẹp nào đó ( như sự chủ động bày tỏ tình yêu một cách chân thành; những suy tư, trăn trở về tình yêu; nỗi nhớ; sự thuỷ chung; khát khao…) để nghị luận

Thí sinh có thể trình bày, diễn đạt khác nhau nhưng cần làm rõ được các ý chính:

– Đó là vẻ đẹp nào? (0,5 điểm)

– Vẻ đẹp đó được biểu hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm? (2,0 điểm)

+ Xác định được một hoặc hai khổ thơ thể hiện vẻ đẹp đó

+ Khai thác từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ…để làm rõ vẻ đẹp đó.

– Vẻ đẹp đó góp phần thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình như thế nào? (1,0 điểm)

– Qua vẻ đẹp đó, nhà thơ muốn gửi gắm tư tưởng, tình cảm gì? (0,5 điểm)

c Nghệ thuật biểu hiện: (1,0 điểm)

Các yếu tố nghệ thuật được sử dụng để xậy dựng vẻ đẹp ấy nói riêng và góp phần làm nên thành công của tác phẩm nói chung.

2 Liên hệ tình yêu của tuổi trẻ hôm nay:

– Tuổi trẻ hôm nay vẫn phát huy được những vẻ đẹp của tình yêu trong bài thơ như: thuỷ chung, khát khao, tin tưởng, chủ động vươn tới một tình yêu tốt đẹp (2,0 điểm)

– Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ các bạn trẻ có quan niệm sai lầm trong tình yêu. Họ sống thực dụng, không trân trọng những giá trị truyền thống đẹp đẽ của tình yêu. Cần phải phê phán hiện tượng này. (1,0 điểm)

– Khẳng định dù ở thời đại nào, tình yêu vẫn mang những nét đẹp mà nó vốn có, cần gìn giữ, phát huy nó. ( Lấy dẫn chứng thực tế và phân tích để làm sáng tỏ luận điểm) (1,0 điểm)

3 KẾT THÚC VẤN ĐỀ

– Khẳng định lại vẻ đẹp của tình yêu được thể hiện trong bài thơ.

– Ý nghĩa của bài thơ trong việc bồi đắp tâm hồn của tuổi trẻ: phải biết trân trọng, nâng niu giá trị của tình yêu; nuôi dưỡng, vun đắp cho tình yêu ngày càng đẹp…

Lưu ý: Bài viết phải đảm bảo bố cục 3 phần, trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi diễn đạt, khuyến khích sự sáng tạo

 

ĐỀ SỐ 53. THPT NGHĨA HƯNG NAM ĐỊNH B

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

(Trích “Mặt đường khát vọng” – Chương “Đất Nước” – Nguyễn Khoa Điềm)

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

(Trích “Sóng” – Xuân Quỳnh)

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm và Xuân Quỳnh đều là những gương mặt tiêu biểu trong thời kì thơ ca kháng chiến chống Mĩ. Nếu Nguyễn Khoa Điềm là một hồn thơ giàu chất triết lí và suy tưởng về quê hương, đất nước thì Xuân Quỳnh là một hồn thơ giàu nữ tình, vừa dịu dàng, đằm thắm vừa sôi nổi, mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.

– “Mặt đường khát vọng” là kết tinh vẻ đẹp hồn thơ và tài thơ Nguyễn Khoa Điềm.

“Sóng” tiêu biểu cho những đặc điểm thơ Xuân Quỳnh và là một trong những bài thơ tình hay nhất, được yêu thích nhất của nhiều thế hệ.

– Trích dẫn hai đoạn thơ.

2 Trình bày cảm nhận:

 a/ Đoạn thơ trong chương “Đất Nước”:

Nhà thơ bày tỏ sự cảm nhận của mình về đất nước để trả lời cho câu hỏi : Đất nước là gì? Câu hỏi đã được nhà thơ trả lời bằng cách nêu ra những định nghĩa về đất nước ở phương diện : không gian địa lý

– Đất nước là nơi sinh sống của mỗi người :

“ Đất là nơi anh đến trường,

Nước là nơi em tắm”.

– Không những vậy , đất nước còn là nơi tình yêu lứa đôi nảy nở say đắm, thiết tha . Đó là “ nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”.

– Đất nước còn là núi sông, rừng bể, là “hòn núi bạc”, là “nước biển khơi”.

– Đoạn thơ với cấu trúc ngôn ngữ “ Đất là…, Nước là…Đất Nước là…” , nhà thơ đã định nghĩa bằng cách tư duy “chiết tự” để giải thích, cắt nghĩa hai tiếng Đất Nước thiêng liêng bằng tinh thần luận lí chân xác. Nếu tách ra làm những thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa là không gian sinh tồn về mặt vật chất của con người cá thể. Nhưng nếu hợp thành một danh từ thì “Đất Nước” lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ không gian sinh sống của cả một cộng đồng người như anh em một nhà.

=> Tóm lại, bằng cách sử dụng sáng tạo các yếu tố dân gian nhà thơ đã lý giải một cách sinh động , cụ thể cho câu hỏi : Đất nước là gì? Từ đó , hình ảnh đất nước hiện lên qua đọan thơ vừa gần gũi – cụ thể, vừa thiêng liêng- khái quát.

 b/ Đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”:

– Đây là khổ thơ đặc biệt nhất trong cả bài thơ, nó kéo dài trong sáu dòng thơ. Khi cảm xúc quá mãnh liệt, những khuôn khổ thông thường sẽ bị phá vỡ.

– Điệp khúc “con sóng” diễn tả những cung bậc cảm xúc liên tục trào dâng mỗi lúc môt mãnh liệt. Nỗi nhớ của con sóng tràn ngập cả không gian (dưới lòng sâu, trên măt nước), tràn ngập cả thời gian (ngày, đêm)

– Nghệ thuật nhân hóa khiến con sóng trở thành một con người mang nỗi niềm thao thức, không ngủ được vì thương nhớ người yêu. Trong thực tế, sóng không bao giờ ngủ vì nếu ngủ có nghĩa là nó không tồn tại nữa. Cũng như vậy, tình yêu không có nỗi nhớ nghĩa là tình yêu đã chết. Có người đã đặt tên con sóng của Xuân Quỳnh là sóng thức. Nỗi nhớ của sóng với bờ cát tưởng như đã vô cùng mãnh liệt nhưng nỗi nhớ của “em” dành cho “anh” còn da diết hơn nhiều. Không chỉ em nhớ anh mà “lòng em nhớ đến anh”, nghĩa là cả con người và tâm hồn em đều nhớ đến anh. Nỗi nhớ làm cho cả không gian lẫn thời gian trở nên vô nghĩa. Nỗi nhớ choán cả con người ở cả khi thức (ý thức) lẫn vô thức (khi ngủ). Ngay cả trong giấc mơ của em, hình bong anh vẫn tràn đầy. Câu thơ tửng như phi lí nhưng thưc ra là một chân lí: những tình cảm thực sự mãnh liệt thường có đủ khả năng vượt qua những giới hạn thông thường của cuộc sống.

=> Qua đoạn thơ ta nhận thấy hồn thơ Xuân Quỳnh luôn nồng nàn, mãnh liệt trong tình yêu.

3 Đánh giá:

– Cả hai nhà thơ đều nói đến tình yêu nhưng Nguyễn Khoa Điềm nói đến tình yêu đôi lứa để lí giải khái niệm “Đất nước”, còn Xuân Quỳnh đi sâu vào những trạng thái tâm lí của người phụ nữ đang yêu.

– Sự khác biệt đó là do sự khác biệt trong phong cách của mỗi nhà thơ.

– Khẳng định tài năng của hai tác giả.

Lưu ý: Trên đây là những ý chính cần đạt, học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, khuyến khích sự sáng tạo

 

ĐỀ SỐ 54. THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC LẦN 2

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn và niềm khao khát hạnh phúc của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng”.

1 GIỚI THIỆU CHUNG:

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu nhất thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói đầy cảm xúc, có sắc thái rất riêng, đậm chất nữ tính của một tâm hồn phụ nữ rất thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương.

– Sóng được sáng tác năm 1967, là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ là tiếng lòng chân thành, bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn và niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ trong tình yêu.

2 NÊU CẢM NHẬN:

 a/ Về hình tượng “sóng” và “em” trong bài thơ:

Trong bài thơ có hai hình tượng “sóng” và “em” song hành suốt toàn bài, khi tách rời, khi hòa nhập làm một.

– “Sóng” là biểu tượng cho khát vọng về tình yêu của người phụ nữ, tương đồng với sự phong phú, bí ẩn của tâm hồn người phụ nữ khi yêu.

– “Sóng” là hình ảnh biểu tượng cho tình yêu vĩnh hằng – Sóng cũng giống tình yêu trong mạch thời gian ngày xưa và ngày sau, quá khứ và tương lai bất diệt trước mọi đổi thay.

– “Sóng” là hình ảnh tượng trưng cho quy luật không thể cắt nghĩa của tình yêu.

– “Sóng” là biểu tượng cho tình yêu trong sáng, giản dị, chân thành, luôn thể hiện khát vọng về một tình yêu chung thủy và dâng hiến trọn vẹn, ý thức được sự trôi chảy của thời gian và sự nhỏ nhoi của kiếp người.

“Sóng” và “em” tuy hai nhưng lại là một, đều là nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu, là sự phân thân và hóa thân của cái tôi trữ tình, từ đó diễn tả những cung bậc tình cảm mãnh liệt trong trạng thái yêu đương của người phụ nữ.

Vì vậy, cần phân tích được hình tượng “sóng” và “em” để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và niềm khao khát hạnh phúc của Xuân Quỳnh.

 b/ Vẻ đẹp tâm hồn của của nhà thơ qua “Sóng”: – Nét đẹp truyền thống: đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, dễ thương, chung thủy.

– Nét đẹp hiện đại:

+ Sự chủ động, táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn tin vào sức mạnh của tình yêu.

+ Người phụ nữ ấy thủy chung nhưng không còn nhẫn nhục cam chịu nữa. Nếu “không hiểu nỗi mình” thì sông dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để “ tìm ra tận bể”, đến cái cao rộng bao dung.

“ Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc, với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều minh chứng thử thách mang đậm dấu ấn trách nhiệm” ( Phạm Đình Ân ).

 c/ Niềm khao khát hạnh phúc mãnh liệt của nhà thơ:

– Bài thơ thể hiện tiếng nói của trái tim tuổi trẻ mang khát vọng yêu và được yêu muôn thuở (Ôi con sóng ngày xưa/ Và ngày sau vẫn thế/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ).

– Khao khát khám phá sự bí ẩn của quy luật tình yêu nhưng không tìm thấy câu trả lời (Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau ) .

– Luôn hướng tới một tình yêu thủy chung, son sắt ( Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh – một phương).

– Ước vọng có một tình yêu vĩnh hằng, bất tử để làm đẹp cho cuộc đời ( Làm sao được tan ra/… / Để ngàn năm còn vỗ)

 d/ Đặc sắc nghệ thuật:

– Ẩn dụ (mượn hình tượng sóng để thể hiện tình yêu một cách sinh động, gợi cảm)

– Thể thơ năm chữ với nhịp điệu linh hoạt, nhịp nhàng gợi âm vang của sóng

– Ngôn từ giản dị, trong sáng, hình ảnh thơ giàu sức gợi.

3 ĐÁNH GIÁ CHUNG:

– Bài thơ đã thể hiện nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ trong tình yêu: chân thành, say đắm, nồng nàn, mãnh liệt, thủy chung, trong sáng, cao thượng. Nó vừa mang nét đẹp tình yêu của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, vừa có nét táo bạo, chủ động đến với tình yêu của người phụ nữ Việt Nam hiện đại.

– “Sóng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh và của thơ ca Việt Nam hiện đại viết về đề tài tình yêu.

– Giá trị nhân văn của bài thơ chính là sự khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

Lưu ý: Trên đây là những ý chính cần đạt, học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, khuyến khích cách làm sáng tạo

 

ĐỀ SỐ 55. CHUYÊN YÊN DŨNG BẮC GIANG LẦN 1

Nhận xét về hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: “Đối diện với khó khăn mất mát, người lính vẫn mang trong mình vẻ đẹp hào hùng”. Lại có ý kiến khác: “Trong tận cùng gian khổ, người lính vẫn ánh lên vẻ đẹp hào hoa”.

Bằng cảm nhận về hình tượng người lính trong bài thơ, anh(chị) hãy bình luận hai ý kiến trên.

 Yêu cầu cụ thể:

  1. MỞ BÀI:

-Giới thiệu bài thơ “Tây Tiến” và tác giả Quang Dũng.

-Dẫn dắt ý kiến

=> Khẳng định hai ý kiến đề bài đưa ra đều đúng đắn, bổ sung cho nhau, làm nên vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

  1. THÂN BÀI:
  2. GIẢI THÍCH HAI Ý KIẾN:

 – Ý kiến 1: “Đối diện với khó khăn mất mát, người lính vẫn mang trong mình vẻ đẹp hào hùng”: Nhấn mạnh vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến.

– Ý kiến 2: “Trong tận cùng gian khổ, người lính vẫn ánh lên vẻ đẹp hào hoa”:

Ngợi ca người hiến sĩ ở vẻ đẹp hào hoa

=> Hai ý kiến tưởng chừng như trái ngược nhưng lại bổ sung cho nhau, mang đến 1 cái nhìn khái quát nhất về vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

  1. VẺ ĐẸP HÀO HÙNG CỦA NGƯỜI LÍNH TÂY TIẾN:

* Được khắc họa tập trung trong tương quan với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hiểm trở, dữ dội, hùng vĩ.

* Những biểu hiện cụ thể:

– Những người lính có lí tưởng yêu nước cao cả. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã kết tinh được vẻ đẹp lí tưởng yêu nước của những chàng trai thanh niên Hà Nội. Câu thơ đó vang lên như một lời thề, giọng thơ ngang tàn, ngạo nghễ, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ là những chàng trai thời loạn tự nguyện xếp bút nghiên ra chiến trường, sẵn sàng dấn thân, xả thân cho đất nước với lí tưởng cao cả “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”

– Những người có ý chí , nghị lực, đối mặt vượt lên mọi khó khăn thử thách. Cuộc hành quân “vạn lí trường chinh” về miền Tây quả là một thử thách với người lính, nhất! nhất là những người xuất thân từ tầng lớp thanh niên tri thức Hà Nội. Biết bao khó khăn chồng chất: sự hiểm trở cả địa hình (“Dốc lên khúc khuỷu”, “heo hút cồn mây”…), sự oai linh của rừng thiêng nước độc (“Chiều chiều oai linh thác gầm thét”), sự rình mò của thú dữ (“đêm đêm…cọp trêu người”…)…, sự dãi dầu của thân xác trong một thời gian dằng dặc (“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”…), sự hoành hành của bệnh tật nơi “Lam Sơn chướng khí” (“không mọc tóc”, “xanh màu lá”…)…Vậy mà những người lính ấy không hề nản chí, chùn bước.

– Người lính đối mặt với cái chết – thử thách nghiệt ngã nhất mà không hề bi lụy. Trong bài thơ không ít lần Quang Dũng nhắc đến cái chết: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa”, “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”, “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “Áo bào thay chiếu anh về đất”) song qua cái nhìn đầy lãng mạn, cách thể hiện giàu chất sử thi, ấn tượng hãi hùng, nặng nề về cái chết đã được thay thế bằng ấn tượng tự hào, nhẹ nhõm, thư thái, thanh thản. Với Quang Dũng, những người lính Tây Tến khi ngã xuống là lúc được trở về với vòng tay bao bọc, chở che bao dung của đất mẹ. Bởi thế nhà thơ đã tiễn đưa những đồng đội hi sinh bằng những câu thơ thấm đẫm tinh thần bi tráng. “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Sông mã trở thành con chiến mã gầm lên khúc độc hành bi phẫn làm kích động cả chốn rừng thiêng. Lời thơ như làm sống lại không khí chiến trận trong những bài anh hùng ca thời cổ. Vì vậy, khi đọc lại những dòng thơ này ta thấy tiếc thương tự hào, kiêu hãnh chứ không chìm trong buồn đau, chán nản bi quan.

=> Người lính Tây Tiến qua hồi tưởng của nhà thơ dù phải đốii diện với những khó khăn mất mát nhưng vẫn hiện ra kì vĩ, oai phong, kiêu hùng và cũng thật hào hùng.

  1. VẺ ĐẸP HÀO HOA CỦA NGƯỜI LÍNH TÂY TIẾN:

* Cái nhìn đa chiều về con người đã giúp Quang Dũng nhìn xuyên qua vẻ oai hùng, dữ dằn bên ngoài của người lính để thấy được những tâm hồn vô cùng nhạy cảm, tinh tế, những trái tim khát khao nỗi nhớ niềm thương. Để khám phá và thể hiện chân thực vẻ đẹp hào hoa củ người lính, nhà thơ đã ddawtj hình tượng này trong tương quan với khung cảnh nên thơ, thi vị, huyền ảo, duyên dáng của thiên nhiên miền Tây.

* Những biểu hiện cụ thể:

– Cảm nhận tài hoa, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên miền Tây:

+ Họ ngỡ ngàng nhận ra “hoa về trong đêm hơi” ở Mường Lát.

+ Họ sảng khoái khi ngắm “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Họ thực sự thấy ấm áp khi cảm nhận hương vị cơm lên khói, hương “thơm nếp xôi” ở Mai Châu.

+ Chỉ những người lính Tây Tiến mới nhìn những bó đuốc cháy sáng trong đêm hội liên hoan ở một vùng đất tưởng như bị lãng quên hoang vu thành “đuốc hoa”, mới thấy “hoa đong đưa” như làm duyên cùng dòng nước lũ.

+ Chất hào hoa đã gửi vào cái nhìn cảnh vật tạo nên những câu thơ đầy ám ảnh:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”

=> Mở ra không gian sông nước miền Tây trong một chiều sương gắn với một sự kiện đã thành kỉ niệm, đó là cuộc chia tay. Bản thân sự kiện này đã chứa đựng một nỗi buồn, chia tay trong buổi chiều sương còn buồn hơn bởi những làn  sương giăng mắc có thể làm cho không gian chiều miền sông nước trở nên huyền ảo nhưng cũng chính nó lại phủ mờ tầm nhìn, tạo khoảng cách xa trong tâm lí người đi kẻ ở. Hai chữ “hồn lau” thực chất gợi tả hoa lau với màu trắng bạc đầy gợi cảm hiện hữu nơi không gian nẻo bến bờ xa vắng và quên lãng. Qua cảm nhận của những người lính Tây Tiến nó như có điệu hồn. Phải chăng đó là hình ảnh lưu giữ tình cảm thiết tha mà nguoif dân miền tây dành cho những người lính Tây Tiến khi xa, cũng chính là mảnh hồn của những người lính Tây Tiến gửi lại Mộc Châu lúc giã từ. Đó chính là chất thi sĩ trong sâu thẳm tâm hồn người lính Tây tiến, trong khoảnh khắc giao cảm bất ngờ với hồn tạo vật.

– Những câu thơ viết về nỗi nhớ làm cho tâm hồn người lính thăng hoa . Quang Dũng chọn cho mình cách nói riêng, một thứ ngôn ngữ biểu đạt riêng: “Đêm mơ Hà Nôi dáng kiều thơm” vô cùng lãng mạn, bay bổng. Ba chữ “dáng kiều thơm” gợi tả thật tinh tế hình ảnh những thiếu nữ Hà Nội thanh lịch, duyên dáng, yêu kiều. Họ là tâm điểm nỗi nhớ, khát khao cháy bỏng nơi trái tim, tâm hồn những người con Hà Nội xa quê. Có một thời câu thơ này bị coi là cái “mộng rớt tiểu tư sản”, ủy mị, yếu đuối, nó sẽ làm nhụt chí con người. Song cùng với thời gian ta nhận ra trong lời thơ tiềm tang một sức mạnh tinh thần. Chính nỗi nhớ, ước mơ hướng về một góc phố, một ngõ nhỏ, về những dáng kiều thơm ấy đã tiếp sức, nâng bước cho người lính trẻ Hà Nội thêm vững vàng, quyết tâm chiến đấu, xả thân vì tổ quốc.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Hai ý kiến đề bài đưa ra đều đúng đắn, nó tưởng chừng như đối lập nhưng lại bổ sung cho nhau làm nên vẻ đẹp hoàn thiện của người lính Tây Tiến.

– Bài thơ khắc họa thành công hình tượng những chiễn sĩ Tây Tiến trong sự hòa hợp tự nhiên: vẻ đẹp hào hùng (đầy ý chí, nghị lực, quyết tâm bởii mang trong mình lí tưởng cứu nước cao cả) và vẻ đẹp rất đỗi hào hoa (nhạy cảm, tinh tế trong cái nhìn, trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống, con người). Đó là hình tượng nghệ thuật đã kết tinh được vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp.

– Vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật này là kết quả của cái nhìn đa chiều , chân thực, giàu chất nhân văn về con người của Quang Dũng. Đó là sản phẩm được nâng đỡ bởi cảm xúc lãng mạn của một nghệ sĩ cũng rất lãng mạn, tài hoa. Vì thế chỉ ở Tây tiến mới có tượng đài nghệ thuật vừa bay bổng, vừa bi tráng về những chiến sĩ vệ quốc thời kì đầu chống Pháp

III. KẾT BÀI:

– Khẳng định giá trị của hai ý kiến.

– Ngợi ca tài năng của Quang Dũng…

 

ĐỀ SỐ 56. THPT NGUYỄN VĂN NGUYỄN CÀ MAU

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất Nước” (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời”.

(Ngữ văn 12, Tập 1, trang 117, NXB Giáo Dục, 2014) Từ sự cảm nhận về đoạn thơ, anh (chị) có suy nghĩ gì về ý thức trách nhiệm của thanh niên ngày nay đối với đất nước?

1 CẢM NHẬN VỀ ĐOẠN THƠ:

  1. – Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm: ( 0,5 điểm)

+ Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút tiêu biểu trong nền thơ ca kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam.

+ Trường ca “Mặt đường khát vọng” được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

  1. – Cảm nhận về nội dung đoạn thơ:( 3,0 điểm)

Khái quát: Đoạn thơ trên thuộc chương V – chương “Đất nước” của bàn trường ca; thể hiện những nhận thức sâu sắc về đất nước, trong đó nổi bật là hình ảnh đất nước hiện lên trong quan hệ gắn bó với mỗi con người.

Cụ thể:

+ Em ơi em vừa là cách xưng hô gần gũi, thân thiết, vừa là lời tâm tình tha thiết. Nhà thơ chọn hình thức đối thoại tâm tình để thể hiện sự tự ý thức, tự nhận thức về một vấn đề sâu sắc “Đất Nước là máu xương của mình” Đất Nước không còn là khái niệm xa lạ, trừu tượng mà là máu thịt đối với mỗi con người. Đất Nước có ngay trong chính bản thân mỗi con người, là một phần tâm hồn của mỗi người.

+ Trách nhiệm của mỗi công dân được thể hiện qua các từ ngữ: Gắn bó – san sẻ – và hoá thân. Gắn bó là biết yêu đất nước bằng tâm hồn và suy nghĩ; san sẻ là gánh vác một phần trách nhiệm bằng hành động cụ thể; và hoá thân là mức độ cao nhất, nếu cần phải biết hi sinh cả tính mạng của mình.

+ Nếu mỗi người đều ý thức được điều đó thì sẽ “Làm nên Đất Nước muôn đời” – có nghĩa là đất nước sẽ vững mạnh, trường tồn.

  1. – Đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ

+ Hình thức đối thoại kết hợp với độc thoại, vừa nói với mọi người, vừa nói với chính mình: là lời nhắn nhủ tâm tình chân tình. Giọng điệu trữ tình đằm thắm.

+ Đoạn thơ vừa đậm chất triết lí, chất trí tuệ lại giàu chất trữ tình, chan chứa tình cảm, cảm xúc.

+ Giọng điệu đoạn thơ vừa tha thiết, sâu lắng, vừa trang nghiêm. Nhờ đó mà ý thơ dễ đi vào cảm xúc và suy nghĩ của người đọc.

  1. – Đánh giá chung: Đoạn thơ không chỉ thể hiện tập trung chủ đề mà còn tiêu biểu cho chất trữ tình – triết luận của toàn bài, thể hiện ý thức trách nhiệm của nhà thơ trước vận mệnh non sông cũng là một lời nhắn nhủ tha thiết với các thế hệ về sau.
  2. SUY NGHĨ VỀ Ý THỨC TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN NGÀY NAY ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC

– Qua đoạn thơ, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện một quan niệm đúng đắn về đất nước và ý thức rõ ràng về trách nhiệm của mình và thế hệ mình trước vận mệnh của dân tộc. Tư tưởng ấy phù hợp với mọi hoàn cảnh, mọi thời đại.

– Mỗi cá nhân, mỗi thế hệ là một mắc xích quan trọng trong cuộc chạy tiếp sức vĩnh cửu giữa các thế hệ để làm nên truyền thống dân tộc. Đặc biệt là thanh niên. Thanh niên chính là hiện tại và tương lai của đất nước. Mỗi thanh niên phải có trách nhiệm tự nguyện gánh vác những công việc chung của đất nước (Học tập, trau dồi tri thức, bắt kịp yêu cầu của thời đại, rèn luyện bản lĩnh vững vàng về tư tưởng, rèn luyện sức khỏe… để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc).

 

ĐỀ SỐ 57. ĐỒNG ĐẬU VĨNH PHÚC

Phân tích vẻ đẹp của bức tranh tứ bình trong đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu.

  1. Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức.. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Nổi bật trong đoạn trích là những câu thơ khắc họa bức tranh tứ bình của núi rừng Việt Bắc – một bức tranh thiên nhiên phong phú, rực rỡ, tươi thắm tượng trưng cho vẻ đẹp của bốn mùa, gắn liền với hình ảnh con người lao động bình dị mà cao đẹp (Trích dẫn đoạn thơ)

  1. Phân tích:

2.1. Bức tranh mùa đông:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Hình ảnh thiên nhiên: Mùa đông xuất hiện bằng màu sắc – màu xanh bạt ngàn, mênh mông trải khắp rừng già tạo cho thiên nhiên Việt Bắc một vẻ thâm u, trầm mặc. Màu xanh ấy như làm tăng thêm cái rét buốt của rừng đông. Bằng bút pháp chấm phá, trên cái nền màu lạnh ấy, Tố Hữu đã điểm thêm một gam màu nóng của “hoa chuối đỏ tươi” khiến cảnh rừng Việt Bắc trở nên ấp áp, tươi sáng hơn. Thấp thoáng đây đó là những đốm nắng vàng nhạt, chỉ đủ sức ánh lên ở lưỡi dao đi rừng của người Việt Bắc

→ Cảnh có sự hòa sắc tuyệt đẹp.

Giữa khung nền ấy hình ảnh con người hiện lên với một dáng vẻ khỏe khoắn, mạnh mẽ, tư thế hiên ngang trong lao động “ dao gài thắt lưng” dẫu đèo cao, vực sâu. Con người đã làm chủ thiên nhiên, chế ngự thiên nhiên.

2.2 Bức tranh mùa xuân:

“Ngày xuân mơ nở trăng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Mùa xuân tràn ngập màu trắng của hoa mơ gợi sự dịu dàng, tinh khiết, thanh cao và đầy chất thơ của tạo vật. Hai tiếng “trắng rừng” như làm cho khắp núi rừng bừng sang hẳn lên. Đây là hình ảnh giàu tính hiện thực nhưng thấp thoáng ý nghĩa tượng trưng : nó như gợi lên nét đẹp trong sáng trong tâm hồn của con người Việt Bắc. Có thể nói, màu trắng của hoa mơ là màu sắc đặc trưng của núi rừng nơi đây.

Hình ảnh con người trong mùa xuân lại gắn với bàn tay dịu dàng, cần mẫn của các cô gái “chuốt từng sợi giang” ( hình ảnh giống như cảnh phim quay chậm, giúp người đọc thấy rõ đường nét, hình khối, động tác của người lao động và cả sự thận  trọng, tỉ mỉ trong từng động tác).

2.3 Bức tranh mùa hè:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

– Bức tranh mùa hè: “Ve kêu rừng phách đổ vàng”

Hiện lên trong nỗi nhớ người đi không chỉ có màu sắc, đường nét, ánh sáng mà còn có cả âm thanh ngân vang của tiếng ve: “ve kêu rừng phách…” . Ve kêu gọi hè, hè về là rừng phách chuyển màu .Sống ở Việt Bắc, con người thường hay có cảm xúc bâng khuâng trước những hình ảnh kỳ lạ của rừng phách : trong những ngày cuối xuân, nụ hoa vẫn náu kín trong những kẽ lá. Khi tiếng ve cất lên thì chúng nhất loạt trổ hoa vàng. Cách dùng từ “đổ” thật tinh tế, nhấn mạnh sự mau lẹ đột ngột của quá trình chuyển đổi của cây lá, nó diễn tả sức mạnh của những trận mưa hoa vàng khi gió thổi, ve kêu gọi mùa.

– Hình ảnh “Cô gái hái măng một mình” trong mùa hạ vừa gợi sự cần cù, chăm chỉ, kiên nhần lại vừa gợi cái không gian bao la, mênh mông của núi rừng Việt Bắc.

2.4 Bức tranh mùa thu:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

– Bức tranh mùa thu: “Rừng thu trăng rọi hòa bình”

Đêm thu có ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành khung cảnh huyền ảo. Cảnh tượng này thích hợp với việc bộc lộ tâm tư thầm kín dành cho thời điểm kết thúc những cuộc hát giao duyên . Câu thơ gợi không gian thanh bình, yên ả, báo hiệu sự bắt đầu cuộc sống yên vui. Câu thơ cũng gợi sự hoà hợp giữa thiên nhiên ( rừng thu) với vũ trụ ( trăng) với cuộc sống thanh bình yên vui trong sự hoà hợp của những tấm lòng nhân ái giữa người đi và người ở lại.

– Nhớ người Việt Bắc, người về còn nhớ cả “Tiếng hát ân tình thuỷ chung” . Đó là tâm hồn, là tình cảm của những con người miệt mài, chăm chỉ với công việc, lặng lẽ cưu mang trong mình những rung động, cảm xúc trước đất trời, trước cuộc đời. Có thể nói đây cũng là bản hòa âm của hai tâm hồn đồng điệu. Tiếng hát ân tình ấy vượt qua trập trùng núi rừng, băng qua mênh mông biển cả của thời gian mà vướng vít bước chân người đi, nó vấn vương trong lòng người đi kẻ ở, vấn vương trong cả tâm hồn người đọc.

  1. Đánh giá, tổng kết:

– Đoạn trích là bốn bức họa bằng thơ rất tài tình của Tố Hữu. Cảnh và người hòa quyện, đan xen khiến bức tranh nào cũng thật sinh động, ấm áp. Đoạn thơ vừa đậm chất dân tộc [thể thơ, giọng tâm tình, tha thiết] vừa mang đậm vẻ đẹp, hơi thở của thời đại [hình ảnh thơ, tình cảm cách mạng trong thơ]. Nghệ thuật điệp – láy đi láy lại từ “nhớ” cùng các câu hỏi tu từ liên tiếp, dồn dập đã diễn tả thành công tình cảm tha thiết, sâu nặng của người về.

– Qua đoạn thơ, ta thấy rõ đặc điểm thơ và vẻ đẹp hồn thơ Tố Hữu, kết tinh trong tình cảm lớn, lẽ sống lớn: tình cảm cách mạng, lẽ sống thủy chung với cách mạng.

 

ĐỀ SỐ 58. TRẦN QUỐC TUẤN QUẢNG NGÃI LẦN 2

Nêu cảm nhận của anh( chị) về nhân vật Tnú ( “ Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành) trong mối quan hệ với gia đình, với dân làng Xô Man và với quê hương, đất nước.

  1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

– Nguyễn Trung Thành là một trong những nhà văn tiêu biểu trong nền văn học kháng chiến; là người có những trang viết rất hay về mảnh đất và con người Tây Nguyên bởi ông đã sống và gắn bó với nơi đây trong suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Chống Mĩ. Tây Nguyên đã thổi hồn vào những trang viết của ông để làm nên những tác phẩm xuất sắc như “ Đất nước đứng lên”, “ Rừng xà nu”

– Tác phẩm “Rừng xà nu” được xem là bản hịch thời đánh Mĩ. Truyện ngắn đã khắc họa thành công hình tượng anh hùng Tnú trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng, quê hương- dân tộc.

  1. CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT TNÚ:

 * Tnú trong mối quan hệ với gia đình: là người chồng yêu thương vợ con hết mực.

– Giặc về làng, tra tấn vợ con anh, Tnú tận mắt chứng kiến cảnh kẻ thù đánh đập vợ con: “ Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai… Trận mưa cây sắt mỗi lúc một dồn dập…”.

– Tnú quay lại “Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Anh bứt đứt hàng chục quả vả, mắt anh thành ngọn lửa, lửa căm thù bừng cháy dữ dội, anh lao ra xông vào giặc. ôm lấy mẹ con Mai che chở cho chị nhưng chỉ với hai bàn tay không, Tnú không cứu được vợ con.

– Nỗi đau ấy, mối thù sâu nặng ấy Tnú khắc ghi mãi trong lòng, trở thành động lực cách mạng của anh. Tnú đã chiến đấu dũng cảm để trả thù cho vợ con anh, cho mảnh đất quê hương yêu dấu đang quằn quại đau thương dưới gót giày kẻ xâm lược.

* Tnú trong mối quan hệ với quê hương ( buôn làng Xô Man): yêu làng da diết

– Lớn lên bằng tình yêu thương của buôn làng Xô- Man, anh yêu dân làng, yêu cánh rừng xà nu bạt ngàn hương thơm mỡ màng

– Ba năm đi lực lượng, ngự trị trong trái tim, hành trình anh mang theo chính là nỗi nhớ, tình yêu buôn làng.

– Về đến đầu làng, nghe tiếng giã gạo của người phụ nữ Strá, Tnú vấp ngã mấy lần bởi tiếng giã gạo ấy gợi lại cho anh những kỉ niệm gắn liền với cuộc đời người mẹ, của người phụ nữ Xô- Man như Mai.

– Khi bộ đội về thăm làng, Tnú xúc động “ để cho vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước”.

– Với người dân làng Xô-man, từ người già đến trẻ nhỏ, ai ai cũng đều yêu mến, cảm phục Tnú: bé Heng dẫn đường đưa Tnú về làng, cái xiết tay chắc nịch của cụ Mết, tất cả chăm chú lắng nghe câu chuyện cuộc đời anh,…

* Tnú trong mối quan hệ với dân tộc, đất nước: tình yêu nước gắn liền với tình yêu cách mạng, với kháng chiến, với cụ Hồ

– Khi còn nhỏ: Tnú tham gia tiếp tế, nuôi giấu cán bộ là anh Quyết. Học chữ thì Tnú hay quên nhưng đi rừng thì nó rất sáng dạ. Tnú “ xé rừng mà đi”, “ lựa chỗ thác mạnh mà bơi vào”. Khi bị giặc bắt, Tnú nuốt thư vào trong bụng. Khi bị giặc tra tấn, Tnú nhất định không khai, giặc hỏi cộng sản ở đâu, Tnú chỉ tay vào bụng.

– Làm liên lạc, Tnú thông minh, nhanh nhẹn và dung cảm. Anh hội tụ đầy đủ những phẩm chất của một chú bé liên lạc với quyết tâm lớn lên sẽ thay thế anh Quyết làm cách mạng.

– Vẻ đẹp của Tnú được tập trung miêu tả nhất thông qua hình tượng đôi bàn tay Tnú. Đôi bàn tay Tnú khi bị giặc đốt, mỗi ngón còn hai đốt là biểu tượng của tội ác man rợ, là đôi bàn tay rực lửa căm thù, kêu gọi quyết tâm đánh giặc. Đôi bàn tay ấy tàn nhưng không phế, vẫn quyết tâm cầm súng đánh bại kẻ thù.

* Đánh giá:

-Trong mối quan hệ với gia đình, buôn làng, đất nước, Tnú hiện lên là người hội tụ những phẩm chất tốt đẹp và khát vọng của cộng đồng. Ba mối thù lớn: thù của bản thân, thù của gia đình, thù của buôn làng đã hun đúc nên một Tnú trung thành, dũng cảm, gan góc trước kẻ thù, quyết tâm đánh bại kẻ thù. Bút pháp sử thi với lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh, lựa chọn chi tiết tiêu biểu đã góp phần làm nên sức hấp dẫn và ám ảnh của nhân vật này.

– Cuộc đời Tnú là cuộc đời bi thương tiêu biểu cho cuộc đời con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Vẻ đẹp Tnú cũng là vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu.

  1. BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ CỘNG ĐỒNG:

 – Giải thích:

+ Cá nhân: 1 người, tức là số ít.

+ Cộng đồng: là tập hợp của nhiều cá nhân, cá thể, sức mạnh to lớn hơn.

– Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng qua hình tượng Tnú trong tác phẩm:

+ Số phận mỗi cá nhân gắn bó chặt chẽ với số phận của cộng đồng.

+ Mỗi cá nhân góp phần làm nên sức mạnh của cộng đồng; ngược lại, cộng đồng là nguồn sức mạnh vô giá, là động lực cho mỗi cá nhân.

– Bài học: Mỗi con người cần nâng cao ý thức trách nhiệm với cộng đồng nói chung; thống nhất quyền lợi của cá nhân với tập thể và phát huy sức mạnh của toàn cộng đồng để đạt được những mục tiêu to lớn.

 

ĐỀ SỐ 59. THPT HỒNG LĨNH HÀ TĨNH LẦN 1

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau đây (Trích “Việt Bắc” – Ngữ văn 12, Tập một) để làm rõ nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.”

  1. KHÁI QUÁT CHUNG:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử, cách mạng. Đặc trưng phong cách thơ Tố Hữu: thơ trữ tình – chính trị, mang  khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đậm đà tính dân tộc.

– Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn, cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Đoạn trích thơ trên mang đậm dấu ấn thơ Tố Hữu.

  1. TRÌNH BÀY CẢM NHÂN:

a Hai câu thơ đầu:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi , nắng chiều lưng nương”

– Tố Hữu đã lấy thước đo giá trị của nỗi nhớ trong tình yêu để cắt nghĩa, lý giải cho tình cảm của cán bộ đối với nhân dân. Không phải là nỗi nhớ của ý thức , của nghĩa vụ mà nhớ bằng cả trái tim yêu thương chân thành và da diết.

– Câu thơ “Trăng lên đầu núi…” như được phân ra làm 2 nửa thời gian :vế đầu là hình ảnh gợi tả đêm trăng hò hẹn của tình yêu; vế sau là hình ảnh gợi không gian của buổi chiều lao động trên nương rẫy. Thời gian như chảy ngược – nỗi nhớ như đi từ gần tới xa, thăm thẳm trong quá khứ. Tình yêu gắn liền với lao động; lao động nảy sinh ra tình yêu . Câu thơ cùng lúc thể hiện hai không gian của tình yêu và lao động, tạo nên sự hài hoà giữa nghĩa vụ và tình cảm.

  1. Hai câu thơ tiếp:

“Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”

– Nỗi nhớ không còn mông lung, mơ mộng nữa mà đã cụ thể trong những bản làng, những mái nhà thấp thoáng trong những làn khói sương hư ảo. (Hình ảnh khói sươ nglà đặc điểm của cuộc sống Việt Bắc, vừa là khói sương của thiên nhiên, đồng thời như là hơi ấm của tình đời, tình người toả ra). Có hình ảnh của ai đó đang chờ đợi bên bếp lửa suốt đêm dài thao thức: ”Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”. Quan hệ giữa cán bộ và nhân dân như tụ họp ở ngọn lửa bất diệt thiêng liêng ấy.

  1. Hai câu thơ tiếp:

“Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy suối Lê vơi đầy

– Tình cảm lại toả ra tràn ngập cả núi rừng Việt Bắc. Những kỷ niệm chung và riêng đan xen nhau, lần lượt hiện ra trong tưởng tượng của người đi :

– Phép liệt kê làm cho những kỷ niệm khơi ra tầng tầng lớp lớp, hết hình ảnh này, đến hình ảnh khác.

+ Những hình ảnh “rừng nứa bờ tre” là những danh từ chung mô tả đặc điểm của không gian Việt Bắc với bao nét đẹp mơ mộng.

+ “Ngòi Thia , sông Đáy , suối Lê … là những địa danh lịch sử , đã từng khắc ghi trong lịch sử Cách mạng- nơi đã diễn ra nhiều chiến công oanh liệt .

→ Những gắn bó gian khổ, ngọt bùi đã trở thành những kỷ niệm da diết trong trái tim người đi khó có thể quên được.

  1. Sáu câu thơ cuối:

“Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

– Người đi nhắc lại những kỉ niệm của một quãng đời “đắng cay ngọt bùi”. Đắng cay bởi những thiếu thốn về vật chất, cơm không đủ ăn, chăn không đủ đắp nhưng chính trong hoàn cảnh ấy cái “ngọt bùi”, ấm áp của tình người lại càng thấm thía biết bao! Những cử chỉ “thương nhau” “chia” “sẻ nửa” “đắp cùng” khiến người đi không khỏi rưng rưng, xúc động mỗi lúc nhớ về! Bởi thế mà “mình” với ta” tình sâu nghĩa nặng, quyến luyến không rời!

– Trong nỗi nhớ của người về xuôi còn có cả hình ảnh người mẹ vất vả, nhọc nhằn địu con lên lưng dưới cái nắng cháy da để bẻ bắp nuôi bộ đội. Câu thơ đã khắc họa thành công và cảm độn hình ảnh con người Việt Bắc giản dị, mộc mạc mà chứa chan nghĩa tình, thủy chung với cách mạng.

  1. ĐÁNH GIÁ:

– Đoạn thơ là những hồi ức và nỗi nhớ thương da diết của người đi với cảnh và người Việt Bắc. Điệp từ “nhớ” láy lại 6 lần cùng nghệ thuật kiệt kê đã cho thấy tấm lòng của cán bộ kháng chiến với Việt Bắc sâu đậm ân tình.

– Đoạn thơ còn là sự thể hiện thành công phong cách thơ Tố Hữu:

+ Lối xưng hô “mình – ta” và kết cấu đối đáp, mang đậm dấu ấn ca dao.

+ Thể thơ lục bát, giọng điệu tâm tình ngọt ngào truyền cảm, dễ đi vào lòng người.

+ Thể hiện tình cảm lớn: tình cảm cách mạng thủy chung giữa người miền xuôi và miền ngược, giữa cán bộ kháng chiến với người dân Việt Bắc.

 

ĐỀ SỐ 60. CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG QUẢNG NINH

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của các nhân vật Tnú (“Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành) và Việt (“Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi) để thấy được vẻ đẹp con người Việt Nam trong thời chống Mĩ.

  1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN:

– Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là 2 tác phẩm xuất sắc, phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến.

– Tnú và Việt là hai nhân vật chính của hai tác phẩm. Qua hai nhân vật Tnú và Việt, tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đã khắc họa được vẻ đẹp con người Việt Nam trong thời chống Mĩ.

  1. CẢM NHẬN VỀ VẺ ĐẸP CỦA TNÚ VÀ VIỆT :
  2. NHÂN VẬT TNÚ :

– Tnú là đứa con của làng Xôman, nơi từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo vệ cán bộ.

– Tnú rất gắn bó với cách mạng :

+ Từ nhỏ, Tnú là một cậu bé gan góc, dũng cảm, trung thực, được giác ngộ cách mạng.

+ Tnú bị giặc bắt khi làm liên lạc, bọn giặc đã khủng bố, tra khảo anh: “Cộng sản ở đâu”. Tnú đã dõng dạc đặt tay lên bụng trả lời “Cộng sản ở đây này”. Sau câu trả lời ấy lưng Tnú dọc ngang vết dao chém của giặc.

+ Khi trưởng thành: thay anh Quyết lãnh đạo phong trào cách mạng, bàn tay bị cụt đốt nhưng vẫn đi bộ đội, vẫn cầm súng đánh giặc…

+ Vẻ đẹp của nhân vật bộc lộ sáng chói qua đoạn cao trào đầy kịch tính của truyện khi vợ con bị giặc giết, bản thân anh bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay bằng chính nhựa xà nu của quê hương, khơi dậy cao độ lòng căm thù giặc của cả buôn làng.

– Tnú là một con người giàu tình cảm yêu thương: yêu thiết tha bản làng, gắn bó thân thiết với cảnh và người ở quê hương mình; yêu thương vợ con tha thiết, ấp ôm một kỉ niệm đớn đau về cái chết của vơ con…

– Câu chuyện của Tnú được cụ Mết kể lại trong một không khí trang nghiêm của núi rừng. Lối kể như lối kể khan của người Tây Nguyên, lời kể đan xen lời trần thuật ở ngôi thứ ba như sống lại cái không khí linh thiêng hào hùng của những thiên sử thi Tây Nguyên và toát lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời chống Mĩ .

  1. NHÂN VẬT VIỆT :

– Là đứa con trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Nam Bộ.

– Việt có nét riêng dễ mến lộc ngộc, vô tư của cậu con trai mới lớn, nhưng sự trẻ con vô tư vẫn không ngăn cản Việt trở thành một dũng sĩ giệt Mĩ. Ngược lại, chính nó càng làm cho phẩm chất anh hùng của Việt ngày thêm độc đáo. Thù nhà, nợ nước đã nuôi dưỡng Việt trở thành một chiến sĩ giải phóng gan góc, có ý chí chiến đấu dũng cảm, kiên cường :

+ Khi còn nhỏ dám xông thẳng vào đá thằng giặc vừa giết hại cha mình.

+ Khi chưa đủ tuổi tòng quân, Việt nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má.

+ Khi xung trân, Việt chiến đấu rất dũng cảm.

+ Khi bị thương, lạc đồng đội, Việt vẫn trong tư thế chờ tiêu diệt giặc.

– Việt là người rất giàu tình cảm, gắn bó với gia đình : hình ảnh những người thân trong gia đình lúc nào cũng ở trong tâm trí. Trong hoàn cảnh bi đát nhất, Việt luôn nghĩ về người thân để tìm điểm tựa cho tâm hồn, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để anh vượt qua khó khăn trở ngại.

– Nhân vật được khắc họa sống động, chân thực nhờ nhà văn chọn lối trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể truyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn, lời kể thì theo giọng điệu của nhân vật. Nói cách khác, Nguyễn Thi đã trao ngòi bút của mình cho Việt để qua dòng hồi ức, Việt có thể tự viêt về mình bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng.

  1. VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM THỜI CHỐNG MĨ :

– Đều là những người con được sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, của dân tộc.

– Dù phải chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc nhưng ở họ luôn ngời sáng tinh thần chiến đấu, thủy chung với cách mạng và lòng căm thù giặc sâu sắc. Ở họ có sự kết tinh sức mạnh, tình cảm, lí tưởng cao đẹp của con người Việt Nam qua các thế hệ .

  1. ĐÁNH GIÁ :

– Hai nhân vât trong hai tác phẩm là đại diện tiêu biểu của con người Việt Nam trong thời chống Mĩ, tuy nhiên ở họ vẫn có những nét riêng góp phần thể hiện phong cách độc đáo của mỗi nhà văn :

+ Tnú là nhân vật được kết tinh từ vẻ đẹp tiêu biểu nhất của con người mang đậm dòng máu, tính cách của núi rừng Tây Nguyên với hình ảnh, vóc dáng vạm vỡ chứa trong đó cái mênh mang, trong sạch, hoang dại của núi rừng. Qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành còn gợi ra được số phận và phẩm chất của cả cộng đồng trong cuộc chiến đấu bảo vệ buôn làng thân yêu.

+ Việt đậm chất Nam Bộ ở ngôn ngữ, tính cách sôi nổi, bộc trực, trọng nghĩa. Việt là nhân vật tiêu biểu cho lớp trẻ, nòng cốt của thời đại cách mạng. Qua nhân vật Việt, nhà văn đã ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong mỗi gia đình.

=> Qua đây làm nổi bật những tấm gương cao đẹp, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bồi dưỡng khí phách, tâm hồn cho những thế hệ mai sau.

 

ĐỀ SỐ 61. THPT HƯƠNG SƠN HÀ TĨNH

Về nhân vật Mị trong tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài, có ý kiến cho rằng “ Nét nổi bật ở người phụ nữ này là sự nhẫn nhục và ý thức đầu hàng hoàn cảnh”. Ý kiến khác lại cho rằng “ Nét nổi bật ở Mị chính là sự phản kháng mạnh mẽ và khát vọng sống mãnh liệt

Anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên? Từ cuộc đời và tính cách nhân vật Mị, anh/chị có suy nghĩ gì về khát vọng tự do và hạnh phúc của con người?

  1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

– Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam với những tác phẩm nổi tiếng về mảng đề tài dân tộc, miền núi.

– “Vợ chồng A Phủ” là một trong những thành công lớn nhất của nhà văn Tô Hoài–là truyện ngắn rút ra từ tập “truyện Tây Bắc” viết vào năm 1953.” Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người và là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc.

– Giải thích ý kiến:

+ Ý kiến thứ nhất: “Nét nổi bật ở người phụ nữ này là sự nhẫn nhục và ý thức đầu hàng hoàn cảnh”: đề cập đến số phận bi kịch, bất hạnh đầy nước mắt của đời Mị.

+ Ý kiến thứ hai: “Nét nổi bật ở Mị chính là sự phản kháng mạnh mẽ và khát vọng sống mãnh liệt” lại khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, sức sống tiềm tàng trong con người Mị.

  1. PHÂN TÍCH – CHỨNG MINH – BÌNH LUẬN Ý KIẾN:
  2. “Nét nổi bật ở người phụ nữ này là sự nhẫn nhục và ý thức đầu hàng hoàn cảnh”

* Khi biết mình thành cô con dâu gạt nợ:

– Mị đau khổ tìm đến cái chết – sự phản kháng mạnh mẽ nhưng bất lực. Vì thương bố, Mị lại chấp nhận cuộc sống với thân phận con dâu gạt nợ ấy.

* Từ đó, cuộc đời Mị là một chuỗi ngày đau thương đầy nước mắt:

– Mị bị hành hạ về thể xác: Thời gian được tính bằng công việc. Mị bị bóc lột sức lao động một cách tàn tệ, làm việc quanh năm suốt tháng,… Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa, thậm chí Mị thấy mình không bằng trâu ngựa vì chúng còn có lúc được nghỉ đứng gãi chân nhai cỏ, còn Mị chỉ vùi đầu vào công việc: hái củi, trồng ngô, cõng nước, tước sợi,… Khi chăm sóc A Sử, chẳng may thiếp đi, liền bị đạp vào mặt…

=> Những hình ảnh so sánh [vật hóa] liên tiếp đã khắc sâu nỗi cơ cực, khổ nhục triền miên của Mị: kiếp người trở thành kiếp vật tăm tối, nặng nề, đáng thương, tội nghiệp.

– Mị bị tê liệt về tinh thần:

+ “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” -> Cam chịu nhẫn nhục một cách đáng thương.

+ Mị ngày càng không nói chỉ “lùi lũi như con rùa…”

+ Sống cô độc, lầm lũi, tách biệt với bên ngoài, không còn ý niệm thời gian, không giao tiếp “Căn buồng Mị ở chỉ có 1 lỗ vuông bằng bàn tay…”

+ Mị bị áp chế tinh thần, tin vào “Nó đã bắt mình trình ma nhà nó rồi thì chỉ đợi chết ở đây thôi” -> không còn phản kháng nữa.

+ Rồi Mị trở nên chai sạn, tê liệt cảm xúc: Chỉ biết làm bạn với bếp lửa, đêm nào cũng dậy hơ tay mấy lần. Có khi bị A Sử đánh ngã xuống cửa bếp nhưng hôm sau Mị lại ra làm bạn với bếp lửa. Bao đêm A Phủ bị trói đứng giữa nhà, Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa hơ tay Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi…”

=>Mị ở tận cùng của nỗi khổ, bị đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần một cách tàn bạo, độc ác.

  1. “Nét nổi bật ở Mị chính là sự phản kháng mạnh mẽ và khát vọng sống mãnh liệt”

* Sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng của Mị trong đêm tình mùa xuân: (0,75 điểm)

– Các yếu tố làm thức tỉnh ý thức và lòng ham sống ở Mị: khung cảnh ngày xuân ở Hồng Ngài, tiếng sáo gọi bạn yêu và hơi rượu nồng ngày Tết.

– Sự trỗi dậy của sức sống vốn tiềm tàng trong Mị:

+ Mị thấy phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước…

+ Mị nghĩ lại sự tù túng của mình, nghĩ đến cái chết lần thứ 2 -> Muốn giải thoát, kết thúc cuộc đời bi kịch, địa ngục trần gian.

+ Mị thức dậy ý thức và khát vọng: thấy mình còn trẻ, muốn đi chơi, thắp sáng căn phòng lên – thắp sáng khát vọng đời mình, sửa soạn đi chơi -> sự trở về của nữ tính… Mị thôi làm “con rùa…”, muốn làm con chim tung cánh trên bầu trời tự do.

+ Khát vọng bị A Sử chặn đứng, sức sống mùa xuân trong lòng Mị vẫn không hề bị trói buộc, dập tắt. Hồn Mị vẫn bay theo tiếng sáo đến với những cuộc chơi xuân.

=> Sức sống trong Mị chưa phải đã tắt hẳn, nó như đống tro tàn nhưng vẫn còn hơi ấm, chỉ cần ngọn gió thổi qua, sẽ bùng cháy lên mãnh liệt.

* Sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của Mị trong đêm đông cắt dây trói cho A Phủ: (0,75 điểm)

– Nguyên nhân: Mị trông thấy dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Nó khiến Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Mị nhớ lại kí ức đau khổ – lần mình bị trói đứng, thật đau khổ! Từ thương mình mà đồng cảm, thương cho người.

– Sự thức tỉnh ý thức:

+ Nhận ra dấu hiệu về cái chết, phán đoán “chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” -> càng thương hơn và so sánh“người kia việc gì mà phải chết thế”

+ Lần đầu tiên Mị nhìn rõ kẻ thù của mình cũng như những kiếp người đau khổ như mình: “Chúng nó thật độc ác”

+ Nghĩ đến tình huống cha con Pá Tra bảo là Mị cởi trói cho A Phủ, bắt Mị đứng trói thay đến chết trên cái cọc ấy nhưng Mị cũng không sợ -> tình thương vượt lên sự sợ hãi, lấn át cả nỗi thương thân.

– Cắt dây trói cho A Phủ -> hành động tự phát, xuất phát từ tình thương nhưng cũng chính là Mị đang cắt dây trói cho chính mình, chiến thắng cường quyền, thần quyền.

– Sau đó, Mị “hốt hoảng”, “vụt chạy” đuổi theo A Phủ, nói “A Phủ cho tôi đi! Ở đây thì chết mất!” -> bắt đầu hành trình từ “thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui” ở mảnh đất Phiềng Sa.

=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh, là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu.

  1. Bình luận:

– Hai ý kiến bổ sung cho nhau, làm hoàn thiện cái nhìn về số phận, tính cách, vẻ đẹp trong tâm hồn Mị. Qua hai ý kiến, ta thấy cả một quá trình chuyển biến mạnh mẽ trong tâm hồn, tính cách của Mị, sự vùng lên mãnh liệt.

– Khẳng định, giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm qua hình tượng nhân vật Mị. Đồng thời, khẳng định tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn.

  1. SUY NGHĨ VỀ KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI:

– Tự do và hạnh phúc là khát vọng lớn lao của mỗi con người trong cuộc sống.

– Từ trong cực khổ, đau thương, con người phải biết vươn lên, hướng về sự sống, ánh sáng, tìm tới niềm vui. Con người có thể tự đấu tranh để giải phóng chính mình.

 

ĐỀ SỐ 62.THPT PHAN ĐĂNG LƯU THỪA THIÊN HUẾ LẦN 1

Khi kể về cuộc đời Tnú cho dân làng Xô Man nghe, cụ Mết dặn dò: “Nghe rõ chưa các con, rõ chưa, nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm sung mình phải cầm giáo

Đọc những dòng văn ấy, nhà nghiên cứu Đỗ Kim Hồi đã viết: “Có lẽ không thể tìm đâu ra một cách diễn đạt chính xác, thiết tha, cô đúc hơn những lời này để tổng kết lại câu chuyện về đời Tnú

Qua việc phân tích câu chuyện cuộc đời Tnú trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, anh/chị hãy bình luận câu nói trên của nhà nghiên cứu.

  1. Vài nét về tác giả, tác phẩm:

– Nguyễn Trung Thành là văn gắn bó sâu sắc với Tây Nguyên, thường viết về những sự tích anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp của thời đại.

– “Rừng xà nu” được viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ ác liệt, được xem như một bi “Hịch tướng sĩ” thời chống Mĩ ca ngợi vẻ đẹp kiên cường, bất khuất, bất diệt của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung; tác phẩm còn khái quát được chân lí thời đại.

  1. Giải thích câu nói của cụ Mết và ý kiến của Đỗ Kim Hồi:

– Câu nói của cụ Mết khái quát chân lí của thời đại: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống trả lại bạo lực phản cách mạng. Đó là con đường duy nhất, tất yếu để giải phóng cá nhân và dân tộc ra khỏi đau thương.

– Đỗ Kim Hồi nhấn mạnh câu nói của cụ Mết đã tổng kết ngắn gọn, chính xác về cuộc đời Tnú từ đau thương đến chiến thắng, thiết tha vì qua Tnú để nhắn nhủ với  dân làng về con đường đấu tranh một cách tự giác để thoát khỏi bi kịch và giải phóng dân tộc.

  1. Phân tích câu chuyện về cuộc đời Tnú:

Học sinh có nhiều cách để cảm nhận về cuộc đời Tnú nhưng cần bám sát câu nói của cụ Mết để triển khai vấn đề. Dưới đây là gợi ý:

– Tnú kết tinh những phẩm chất anh hùng của người Xô Man: Giác ngộ cách mạng từ sớm, gan góc, dũng cảm, tuyệt đối trung thành với cách mạng; kiên cường, bất khuất và bất diệt; trái tim giàu yêu thương.

– Số phận Tnú đại diện cho số phận cộng đồng Xô Man: Tnú thừa sức mạnh thể chất, tinh thần nhưng vẫn rơi vào bi kịch đau thương, bởi khi giặc kéo về làng anh chưa kịp cầm giáo mác. Tnú không bảo vệ được những thứ quý giá nhất: Làng bị giặc đốt phá, vợ con bị sát hại, Tnú bị bắt trói và cháy cả mười đầu ngón tay. Dân làng Xô Man trước đau thương của Tnú đã dũng cảm đứng lên cầm giáo, mác tiêu diệt quân thù, cứu sống Tnú.

– Sau biến cố đau thương, Tnú cầm súng lên đường chiến đấu. Bằng đôi bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt anh đã lập được chiến công.

Nghệ thuật: Trần thuật linh hoạt, đậm chất sử thi, chi tiết mang màu sắc huyền thoại, ngôn ngữ, giọng điệu khi thiết tha, trầm trũng, khi hào hùng, ngợi ca.

  1. Bình luận ý kiến:

Học sinh có thể đồng tình hay không đồng tình với ý kiến, có thể đưa ra quan điểm riêng nhưng hợp lí thì chấp nhận. Dưới đây là những ý tham khảo:

– Ý kiến đã nhận định một cách chính xác về mối quan hệ giữa chân lí thời đại và cuộc đời Tnú, phù hợp với dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Chân lí mà cụ Mết khái quát là từ con đường đời của Tnú-tiêu biểu cho người dân Xô man, và con đường đấu tranh của dân làng Xô Man.

– Ý kiến đã chú ý nhấn mạnh tính triết lí, cô đúc mà rất giản dị trong lời cụ Mết, đồng thời nói lên được niềm ước mong, tự hào, tin tưởng của già làng, trưởng bản với các thế hệ về một con đường đấu tranh của dân làng – đấu tranh tự giác một cách kiên cường và bất khuất, bất diệt.

 

ĐỀ SỐ 63. SỞ GIÁO ĐỤC ĐÀO TẠO HƯNG YÊN

Cảm nhận của anh/chị về 2 đoạn văn sau:

(1) Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao, em không biết

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi.A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm. Nó còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mị nói gì.

Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị lại quấn tóc. Mị lấy cái váy hoa vắt ở trong vách.

(Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

(2) Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dư phần tu sửa lại căn nhà.

(Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

  1. Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”

  1. Phân tích:
  2. Đoạn văn trong “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài:

– Tình huống: Trong đêm tình mùa xuân, người người nô nức đi chơi, còn Mị phải ở nhà. Tiếng sáo, hơi rượu và không khí ngày Tết ở Hồng Ngài khiến lòng Mị trẻ lại, bồi hồi, xúc động…

– Tâm trạng, hành động của Mị:

+ “Mị ngồi xuống giường. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước” -> Mị không còn giống tảng đá như trước, tâm hồn Mị đã có những cảm xúc.

+ Mị nhớ về quá khứ tươi đẹp và cảm thấy vui .

+ Mị ý thức mình còn trẻ cũng là cô hiểu rõ mình có quyền được hưởng hạnh phúc lứa đôi.

+ Nhưng hiện thực đen tối đối lập với quá khứ tươi đẹp, mơ ước về hạnh phúc khó trở thành sự thật. Mị lại muốn chết. “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này,Mị sẽ ăn cho chết ngay,chứ không buồn nhớ lại nữa”. Mị ý thức được quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của mình đã bị tước đoạt. Mị đang sống trong hoàn cảnh bi thảm mà cô khó có thể thoát ra được. Ý nghĩ về cái chết lúc này có thể được coi như một hành động phản kháng để lên tiếng đòi quyền được sống, được hạnh phúc.

+ “Mị đến góc nhà,lấy ống mỡ,xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” -> Hành động của sự thức tỉnh. Mị thắp đèn là thắp lên ánh sáng để xua tan bóng tối đang bao phủ căn buồng mình, cuộc đời mình, là làm cho khát vọng về hạnh phúc của mình sớm trở thành hiện thực. Có thể nói hành động Mị thắp đèn là một bước chuyển quan trọng đánh dấu sự thức tỉnh trong tâm hồn Mị. Cô đang thắp lên ánh sáng của niềm tin, hi vọng.

+ “Mị lại quấn tóc. Mị lấy cái váy hoa vắt ở trong vách” -> thiên tính nữ trở về khi con người ta khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc.

=> Dù tuyệt vọng, dù hành động và khao khát của Mị bị chặn đứng bởi bàn tay độc  ác, thô bạo của A Sử nhưng những tâm trạng, hành động đó đã cho thấy sự hồi sinh, sự thức tỉnh mạnh mẽ của Mị.

* Nghệ thuật:

– Diễn tả thành công diễn biến tâm lí phức tạp, đầy mâu thuẫn của nhân vật.

– Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn.

– Sáng tạo được chi tiết đặc sắc: tiếng sáo.

  1. Đoạn văn trong “Vợ nhặt” – Kim Lân:

 * Nội dung:

– Tình huống: Tràng có vợ theo không về nhà sau mấy câu bông đùa ngoài chợ. Sáng sớm hôm sau, tỉnh dậy, hắn thấy mình đã có 1 gia đình đầm ấm.

– Tâm trạng của Tràng trong buổi sáng hôm sau:

+ Tràng trông thấy những thay đổi khác lạ ở ngôi nhà của mình, thay đổi ở người mẹ và cả người vợ. Nạn đói khủng khiếp khiến Tràng quên mất những viêc anh ta phải làm và khiến cuộc sống của anh trở nên tạm bợ, ngôi nhà trở nên trống trải. Nay Tràng đã có một gia đình và tổ ấm. Mẹ và vợ Tràng đang dọn dẹp, sửa sang lại ngôi nhà.

+ Với người khác, cảnh tượng ấy không có gì đặc biệt nhưng với Tràng đó là hình ảnh của cuộc sống gia đình, là thứ mà anh ta tưởng chẳng bao giờ có được. Bởi vậy nên tiếng chổi kêu sàn sạt trên mặt đất cũng đủ làm cho Tràng thấm thía và cảm động.

+ Từ khi có gia đình là từ khi Tràng được sống trong những cảm xúc rất con người, ý thức được trách nhiệm, bổn phận của mình. Hắn nghĩ đến tương lai sáng sủa, không còn bế tắc.

* Nghệ thuật:

– Am hiểu sâu sắc đời sống tâm lí nhân vật và diễn tả nó một cách sâu sắc.

– Giọng kể đậm chất trữ tình nhưng không chua xót, cay đắng mà đôn hậu, thấp thoáng đâu đó sau câu chữ là nụ cười hóm hỉnh.

  1. Điểm tương đồng và khác biệt:
  2. Điểm tương đồng:

– Hai đoạn văn đều khắc họa những chuyển biến mới mẻ trong tâm trạng của hai nhân vật mà ngọn nguồn xuất phát từ khao khát tình yêu, khao khát cuộc sống lứa đôi hạnh phúc.

– Kết thúc hai đoạn văn là những dấu hiệu đáng mừng, mở ra tương lai tươi sáng cho nhân vật.

  1. Nét khác biệt:

– Nếu Mị là người phụ nữ miền núi chịu đau khổ, bất hạnh bởi thần quyền, cường quyền thì Tràng là người đàn ông thô kệch, nghèo khổ, dân ngụ cư.

– Hạnh phúc đã đến với Tràng một cách đầy bất ngờ, Tràng đã được hưởng cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc bên mẹ và người vợ nhặt nhưng Mị thì không, tất cả đối với Mị mới chỉ dừng lại ở mong muốn, khao khát.

III. Đánh giá:

– Hai đoạn văn đều cho thấy tài năng phân tích, miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của hai tác giả.

 

ĐỀ SỐ 64. SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HƯNG YÊN

Cảm nhận của anh/chị về những nét tương đồng và khác biệt của hình tượng người chiến sĩ trong hai đoạn văn sau:

“Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổ lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ…

Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắc đang bắt đầu xung phong… ” (Trích « Những đứa con trong gia đình »- Nguyễn Thi, NXBGDVN, 2014)

“Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.

Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng.

Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…”. Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!” (Trích “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành, SGK Ngữ Văn 12, tập hai, trang 47, NXBGDVN, 2014)

  1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm :

– Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là hai tác phẩm xuất sắc phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến.

– Tnú và Việt là hai nhân vật chính của hai tác phẩm. Qua hai nhân vật Tnú và Việt, tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đã khắc họa được vẻ đẹp con người Việt Nam trong thời chống Mĩ.

  1. Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong hai văn bản :
  2. Nhân vật Việt:

– Khái quát về nhân vật : Số phận đau thương [chứng kiến cảnh cha mẹ bị kẻ thù sát hại] ; sớm tham gia kháng chiến để trả nợ nước thù nhà khi chưa tròn 18 tuổi…

– Bối cảnh của đoạn trích : Việt bị thương trong khi chiến đấu giữa rừng, bị lạc đồng đội. Anh ngất đi tỉnh lại mấy lần.

– Tính cách nhân vật qua đoạn trích : Một mình nằm lại giữa chiến trường, Việt vẫn hướng về phía có tiếng súng của đồng đội, phân biệt rõ ta – địch, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu….

-> Thể hiện tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu và lòng dũng cảm, kiên cường của nhân vật trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhất.

  1. Nhân vật Tnú:

– Khái quát về nhân vật : Cuộc đời bi thương [phải chứng kiến cảnh vợ và con anh bị giết mà không thể cứu được] ; từ nhỏ đã tham gia cách mạng,…

– Vẻ đẹp của nhân vật bộc lộ sáng chói qua đoạn cao trào đầy kịch tính của truyện. Tnú bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay bằng chính nhựa xà nu của quê hương nhưng vẫn cắn răng chịu đựng, nghe lời anh Quyết dạy, quyết không kêu van vừa thách thức kẻ thù vừa khơi dậy cao độ lòng căm thù giặc của cả buôn làng.

-> Qua đây cho thấy lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần, ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường của nhân vật.

  1. Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hai nhân vật :

* Sự tương đồng:

– Hai nhân vật đều phải chịu đựng những đau đớn về thân xác, đơn độc khi chiến đấu ; là hình mẫu của người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, tuyệt đối trung thành với cách mạng, đất nước ; là biểu tượng đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.

* Sự khác biệt:

– Nhân vật Việt : Chiến đấu với tinh thần quả cảm, lạc quan, hồn nhiên, yêu đời, tin tưởng vào cách mạng, đồng đội. Ở Việt, chủ yếu chỉ có nỗi đau về thể xác do bị thương.

– Nhân vật Tnú : Chiến đấu bằng ý chí quyết tâm và lòng căm thù giặc sâu sắc, do vừa trải qua những biến cố, mất mát trong đời sống cá nhân (vợ và con bị giặc giết chết ngay trước mắt). Ở Tnú, đó là nơi cộng hưởng cả nỗi đau thể xác và tinh thần.

Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.

  1. Đánh giá :

– Hai nhân vât trong hai tác phẩm là đại diện tiêu biểu của con người Việt Nam trong thời chống Mĩ, tuy nhiên ở họ vẫn có những nét riêng góp phần thể hiện phong cách độc đáo của mỗi nhà văn :

+ Tnú là nhân vật được kết tinh từ vẻ đẹp tiêu biểu nhất của con người mang đậm dòng máu, tính cách của núi rừng Tây Nguyên với hình ảnh, vóc dáng vạm vỡ chứa trong đó cái mênh mang, trong sạch, hoang dại của núi rừng. Qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành còn gợi ra được số phận và phẩm chất của cả cộng đồng trong cuộc chiến đấu bảo vệ buôn làng thân yêu.

+ Việt đậm chất Nam Bộ ở ngôn ngữ, tính cách sôi nổi, bộc trực, trọng nghĩa. Việt là nhân vật tiêu biểu cho lớp trẻ, nòng cốt của thờ đại cách mạng. Qua nhân vật Việt, nhà văn đã ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong mỗi gia đình.

=> Qua đây làm nổi bật những tấm gương cao đẹp, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bồi dưỡng khí phách, tâm hồn cho những thế hệ mai sau.

 

ĐỀ SỐ 65. CHUYÊN VĨNH LONG

Trong tác phẩm Chí Phèo ( Nam Cao), sau khi đến với thị Nở; sáng mai ra, Chí Phèo nghe thấy: “ Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!” (Trích Chí Phèo của Nam Cao, Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr. 149)

Trong tác phầm Vợ nhặt ( Kim Lân), sau khi có vợ, sáng hôm sau, Tràng:

“ … Bỗng vừa chợt nhận ra, xụng quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. […]. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.”

(Trích Vợ nhặt cùa Kim Lân,Ngữ văn 12,Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr. 30)

Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng của hai nhân vật qua hai đoạn văn trên.

  1. Giới thiệu chung:

– Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc tràn đầy tinh thần nhân đạo. Sáng tác trước cách mạng của ông xoay quanh hai đề tài chính là nông dân nghèo và trí thức nghèo. Truyện ngắn “Chí Phèo” là kiệt tác của Nam Cao, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của ông.

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”

  1. Phân tích:
  2. Đoạn văn trong “Chí Phèo” – Nam Cao:

– Tình huống:

+ Sau cuộc gặp gỡ tình cờ của Chí Phèo với thị Nở, Chí Phèo lần đầu tiên tỉnh rượu. Chí đã tỉnh rượu sau một cơn say rất dài.

+ Trước đó Chí đã là tay sai cho kẻ thống trị nham hiểm – Bá Kiến. Bá Kiến lợi dụng Chí Phèo để trừ khử những phe cánh đối nghịch, gây ra bao tội ác với dân làng mà yếu tố hỗ trợ cho Chí là rượu. Vì thế đời Chí là một cơn say dài mênh mông. Cơn say đã lấy mất của hắn già nửa cuộc đời, đẩy hắn vào kiếp sống thú vật tăm tối.

– Tâm trạng Chí khi tỉnh rượu:

+ Tỉnh rượu, ý thức bắt đầu trở về, Chí thấy lòng mơ hồ buồn, nỗi buồn đã đến nhưng còn mơ hồ chưa rõ rệt.

+ Khi ý thức đã trở về, Chí cảm nhận được sự tồn tại của mình, biết đến không gian, thời gian. Đó là lần đầu tiên Chí nghe được những âm thanh đời thường của cuộc sống bình dị: “ Tiếng chim hót…, tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…”

->Những âm thanh ấy đánh thức trong Chí cái ước mơ giản dị của một thời lương thiện. Hắn đã từng ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Nhưng chính bàn tay tội ác của những kẻ thống trị đã phá nát những giấc mơ, đã hủy hoại tan hoang cả một đời lương thiện. phút lóe sáng trong tâm hồn đã kéo nhân vật trở về thực tại, nhận ra hiện thực đáng buồn: “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!” Lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh rượu cũng là lần đầu tiên hắn đối diện với cuộc đời của mình.

  1. Đoạn văn trong “Vợ nhặt” – Kim Lân:

– Tình huống:

+ Tràng đã lớn tuổi mà vẫn chưa có vợ và nạn đói khủng khiếp lại đem đến cơ may để Tràng có gia đình. Hạnh phúc đến với người nông dân nghèo khổ ấy quá bất ngờ, thấy mình như vừa từ giấc mơ đi ra.

– Tâm trạng của Tràng vào buổi sáng đầu tiên khi có gia đình:

+ Tràng trông thấy những thay đổi khác lạ ở ngôi nhà của mình, thay đổi ở người mẹ và cả người vợ. Nạn đói khủng khiếp khiến Tràng quên mất những viêc anh ta phải làm và khiến cuộc sống của anh trở nên tạm bợ, ngôi nhà trở nên trống trải. Nay Tràng đã có một gia đình và tổ ấm. Mẹ và vợ Tràng đang dọn dẹp, sửa sang lại ngôi nhà. Với người khác, cảnh tượng ấy không có gì đặc biệt nhưng với Tràng đó là hình ảnh của cuộc sống gia đình, là thứu là anh ta tưởng chẳng bao giờ có được.

+ Từ khi có gia đình là từ khi Tràng được sống trong những cảm xúc rất con người, ý thức được trách nhiệm, bổn phận của mình. Hắn nghĩ đến tương lai sáng sủa, không còn bế tắc.

  1. Điểm tương đồng và khác biệt:
  2. Điểm tương đồng:

Cả hai đều nói về những chuyển biến mới mẻ của con người khi đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời mà điều làm nên sự thay đổi kì diệu ấy đó là sự quan tâm, tình yêu thương, chăm sóc, sự sẻ chia của con người với con người.

  1. Nét khác biệt:

– Nam Cao phát hiện ra những đốm sáng nhân bản còn le lói trong con quỷ dữ Chí Phèo. Tuy nhiên Chí Phèo vẫn rơi vào tình cảnh bế tắc, không lối thoát.

– Kim Lân đã phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn con người lao động, dù ở bờ vực của cái chết nhưng họ vẫn khao khát hạnh phúc gia đình, vẫn muốn sống cuộc đời của một con người. Ông mở cho nhân vật của mình một tương lai sáng lạng, đầy hi vọng. Qua đó, Kim Lân gửi vào trong đoạn văn của mình tiếng nói mang ý nghĩa triết lí nhân sinh sâu sắc: Hạnh phúc đã cứu con người thoát khỏi cái chết và có khả năng đưa con người thoát khỏi tình trạng phi nhân tính.

III. Đánh giá:

– Hai đoạn văn đều cho thấy cái nhìn đầy tính nhân đạo của người viết. Qua đây thấy được tài năng, tấm lòng của hai tác giả.

 

ĐỀ SỐ 66. CHUYÊN TRẦN PHÚ HẢI PHÒNG LẦN 2

Về hình tượng Tnú trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, có ý kiến cho rằng: “Đó là nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lý tưởng hóa đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn”. Ý kiến khác thì khẳng định: “Nhân vật Tnú hiện lên trong tác phẩm hết sức chân thật, sinh động, đời thường.”

Từ cảm nhận của mình về hình tượng Tnú, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.

  1. Khái quát:

– Nguyễn Trung Thành là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975. Ông là cây bút say mê trước vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Những trang viết thành công của ông cũng đều là những trang văn viết về Tây Nguyên.

– “Rừng xà nu” là một tác phẩm thành công của Nguyễn Trung Thành, được viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ ác liệt. Đây là một tác phẩm xuất sắc về đề tài miền núi, đồng thời cũng là tác phẩm tiêu biểu về đề tài chiến tranh cách mạng. Nổi bật trong tác phẩm là hình tượng nhân vật Tnú.

– Về hình tượng Tnú trong truyện ngắn “Rừng xà nu”, có ý kiến cho rằng: “Đó là nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lý tưởng hóa đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn”. Ý kiến khác thì khẳng định: “Nhân vật Tnú hiện lên trong tác phẩm hết sức chân thật, sinh động, đời thường ”

  1. Phân tích:
  2. Ý kiến 1: “Đó là nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lý tưởng hóa đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn”

– Cuộc đời, số phận của Tnu’ chịu nhiều mất mát, đau thương [mồ coi cha mẹ, mất vợ, con dưới súng đạn kẻ thù, chính anh cũng từng chịu sự tra tấn man rợ của chúng], tiêu biểu cho số phận chung của con người Tây Nguyên trong chiến tranh.

– Tnú có những tính cách nổi bật, vừa là đặc điểm riêng, vừa là tính cách tiêu biểu cho con người Tây Nguyên: Con người gan góc, trung thực, dũng cảm; tính kỉ luật  cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng; tình yêu thương và lòng căm thù hết sức sâu nặng.

– Tnú là nhân vật tiêu biểu cho lí tưởng và sức mạnh cộng đồng. Số phận, con đường đi của Tnú luôn được đặt trong mối tương quan với cộng đồng. Ở anh có khí thế dũng mãnh, ào ạt như thác lũ Tây Nguyên; có niềm tin vững chãi như núi rừng Tây Nguyên. Khát vọng tự do của Tnú cũng là khát vọng chung của dân làng Xô – man.

– Cuộc đời bi tráng của Tnú được gợi lại qua lời kể của cụ Mết. Cụ Mết kể trong một đêm mưa rì rào, gió thổi nhẹ bên bếp lửa xà nu bập bùng trong nhà ưng. Tất cả dân làng Xôman già trẻ gái trai đã nghe cụ Mết – một già làng có thân hình vạm vỡ, quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu dài ngang ngực kể về Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xôman. Lối kể ấy tạo nên khoảng cách sử thi và khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh những tráng sĩ, dũng sĩ cổ trong sử thi cổ của Tây Nguyên.

Ý kiến 2: “Nhân vật Tnú hiện lên trong tác phẩm hết sức chân thật, sinh động, đời thường”

– Trong tác phẩm, ta còn bắt gặp một Tnu’ với những tình cảm hết sức đời thường: gắn bó với quê hương, gia đình, yêu thương vợ con hết mực.

– Tnu’ – một chiến sĩ cách mạng rất kỉ cương, nề nếp.

– Miêu tả Tnú, tác giả chú ý tới ngôn ngữ mang màu sắc lời ăn tiếng nói của con người Tây Nguyên, ngôn ngữ đối thoại bộc trực, thẳng thắn và những hành động dứt khoát, quyết liệt, mạnh mẽ để làm nổi bật tính cách một chàng trai Tây Nguyên.

  1. Đánh giá:

– Viết về đề tài Tây Nguyên, đề tài chiến tranh chống Mĩ; Nguyễn Trung Thành đã sáng tạo và xây dựng được những nhân vật mang ý nghĩa điển hình. Những nhân vật đó thường có nguyên mẫu ngoài đời nhưng qua ngòi bút của nhà văn đã trở thành hình tượng mang ý nghĩa tiêu tiểu, khái quát cho cả dân làng Tây Nguyên. Tnú là một trong số những nhân vật đó, là thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Trung Thành.

– Tnu’ là một tấm gương sáng với thế hệ trẻ ngày nay trong công cuộc đấu tranh, bảo vệ quê hương, đất nước.

 

ĐỀ SỐ 67. CHUYÊN HÙNG VƯƠNG PHÚ THỌ LẦN 2

Cùng yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời nhưng nếu ở bà cụ Tứ (Vợ nhặt – Kim Lân) là sự vị tha, bao dun, lạc quan thì ở người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) là sự chịu đựng, hi sinh, nhẫn nhục.

Từ cảm nhận của mình về hai nhân vật này, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

  1. Vài nét về tác giả tác phẩm:

– Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, “một nhà văn viết ít nhưng ngày càng được khâm phục nhiều”. “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, rút từ tập “Con chó xấu xí” (1962)

– Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài năng đi tiên phong trong công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam sau 1975. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm xuất sắc của ông ở giai đoạn này.

  1. Giải thích ý kiến:

Ý kiến chỉ ra sự giống nhau của hai nhân vật: đều yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời; đồng thời chỉ ra sự khác nhau: tình yêu thương con của bà cụ Tứ là sự vị tha, bao dung, lạc quan; còn tình yêu thương con của người đàn bà hàng chài là sự chịu đựng, hi sinh, nhẫn nhục. Đó là những nét riêng của tình mẫu tử trong hai tác phẩm “Vợ nhặt” – Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu.

  1. Chứng minh:

 *Điểm tương đồng: Cả hai nhân vật đều yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời.

– Bà cụ Tứ:

+ Khi biết người phụ nữ theo không con mình về làm vợ, bà cụ Tứ lặng người, cúi đầu nín lặng, khóc, vừa xót xa cho số kiếp con trai, vừa tủi thân, tủi phận cho chính mình vì ngèo mà không lấy nổi vợ cho con.

+ Đồng cảm với người vợ nhặt “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình”, đồng cảm với con trai “…Mà con mình mới có được vợ”, vun vén cho hạnh phúc của đôi trẻ “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”…

– Người đàn bà hàng chài:

+ Tình yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời khiến chị phải nhẫn nhục, chịu đựng sự đày ải tàn nhẫn của người chồng để con thuyền có người đàn ông khỏe mạnh “chèo chống khi phong ba” và “để cùng làm ăn nuôi nấng một sấp con”

+ Khi đối thoại với Phùng và Đẩu ở Tòa án huyện, chị đã nói “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”

* Sự khác biệt:

Tình yêu thương con của bà cụ Tứ là sự vị tha, bao dung, lạc quan.

– Thấu hiểu việc vượt quyền cha mẹ của Tràng

– Cảm thông, xót thương cho tính cách và trân trọng giá trị của người vợ nhặt.

– Suy nghĩ, hành động, lời nói luôn lạc quan, hướng về tương lai trong những ngày đói.

+ Bà truyền cho con cái niềm hi vọng “không ai khó ba đời”

+ Hành động xăm xắm thu dọn, quét tước nhà cửa.

+ Dự định ngăn buồng cho đôi trẻ, mua đôi gà, bữa cơm mừng dâu mới với “chè khoán”…

Tình yêu thương con của người đàn bà hàng chài là sự chịu đựng, hi sinh, nhẫn nhục:

– Người đàn bà hàng chìa chịu đựng, hi sinh xin chồng đưa mình lên bờ mà đánh khi các con đã lớn vì sợ các con sẽ bị tổn thương khi chứng kiến cảnh bạo lực đau lòng.

– Vì lo những phản ứng dữ dội của thằng Phác có thể làm điều dại dột với ba nó mà chị phải cắn răng gửi thằng con chị yêu thương nhất lên rừng ở với ông ngoại đã nửa năm nay.

– Khi chồng đánh đập đau đớn chị lặng lẽ chịu đựng, nhẫn nhục như một người câm nhưng khi thằng Phác lao vào đánh bố để cứu mẹ, chị lại không nén nổi nỗi đau đớn. Chị “mếu máo” gọi con. “ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra”, “chắp tay vái lấy vái để rồi ôm chầm lấy”. Đó là nỗi đau của người mẹ khi không che chắn nổi cho tuổi thơ của các con được trong sáng, nỗi sợ hãi cho sự phát triển tính cách của con trong môi trường tăm tối, bạo lực…

  1. Đánh giá:

– Khẳng định sự đúng đắn của ý kiến:

+ Chỉ ra được những khác biệt trong tình yêu thương con của hai nhân vật. Từ đó giúp người đọc nhận ra được những nét độc đáo của mỗi hình tượng, những khám phá riêng trong cách thể hiện, xuất phát từ cái nhìn khác nhau về con người của hai nhà văn trong hai giai đoạn văn học khác nhau.

+ Đồng thời giúp người đọc cảm nhận được sự gặp gỡ trong tư tưởng nhân đạo của hai nhà văn và những tư tưởng, tình cảm mà họ gửi gắm.

 

ĐỀ SỐ 68. CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 4

Hài lòng vì mấy đứa cháu sắp xếp mọi việc chu tất trước khi nhập ngũ, nhân vật chú Năm (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi) đã nói:

“– Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây kỳ đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”.

Anh (chị) có đồng tình với câu nói của chú Năm không? Hãy phát biểu cảm nhận của mình về hai nhân vật Chiến và Việt trong tác phẩm.

1 Giới thiệu chung về tác giả Nguyễn Thi, truyện ngắn Những đứa con trong gia đình và những nhân vật chính trong tác phẩm.

2 Tóm tắt tình huống đã khiến chú Năm thốt ra câu nói hài lòng về hai chị em Chiến Việt: sau khi ghi tên nhập ngũ, hai chị em trao đổi với nhau về chuyện gia đình và cắt đặt mọi thứ gọn gàng đâu vào đó để có thể yên tâm lên đường.

3 Phát biểu ý kiến về câu nói của chú Năm: chú Năm đã nói rất đúng về hai đứa cháu của mình; niềm tự hào của chú chứa đựng sự tin tưởng vào thế hệ tiếp nối và thể hiện sự ý thức sâu sắc về mối quan hệ giữa việc nhà và việc nước.

4 Cảm nhận chung về hai nhân vật: sinh ra trong gia đình phải chịu nhiều mất mát do giặc gây ra, Chiến và Việt là những con người giàu tinh thần cách mạng, có tình yêu thương sâu sắc đối với những người thân, có lòng căm thù giặc, có tinh thần chiến đấu vì quê hương… Việc làm, lời nói của hai chị em thật tự nhiên, hồn nhiên mà lại có ý nghĩa sâu sắc, có thể khiến người đọc vừa cảm mến, thích thú vừa khâm phục.

5 Cảm nhận về nét riêng của từng nhân vật: Việt còn khá trẻ con trong mọi việc, nói năng vô tư, đôi khi đành hanh với chị nhưng vẫn biết thương chị; Chiến đã ra dáng một người phụ nữ xốc vác, lo toan, biết nghĩ trước, nghĩ sau, thấy rõ trách nhiệm của mình với gia đình và với quê hương, tuy vậy, vẫn còn có lúc để lộ nét hành xử của một người con gái vừa qua tuổi thiếu niên.

6 Xây dựng hai nhân vật Chiến và Việt, tác giả đã chọn được nhiều chi tiết đắt và rất chú ý đến ngôn ngữ riêng, tươi tắn, sống động của họ. Việc quan tâm thể hiện những nét chung cũng như việc tô đậm những nét riêng giữa hai người đã làm cho tác phẩm giàu tính khái quát mà không mất đi sự cụ thể, sinh động.

 

ĐỀ SỐ 69. ĐỀ THI THPTQG 2015

Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:

– Giá như tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc , ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…

-Lão ta trước hồi bảy nhăm cỏ đi lính ngụy không?-Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.

-Không chú à cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.

– Vậy sao không lên bờ mà ở – Đẩu hỏi.

– Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!

– Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? – Tôi hỏi.

– Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…

– Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.

– Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…

– Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, – bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, – trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?

– Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú? Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:

– Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!

Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.

– Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? -Đột nhiên tôi hỏi.

– Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…

( Trích Chiếc thuyền ngoãi xa- Nguyễn Minh Châu , Ngữ Văn 12 , Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam , 2015, tr.75-76 )

Cảm nhận của anh chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên . Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách bình luận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyên Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.

ĐÁP ÁN:

* Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, khái quát đoạn trích đã cho ở đề.

* Giới thiệu khái quát nội dung tác phẩm và nhân vật người đàn bà hàng chài.

* Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích:

– Đối với chồng: luôn có cái nhìn bao dung, độ lượng, vị tha, nhân hậu cho những hành vi của chồng.

– Đối với con: Yêu thương, giàu đức hi sinh.

– Đối với cuộc sống: cam chịu, nhẫn nhục; giàu lòng tự trọng; rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời; biết chắt chiu những hạnh phúc giản dị, đời thường.

* Nghệ thuật miêu tả nhân vật:

Nhân vật được khắc họa chân thực, sống động qua ngôn ngữ, hành động, qua những hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ giản dị mà giàu ý vị, triết lí.

* Bình luận về cách nhìn cuộc sống và con người của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm:

– Cách nhìn cuộc sống: Cuộc sống không đơn giản, xuôi chiều mà luôn có những mặt đối lập, những nghịch lí, con người đôi khi phải chấp nhận. Vì vậy, khi nhìn nhận cuộc sống phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều.

– Cách nhìn con người: Phải nhìn nhận con người từ nhiều góc độ, không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá bản chất bên trong.

– Vì vậy, người nghệ sĩ không thể có cái nhìn hời hợt đối với cuộc sống và con người, càng không chấp nhận kiểu đứng ngoài cuộc, đứng trên cao để phán xét hiện thực. Nghệ thuật chân chính là sản phẩm của hành trình tìm kiếm và khám phá không biết mệt mỏi của người nghệ sĩ.

 

ĐỀ SỐ 70. THPT ĐỨC HÒA LONG AN

 Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó, trình bày suy nghĩ của mình về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương đất nước.

  1. Khái quát chung:

– Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Ông suốt đời tìm kiếm và khẳng định những giá trị nhân văn cao quý, với những nét phong cách nổi bật, tài hoa, uyên bác, hiện đại mà cổ điển. Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân, được in trong tập “Sông Đà” (1960)

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tùy bút đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Sông Đà và sông Hương là hia hình tượng trung tâm của hai tác phẩm, được tác giả tập trung khắc họa.

  1. Cụ thể:
  2. Nét tương đồng của 2 dòng sông:

1.1 Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như một nhân vật trữ tình có tính cách với những vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước.

1.2  Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội.

-Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được thể hiện qua sự hung bạo và dữ dội của nó trên nhiều phương diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận.

– Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa 1 bản trường ca của rừng già, tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại….

1.3 Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:

– Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước thay đổi qua từng mùa, vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính…

– Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Sông Hương còn mang vẻ đẹp của người con gái ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đánh thức. Nó còn được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế…

1.4 Cả 2 đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:

– Tài hoa: 2 dòng sông đều được miêu tả trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ:

+ Sông Đà là nơi hội tụ 2 nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng.

+ Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn liền với những nét đặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế.

nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng 2 dòng sông.

  1. Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:

 2.1. Sông Đà:

– Trong đoạn trích, nhà văn tập trung tô đậm nét hung bạo, dữ dội của sông Đà giống như 1 kẻ thù hiểm độc và hung ác -> Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc biệt đá bày trùng vi thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người.

– Sông Đà được cảm nhận ở chính nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét của sông Đà như tiếng thét của ngàn con trâu mộng, đá trên sông Đà mỗi viên đều mang 1 khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến…

– Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa, tài trí của người lái đò. Lúc này đây, sông Đà như 1 chiến địa dữ dội. Và mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần sông, thần đá…

2.2. Sông Hương:

– Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của 1 người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm. Khi ở thượng nguồn, nó là cô gái Digan phóng khoáng, man dại; khi ở cánh đồng Châu Hóa, nó là cô thiếu nữ ngủ mơ màng; khi lại như người tài nữ đánh đàn giữa đem khuya, hay là nàng Kiều tài hoa, đa tình mà lại chung tình, là người con gái dịu dàng của đất nước.

– Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay.

– Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi. Khi chảy giữa Huế, sông Hương mềm hẳn đi như 1 tiếng ” vâng” không nói ra của tình yêu. Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu, thể hiện 1 nỗi niềm vương vấn với 1 chút lẳng lơ kín đáo.

– Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn thể hiện nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế.

III. Đánh giá:

– Qua vẻ đẹp tương đồng của 2 dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo của 2 tâm hồn có tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp của non sông đất nước Việt Nam.

– Mỗi nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình. Cả 2 tác giả đều vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức trên.

– Trách nhiệm bản thân trong việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước qua hành động cụ thể như: yêu quí, bảo vệ môi trường, quảng bá thắng cảnh…

 

ĐỀ SỐ 71. CHUYÊN TRẦN PHÚ HẢI PHÒNG LẦN 3

 Cảm nhận nhân vật Mai (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành) và nhân vật Chiến (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi)

  1. Giới thiệu chung:

– “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành viết về những anh hùng ở làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam giai đoạn 1954-1975.

Nhân vật Mai trong tác phẩm không được khắc họa nhiều nhưng đã hiện vẻ đẹp của một người con gái Tây Nguyên trong kháng chiến: tình yêu cách mạng, tình yêu gia đình và một bản lĩnh kiên cường, bất khuất.

– “Những đứa con trong gia đình”: Tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác với tư cách là một nhà văn – chiến sĩ ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng năm 1966. Có thể nói Nguyễn Thi là một trong những nhà văn thành công nhất khi viết về hình tượng người phụ nữ Nam Bộ “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Chiến là một nhân vật như thế.

  1. Phân tích hai nhân vật:
  2. Nhân vật Mai:

Sớm giác ngộ cách mạng, tình yêu đối với cách mạng: cùng với Tnú che giấu cán bộ, giúp đỡ cán bộ…

Từ nhỏ đã là một cô bé thông minh, khéo léo: cùng với Tnú học chữ, lên rừng bảo vệ các chiến sĩ cách mạng.

Lớn lên là một người mẹ yêu thương con, sẵn sàng hi sinh thân mình để che chở đứa con thơ.

Một người phụ nữ kiên cường, bản lĩnh, giàu tinh thần cách mạng: Sẵn sàng chịu đòn roi kẻ thù nhưng không kêu lên một tiếng, không khai ra chỗ ở của Tnú. Đặc biệt ánh mắt khi nhìn kẻ thù: bình tĩnh mà đầy sức mạnh…

  1. Nhân vật chị Chiến:

– Chiến sinh ra và lớn lên trong mối thù nhà, nợ nước: ông nội, ba má đều chết trong chiến tranh. Do vậy dù đang còn ít tuổi nhưng chị Chiến vừa thay mẹ chăm sóc cho gia đình, vừa tham gia cách mạng, mang quyết tâm trả nợ nước thù nhà.

– Chị Chiến là người con gái lớn đảm đang, yêu thương em, biết vun vén lo toan cho gia đình.

– Mang tình yêu đối với cách mạng, quyết tâm đi tòng quân để trả nợ nước, thù nhà.

– Bản lĩnh kiên cường, dũng cảm, không lùi bước trước kẻ thù.

  1. Nhận xét, đánh giá về hai nhân vật:
  2. Điểm giống nhau:

– Cả hai nhân vật đều là những người con gái trẻ tuổi nhưng đã sớm giác ngộ cách mạng, mang một tình yêu lớn đối với cách mạng, có ý chí , quyết tâm mãnh liệt đấu tranh chống lại kẻ thù.

– Họ không chỉ là những chiến sĩ trẻ đầy bản lĩnh mà còn là người con gái của gia đình: biết yêu thương, vun vén.

– Hai nhân vật đều mang vẻ đẹp của người con gái Việt Nam nói chung: giỏi việc nước, đảm việc nhà.

  1. Điểm khác nhau:

– Mai là người con gái Tây Nguyên bản lĩnh rắn rỏi, nhưng do Mai chưa nhận thức được chân lí cách mạng mà sau này cụ Mết nói (Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo) nên bất lực ôm đứa con thơ chết dưới đòn roi của kẻ thù.

– Chiến là người con gái Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, lớn lên trong giai đoạn chiến tranh ác liệt , nên nhận thức rõ mình cần phải làm gì để bảo vệ gia đình, dân tộc. Do vậy Chiến đã quyết tâm đi bộ đội như một nhận thức tất yếu “nếu giặc còn thì tao mất”.

 

ĐỀ SỐ 72. CHUYÊN LÝ TỰ TRỌNG BÌNH ĐỊNH LẦN 2

 Phân tích sức mạnh của tình thương yêu con người qua đoạn Mị cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) và Tràng đối với cô vợ theo (Vợ nhặt – Kim Lân)

  1. Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”

  1. Phân tích:
  2. Sức mạnh của tình thương yêu thể hiện trong đoạn Mị cứu A Phủ:

Hành động Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ là biểu hiện cao nhất của tình yêu thương con người.

– Nguyên nhân: Mị trông thấy dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Nó khiến Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Mị nhớ lại kí ức đau khổ – lần mình bị trói đứng, thật đau khổ! Từ thương mình mà đồng cảm, thương cho người.

– Sự thức tỉnh ý thức:

+ Nhận ra dấu hiệu về cái chết, phán đoán “chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” -> càng thương hơn và so sánh“người kia việc gì mà phải chết thế”

+ Lần đầu tiên Mị nhìn rõ kẻ thù của mình cũng như những kiếp người đau khổ như mình: “Chúng nó thật độc ác”

+ Nghĩ đến tình huống cha con Pá Tra bảo là Mị cởi trói cho A Phủ, bắt Mị đứng trói thay đến chết trên cái cọc ấy nhưng Mị cũng không sợ -> tình thương vượt lên sự sợ hãi, lấn át cả nỗi thương thân.

– Cắt dây trói cho A Phủ -> hành động tự phát, xuất phát từ tình thương nhưng cũng chính là Mị đang cắt dây trói cho chính mình, chiến thắng cường quyền, thần quyền.

– Sau đó, Mị “hốt hoảng”, “vụt chạy” đuổi theo A Phủ, nói “A Phủ cho tôi đi! Ở đây thì chết mất!” -> bắt đầu hành trình từ “thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui” ở mảnh đất Phiềng Sa.

=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh, là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu. Sự hồi sinh đó xuất phát từ tình yêu thương con người sâu sắc.

  1. Sức mạnh của tình thương yêu Tràng dành cho “vợ nhặt”:

– Tràng sẵn sàng cho thị ăn và đưa thị về dù Tràng cũng đang trong cảnh đói. Liều lĩnh chấp nhận thị thao làm vợ: Không chỉ là khát khao hạnh phúc mà còn có cá tính thương yêu con người. Đây cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người lao động: sẵn sàng cưu mang, đùm bọc lẫn nhau trong cảnh cơ hàn mà không tính toán, so đo.

– Tình thương yêu đã giúp họ vơi bớt mọi lo toan, buồn khổ và bước đầu đã tìm thấy niềm vui, hạnh phúc, thể hiện qua cảnh dắt díu nhau về làng:

+ Tràng dường như quên hết cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát  đang đe dọa. Trong lòng Tràng không gợn một chút coi thường thị, ngược lại anh cảm thấy vô cùng vui sướng, hạnh phúc.

+ Thị cũng không hề có chút mặc cảm nào về thân phận “bị nhặt”, cô thay đổi tính cách theo hướng tích cực. Họ thực sự hướng về nhau, tìm thấy ở nhau những cảm xúc hạnh phúc như bất kì đôi tình nhân nào khác.

+ Ngay cả những người dân xóm ngụ cư, mặc dù có chút ngạc nhiên nhưng trên khuôn mặt u ám của họ bỗng rạng rỡ hẳn lên như có một luồng sinh khí mới hiện về.

– Tình thương yêu đã làm đổi thay không khí cuộc sống gia đình bà cụ Tứ, đổi thay cả những con người này (Không khí ấm cúng tràn đầy hạnh phúc trong gia đình, mọi người đều thay đổi theo hướng tốt đẹp).

  1. Đánh giá chung:

 Giống nhau:

– Sức mạnh của tình thương yêu giúp con người vượt qua tất cả.

– Bằng cái nhìn nhân ddaoj, nhà văn đã ngợi ca vẻ đẹp của người lao động.

Khác nhau:

– Hiện thực cuộc sống được phản ánh trong hai tác phẩm khác nhau:

+ Vợ chồng A Phủ là bối cảnh sau cách mạng và trong kháng chiến ở miền núi Tây Bắc.

+ Vợ nhặt lấy bối cảnh là nạn đói trước cách mạng và ở miền xuôi.

– Số phận cụ thể của các nhân vật khác nhau:

+ Mị là nạn nhân của chế độ chúa đất phong kiến ở miền núi.

+ Vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói do bọn phong kiến, thực dân, phát xít gây ra.

– Phong cách nghệ thuật, bút pháp miêu tả của mỗi tác giả khác nhau:

+ Kim Lân khai thác từ tình huống và tâm lí nhân vật.

+ Tô Hoài có lối miêu tả nhân vật độc đáo.

 

ĐỀ SỐ 73. CHUYÊN LÊ QUÍ ĐÔN NINH THUẬN LẦN 2

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

“…Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm, Ngữ văn12, Nâng cao, tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.72)

“…Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu

 Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút, non Nghiên

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước một lối sống ông cha…”

(Đất nước, trích chương V trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm,SGK Ngữ văn 12, Nâng cao, tập 1,NXB Giáo dục, 2008, tr.117)

1 Khái quát chung:

– Quê hương, đất nước là một đề tài xuyên suốt, nổi bật trong văn học Việt Nam.

Nhiều tác phẩm viết về đề tài này đã thể hiện những suy tư sâu sắc, niềm tự hào dân  tộc và tình yêu quê hương, đất nước của các nhà thơ.

Giới thiệu hai tác phẩm: Vào một đêm giữa tháng 4 – 1948 ở Việt Bắc, Hoàng Cầm nghe tin giặc đánh phá quê hương mình, ông xúc động viết bài thơ Bên kia sống Đuống. Năm 1971, ở chiến khu Trị Thiên, hướng về tuổi trẻ Việt Nam trong những ngày sục sôi đánh Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm viết trường ca Mặt đường khát vọng, trong đó có chương V – Đất Nước. Cả hai tác phẩm đều được xem là thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại.

  1. Phân tích:
  2. Trích đoạn thơ trong Bên kia sông Đuống:

– Bài thơ ên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là hoài niệm về quê hương thanh bình trong quá khứ và nỗi xót xa trước quê hương đau thương trong hiện tại. Đoạn trích nằm ở phần đầu của bài thơ, thể hiện niềm yêu mến, tự hào về quê hương Kinh Bắc tươi đẹp, trù phú, giàu truyền thống văn hóa.

– Câu thơ “ ên kia sông Đuống” gợi điểm nhìn trong tâm tưởng. Dường như nhà thơ đang ở bên này – vùng tự do, mà nhìn về bên kia – nơi quê hương bị giặc chiếm đóng, từ đó gợi dậy bao hồi tưởng về Kinh Bắc ngày xưa tươi đẹp, thanh bình.

– Trong 3 câu tiếp theo, quê hương được tái hiện vừa khái quát, vừa cụ thể. Đời sống vật chất được gợi lên từ hương vị lúa nếp thơm nồng. Đời sống tinh thần hội tụ trong nét văn hóa đặc sắc: Tranh Đông Hồ.

Ở hai câu thơ nói về tranh Đông Hồ, tác giả đã nêu bật cái chất dân gian, cái hồn dân tộc của tranh Đông Hồ từ đề tài, ý nghĩa đến màu sắc, chất liệu độc đáo. Các từ tươi trong, sáng bừng vừa gợi tả, vừa gợi cảm. Cụm từ màu dân tộc mang nhiều ý nghĩa (Nghĩa đen: chất liệu, màu sắc lấy từ đất đá, cây cỏ của quê hương. Nghĩa bóng: hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày, nghệ thuật vẽ tranh dân gian – tất cả tạo nên bản sắc dân tộc độc đáo).

  1. Trích đoạn thơ trong bài Đất Nước:

– Trường ca Mặt đường khát vọng viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm ở miền Nam: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn thơ trích thuộc phần đầu của chương V.

– Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” chi phối cách cảm nhận của nhà thơ về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hóa của đất nước.

– Tám câu đầu: Tác giả cảm nhận đất nước qua những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gần với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân, được cảm thụ qua tâm hồn nhân dân. Các hình ảnh, cảnh vật gợi cảm nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng: núi Vọng Phu, hòn Trống Mái (tình nghĩa thủy chung, thắm thiết), Thánh Gióng (sức mạnh bất khuất, núi Bút non Nghiên (truyền thống hiếu học)…..Qua đó Đất Nước hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng.

– Trong trích đoạn thơ, tác giả đã sử dụng những cất liệu văn hóa dân gian để nói về đất nước. Đây cũng là biểu hiện chiều sâu tư tưởng đất nước của nhân dân trong  cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.

– Hai câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: Sự hóa thân của nhân dân vào bóng hình đất nước. Nhân dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất này.

2.3 So sánh:

  1. Điểm tương đồng:

– Hai trích đoạn thơ đều thể hiện sự cảm nhận về quê hương, đất nước qua những địa danh, hình ảnh, cảnh vật cụ thể, gợi nhiều liên tưởng; qua mạch nguồn, chất liệu văn hóa dân gian, dân tộc.

– Cả hai cách cảm nhận trong hai trích đoạn thơ đều làm nổi bật truyền thống văn hóa, vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam, khơi sâu thêm niềm yêu mến, tự hào về nhân dân, đất nước.

  1. Nét khác biệt:

– Trích đoạn thơ trong ên kia sông Đuống hướng về một miền quê cụ thể với cảm xúc trữu tình tha thiết: tình yêu đất nước bắt nguồn từ tình yêu quê hương của chính mình. Ở trích đoạn thơ trong Đất Nước, nhà thơ nói về nhiều miền quê vơi suy tư sâu lắng: đất nước là của nhân dân.

– Trích đoạn thơ trong ên kia sông Đuống thể hiện sự tinh tế của người nghệ sĩ trong cảm nhận vẻ đẹp riêng của quê hương. Trích đoạn thơ trong Đất Nước thể hiện tư duy chính luận sắc sảo của tác giả trong cảm nhận những cảnh vật, địa danh…có sức khái quát cao về dân tộc, đất nước.

– Chính những nét cảm nhân riêng nói trên đã góp phần tạo nên sức lối cuốn, hấp dẫn của từng bài thơ cũng như sự phong phú, đa dạng của thơ ca viết về quê hương, đất nước.

 

ĐỀ SỐ 74. SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BÌNH DƯƠNG

Cảm nhận của anh/ chị về chi tiết “dòng nước mắt” trong hai đoạn trích sau:

“…Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…”

(Trích Vợ nhặt – Kim Lân)

“Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt…”

(Trích Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)

  1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

– Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, “một nhà văn viết ít nhưng ngày càng được khâm phục nhiều”. “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, rút từ tập “Con chó xấu xí” (1962)

– Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài năng đi tiên phong trong công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam sau 1975. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm xuất sắc của ông ở giai đoạn này.

  1. Làm rõ nội dung hai đoạn trích:
  2. Đoạn 1:

Miêu tả tâm trạng tủi buồn, xót xa của cụ Tứ trước tình huống oái oăm khi anh Tràng bỗng dưng nhặt vợ. Phần vì tủi cho mình đã không thể cưới vợ cho con ; phần vì thương và lo lắng cho con trai có vợ đang lúc cái đói bao trùm cuộc sống, cái chết đe dọa từng con người, từng gia đình. Những dòng nước mắt hiếm hoi, rỉ ra từ kẽ mắt kèm nhèm của người mẹ già đã thể hiện xúc động tâm trạng ấy.

  1. Đoạn 2:

Miêu tả tâm trạng đau, tủi hổ của người đàn bà hàng chài trước cảnh Phác lao vào đánh bố để bênh mẹ thoát khỏi bạo hành. Tấn bi kịch gia đình bấy lâu nay bà cố tình che giấu giờ đã bị phơi bày. Trước những trận đòn của chồng, người đàn bà không hề khóc lóc, thở than, giờ lại rỏ xuống những dòng nước mắt, bà mẹ đau đớn và bất lực trước sự tổn thương trong tâm hồn đứa con.

  1. Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt:
  2. Điểm tương đồng:

– Đều là dòng nước mắt của những người mẹ trong hoàn cảnh nghèo đói, khốn khổ; dòng nước mắt là biểu tượng cho tấm lòng cao quý của người mẹ: tình thương, đức hi sinh và lòng vị tha dành cho con cái.

– Thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm, sự đồng cảm của nhà văn với những đau khổ của con người, đặc biệt là những đau khổ của người phụ nữ.

– Được thể hiện qua bút pháp miêu tả tâm lí tinh tế, tài tình.

  1. Điểm khác biệt:

– Dòng nước mắt của cụ Tứ: “rỉ xuống hai dòng nước mắt” gắn với tình huống anh Tràng “nhặt” được vợ; tâm trạng người mẹ vừa thể hiện sự ai oán, xót thương cho con trai và con dâu trong nghịch cảnh éo le, vừa là sự tủi phận cho mình đã không thể “dựng vợ gả chồng” cho con như “người ta”.

– Dòng nước mắt của người đàn bà hàng chài: “rỏ xuống những dòng nước mắt” trong hoàn cảnh đầy bi kịch, tâm trạng ê chề khi điều cố giấu đã bị phơi bày; đau đớn khi thấy thằng Phác đánh bố để bênh vực mẹ và bà nhận ra nó cũng hung hăng không kém gì cha nó; ân hận vì không tròn trách nhiệm của người làm cha mẹ, gián tiếp đã gây sự tổn thương trong tâm hồn đứa con.

-> Cách miêu tả phù hợp với tuổi tác, sự từng trải, hoàn cảnh, tâm trạng của mỗi nhân vật.

  1. Lí giải:

– Sự giống nhau xuất phát từ tấm lòng của những nhà văn luôn nặng lòng với số phận con người, đặc biệt là những con người có số phận bất hạnh, trân trọng, yêu thương và cảm thông.

– Sự khác biệt xuất phát từ phong cách riêng của mỗi tác giả, cũng như những đặc điểm riêng của từng giai đoạn văn học.

 

ĐỀ SỐ 75. LÊ QUÍ ĐÔN QUẢNG TRỊ

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo theo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch cùa mình nhấc bổng một đẩu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú. chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà

độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng trên vai.

Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa. men theo chân vườn thoáng mùi hoa cam. con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác.

(Nguyễn Thi – Những đứa con trong gia đình)

Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã trở thành mười ngọn đuốc.

Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra trừng trừng.

Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ờ đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi ! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy ! Không. Tnú sẽ không kêu! Không!

(Nguyền Trung Thành – Rừng xà nu)

  1. Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ bởi ông đã gắn bó sâu nặng và sự am hiểu sâu sắc về những con người nơi đây. “Những đứa con trong gia đình” thuộc số những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Thi.

– Nguyễn Trung Thành là văn gắn bó sâu sắc với Tây Nguyên, thường viết về những sự tích anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp của thời đại. “Rừng xà nu” được viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ ác liệt, được xem như một bi “Hịch tướng sĩ” thời chống Mĩ ca ngợi vẻ đẹp kiên cường, bất khuất, bất diệt của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung.

– Hai đoạn trích là sự biểu hiện tập trung vẻ đẹp của các nhân vật Tnu’, Việt và Chiến.

II Trình bày cảm nhận:

  1. Cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Những đứa con trong gia đình”:

– Nội dung:

+ Qua việc miêu tả dáng vẻ của chị Chiến, những linh cảm của Việt cùng hành dộng của hai chị em… đoạn văn đã khéo léo làm nổi bật hình ảnh về những đau thương mất mát, sự thâm thù sâu nặng của hai chị em đối với Mĩ Ngụy đồng thời hướng đến khắc họa sự tiếp nối truyền thống bất khuất của gia đình Việt.

+ Là đoạn văn cụ thể hóa cho hình ảnh hai chị em mang dòng sông gia đình mình đển với biển cả bao la.

– Nghệ thuật: Đoạn văn cuối được xem là một chi tiết đắt có tính tiểu thuyết (với nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật thể hiện tâm trạng…), đoạn văn đã mang đến nhiều ý nghĩa và liên tưởng cho người đọc.

  1. Cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Rừng xà nu”

– Nội dung: Đoạn văn hướng đến khắc họa những đau đớn về thể xác của nhân vật Tnú cũng như ý chí, khí phách cách mạng của con người này. Lát cắt về hình ảnh Tnú qua chi tiết này chính là sự phản chiếu cho nỗi đau và khí phách của dân làng Xô Man trước tội ác của Mĩ Ngụy.

– Nghệ thuật: Ngôn ngữ, tiết tấu nhanh tô đậm tính kịch kết hợp với bút pháp đặc tả,  liệt kê, điệp (không thèm kêu van) đã mang đến nhiều ý nghĩa và liên tưởng cho người đọc.

  1. Điểm tương đổng và khác biệt:

– Tương đồng:

+ Hai đoạn văn là hai chi tiết đắt mang đến nhiều sức gợi cho người đọc;

+ Đều phản ánh về những đau thương mất mát cũng như ý chí quyết tâm, khí phách của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh chống Mĩ cứu nước.

– Khác biệt:

+ Đoạn văn ở “Những đứa con trong gia đình” nghiêng về khắc họa những đau đớn, mất mát về tinh thần;

+ Đoạn văn ở “Rừng xà nu” nghiêng về khắc họa những đau đớn mất mát về thể xác.

III Đánh giá:

– Khái quát về vai trò của chi tiết trong tác phầm văn xuôi;

– Thấy được vẻ đẹp của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975.

– Khẳng định vẻ đẹp của con người Việt Nam thời chống Mĩ.

 

ĐỀ SỐ 76. CHUYÊN CHU VĂN AN

Phát biểu cảm nhận của anh/ chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.

  1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm:

– Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời kì đổi mới. Nếu ở giai đoạn kháng chiến chống Mĩ sáng tác của ông mang cảm hứng sử thi, lãng mạn thì từ những năm 80 của thế kỉ XX, ông chuyển dần sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường.

– “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu ở thời kì sau, viết về một lần giáp mặt của một người nghệ sĩ với đầy nghịch lý của một gia đình làng chài qua đó thể hiện nỗi lòng xót thương nỗi âu lo và những trăn trở đối với con người, đặc biệt là người đàn bà hàng chài.

  1. Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài:

 – Người đàn bà với nỗi khổ sở chất chồng:

+ Nghèo khó, lam lũ, cực nhọc: ngoại hình tiều tụy, gương mặt mệt mỏi…

+ Là nạn nhân của tấn bi kịch gia đình: Những trận đòn chồng vô lí, cách chị nhẫn nhục chịu đựng, nỗi sợ hãi khi nhìn con đánh lại cha. Sau trận đòn, sau nỗi sợ lại theo gã đàn ông trở về con thuyền….

– Người mẹ có trái tim bao la, giàu tình thương và đức hi sinh:

+ Rất mực yêu thương con: tận tâm bảo bọc, che chở, cố tránh cho con khỏi bị tổn thương…

+ Chấp nhận chung sống vời người đàn ông vũ phu chứ quyết không chịu bỏ cũng vì muốn những đứa trẻ luôn có bố “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”

+ Hạnh phúc bình dị là khi nhìn những đưa con được ăn no.

– Người đàn bà thấu hiểu lẽ đời, có tấm lòng bao dung, độ lượng:

+ Chịu đựng tất cả những cơn giận vô cớ của người chồng: cam chịu, nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không chạy trốn, chỉ ôm lấy đứa con, van vỉ nó, ngăn cản sự phản kháng của nó…

+ Hiểu được nguồn gốc cơn giận của chồng: “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh” -> cái nghèo đói, khốn khổ đã biến một người đàn ông hiền lành, chất phác xưa thành một người chồng nát rượu, vũ phu, độc ác.

+ Chị hiểu lòng tốt của Đẩu và Phùng nhưng hơn ai hết chị hiểu nỗi cơ cực của cuộc sống lênh đênh trên biển, vì thể phụ nữ trên biển cần một người đàn ông để dựa.

+ Chị lại nhận lỗi về mình “giá tôi đẻ ít đi…” -> sự dằn vặt, nỗi khổ về tinh thần của chị.

  1. Đánh giá:

– Búp pháp điển hình hóa nhân vật, đặt nhân vật vào những tình huống độc đáo của cuộc sống.

– Tấm lòng nhân ái của nhà văn được cảm nhận qua nỗi xót thương cho những bất hạnh, lòng trân trọng trước những phẩm chất đáng quí của nhân vật. Và đáng nói hơn tác phẩm là tiếng kêu cứu về số phận con người sau chiến tranh.

 

ĐỀ SỐ 77. HÀN THUYÊN BẮC NINH LẦN 3

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012)

Có biết bao người con gái con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

(Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012)

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí. “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ. Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác vào cuối năm 1971 (đoạn trích trong SGK chỉ là một phần của chương này). Có thể nói đây là chương hay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của bản trường ca – tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”.

– Hai đoạn thơ trên đã tập trung thể hiện vẻ đẹp của tình yêu nước, sự hi sinh cao cả của các thế hệ con người Việt Nam trong chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc.

2.2 Trình bày cảm nhận:

a/ Đoạn thơ trong bài Tây Tiến:

Thí sinh có thể có những cách trình bày khác nhau, nhưng cần làm nổi bật:

– Hiện thực gian khổ, khắc nghiệt và những mất mát to lớn trong chiến tranh “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “Áo bào thay chiếu anh về đất”

– Tinh thần yêu nước, anh dũng và sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến. Ở họ luôn ngời lên tinh thần quả cảm, sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ cho đất nước “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

– Lời thơ là lời ai điếu dữ dội của thiên nhiên tiễn đưa linh hồn tử sĩ. Ngòi bút vừa hiện thực vừa lãng mạn, giọng điệu vừa bi thương vừa hùng tráng, nói giảm nói tránh, thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ trang trọng, cổ kính qua hệ thống từ Hán Việt….

b/ Đoạn thơ trong bài Đất nước:

Thí sinh có thể có những cách trình bày khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được sự khám phá về đất nước dưới góc nhìn lịch sử.

– Nhà thơ bộc lộ lòng trân trọng ngợi ca, biết ơn với nhân dân – những người anh hùng vô danh đã cống hiến, hi sinh một cách tự nguyện, thầm lặng để làm nên đất nước.

– Thể thơ tự do với những câu dài ngắn linh hoạt, ngôn ngữ bình dị; giọng điệu tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng dễ đi vào lòng người.

2.3 Đánh giá:

Qua việc so sánh cần làm rõ vẻ đẹp riêng của 2 ngòi bút:

– Sự tương đồng:

Hai đoạn thơ cùng ngợi ca tinh thần yêu nước của những người đã ngã xuống trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước. Họ hi sinh một cách tự nguyện, thanh thản, nhẹ nhàng mà thầm lặng.

– Sự khác biệt:

+ Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến”, ra đời vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, khắc họa vẻ đẹp rất hào hùng, bi tráng của người lính Tây Tiến, họ là những con người cụ thể – những chàng trai xuất thân từ Hà Nội, lần đầu lên miền Tây hoang vu, xa xôi để chiến đấu với lí tưởng cao đẹp. Giọng điệu vừa bi thương vừa hùng tráng, biện pháp nói giảm, nói tránh, thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ trang trọng, cổ kính, thể hiện rõ hồn thơ Quang Dũng tinh tế, hào hoa, đậm chất lãng mạn.

+ Đoạn thơ trong đoạn trích “Đất nước” ra đời trong kháng chiến chống Mĩ, khắc họa hình ảnh tập thể (nhân dân) dưới góc nhìn lịch sử, trân trọng những người bình dị, vô danh nhưng đã làm ra đất nước. Thể thơ tự do, bộc lộ rõ phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm: giàu chất suy tư, càm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư của người trí thức đứng về nhân dân.

 

ĐỀ SỐ 78. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH

Kết thúc đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”.

Kết thúc truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong óc Tràng vẫn thấy “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.

Cảm nhận của anh (chị) về hai chi tiết nghệ thuật trên.

  1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và chi tiết cần cảm nhận.

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”

– Kết thúc hai tác phẩm là hai chi tiết nghệ thuật đặc sắc.

  1. Cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của hai chi tiết:
  2. Chi tiết cuối trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ’’ của Tô Hoài:

Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật các ý chính sau:

– Thuật dựng lại chi tiết: Nằm ở phần cuối đoạn trích; trước tình huống A Phủ bị trói đứng, đang giữa ranh giới mỏng manh của sự sống và cái chết, Mị đã rút con dao nhỏ vẫn dùng để cắt lúa, cắt sợi dây mây, cởi trói cho A Phủ, rồi “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”.

– Ý nghĩa nội dung của chi tiết: Thể hiện sức sống tiềm tàng, tinh thần phản kháng âm ỉ, quyết liệt của Mị mà lần phản kháng sau bao giờ cũng cũng quyết liệt, mạnh mẽ hơn so với lần trước; phản ánh chân thực quy luật cuộc sống “tức nước vỡ bờ”, “có áp bức có đấu tranh ” và con đường đấu tranh đến với cách mạng đi từ tự phát đến tự giác của Mị, cũng là con đường mà người dân Tây Băc đã đi; bộc lộ thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà văn với khát vọng sống mãnh liệt của Mị, tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời nhân vật, đem lại giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ cho tác phẩm.

– Ý nghĩa về nghệ thuật của chi tiết: Góp phần khác hoạ rõ nét nhân vật, hợp quy luật vận động và phát triển của tâm lí, tính cách; tạo sự vận động cùa côt truyện theo lôi kết thúc “có hậu” thường thấy cùa văn học cách mạng sáng tác theo cảm hứng lãng mạn đương thời.

  1. Chi tiết cuối truyện ngẳn “Vợ nhặt ” của Kim Lân:

Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được các ý chính sau:

– Thuật dựng lại chi tiết: Xuất hiện ở phần cuối tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân, trong tình huống sau bữa cơm đón “nàng dâu mới” của bà cụ Tứ, nghe tiếng trống thúc thuế ở đình làng, người vợ nhặt hết sức ngạc nhiên nói với mẹ con bà cụ Tứ: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa dâu. Người ta còn phá cả kho thóc Nhật, chia cho người đói nữa đấy”, trong óc Tràng hơn một lần thấy “đám người đói và lá cờ đó bay phấp phới”.

– Ý nghĩa nội dung của chi tiết: Gợi tả không khí sục sôi của cách mạng Việt Nam thời kì tiền khởi nghĩa (phong trào phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo); hé mở với người đọc con đường mà mẹ con bà cụ Tứ sẽ đi theo, thể hiện khát vọng sống mãnh liệt và niềm tin tươi sáng vào tương lai của người nông dân; gửi tới người đọc bức thông điệp: chỉ có cách mạng mới có thể giúp người nông dân thoát khỏi cái đói, cái nghèo, thể hiện khát vọng muốn đổi đời cho họ của Kim Lân, đem lại giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ cho Vợ nhặt.

– Ý nghĩa về nghệ thuật của chi tiết: Góp khắc hoạ tính cách, tâm lí nhân vật, tạo ra lối kết thúc “có hậu”, thể hiện cảm hứng lãng mạn, niềm tin vào tương lai tươi sáng của nhà văn.

  1. Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của hai chi tiết để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi chi tiết.

Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục, làm nổi bật được:

– Nét tương đồng: Cả hai chi tiết đều góp phần khắc họa tính cách nhân vật, biểu hiện tình cảm yêu thương, trân trọng của nhà văn với những giá trị phẩm chất, những khát vọng chính đáng cùa con người, tạo nên những lối kết thúc “có hậu”, và giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của các tác phẩm và thể hiện kì công tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sĩ trong việc xây dựng những “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn ” (Goor-ki).

– Sự khác biệt: Kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân mới chỉ hé mở tương lai tươi sáng cho mẹ con bà cụ Tứ. Còn kết thúc đoạn trích Vợ chồng A Phủ, sau khi và “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”cuộc đời Mị và A Phủ đã sang trang. Họ đã hoàn toàn được giải phóng khỏi kiếp dâu gạt nợ nhà thống lí, xây dựng cuộc sống mới ở Phiềng Sa và tham gia phong trào cách mạng chung của dân tộc.

  1. Đánh giá:

– Hai chi tiết kết thúc hai tác phẩm là những chi tiết đặc sắc, không chỉ thể hiện tài

năng mà còn cả tấm lòng của hai tác giả. Tô Hoài và Kim Lân xứng đáng là những cây bút tài hoa của nền văn học Việt Nam.

 

ĐỀ SỐ 79. CHUYÊN THÁI NGUYÊN LÀN 2

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của hình ảnh bát cháo hành trong truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao) và hình ảnh nồi cháo cám trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (Kim Lân)

  1. Giới thiệu chung về các tác giả, tác phẩm và hai hình ảnh:

– Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Chí Phèo (1941) là kiệt tác đã kết tinh cao nhất đặc điểm nghệ thuật của nhà văn.

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía. Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của đời văn Kim Lân nói riêng và văn học kháng chiến nói chung.

– Hình ảnh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt đều là những hình ảnh đặc sắc, góp phần thể hiện rõ nét nội dung tư tường của các tác phẩm và tài năng của các nhà văn.

  1. Trình bày cảm nhận:

a/ Hình ảnh bát cháo hành:

* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện. Chí Phèo say rượu, gặp Thị Nở ở vườn chuối. Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo. Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm. Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn.

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Thể hiện sự chăm sóc ân cần, tình thương vô tư, không vụ lợi của thị Nở khi Chí Phèo ốm đau, trơ trọi.

+ Là biểu hiện của tình người hiếm hoi mà Chí Phèo được nhận, là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng.

+ Là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí, gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo.

– Về nghệ thuật:

+ Là chi tiết rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật.

+ Góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao: tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người.

b/ Hình ảnh nồi cháo cám:

* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở cuối truyện, trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ.

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Đối với gia đình Tràng, nồi cháo cám là món ăn xua tan cơn đói, là món ăn duy nhất của bữa tiệc cưới đón nàng dâu mới về. Qua đó, tác giả đã khắc sâu sự nghèo đói, cực khổ và rẻ mạt của người nông dân trong nạn đói 1945.

+ Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ.

Bà cụ Tứ hiện lên là một người mẹ đảm đang, yêu thương con hết mực.

Vợ Tràng đã có sự thay đổi về tính cách. Hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưng người con dâu mới vẫn điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ chồng. Chứng tỏ, Thị không còn nét cách chỏng lỏn như xưa nữa mà đã chấp nhận hoàn cảnh, đã thực sự sẵn sàng cùng gia đình vượt qua những tháng ngày khó khăn sắp tới.

+ Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng. Trong hoàn cảnh đói kém, mẹ con Tràng dám cưu mang, đùm bọc thị, chia sẻ sự sống cho thị. Bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, đem nồi cháo cám ra đãi nàng dâu vốn để làm không khí vui vẻ hơn.

– Về nghệ thuật: Chi tiết góp phần bộc lộ tính cách các nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả Kim Lân trong việc lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn.

  1. So sánh:

– Giống nhau:

+ Cả 2 hình ảnh đều là biểu tượng của tình người ấm áp.

+ Đều thể hiện bi kịch của nhân vật và hiện thực xã hội: Ở “Chí Phèo” là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người [bát cháo hành rất bình di, thậm chí là nhỏ bé, tầm thường nhưng đó là lần đầu tiên Chí được cho mà không phải đi cướp giật]. Ở “Vợ nhặt”, số phận con người cũng trở nên rẻ mạt.

+ Đều thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, cái nhìn tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu thương con người của các nhà văn.

– Khác nhau:

+ Bát cháo hành: biểu tượng của tình thương mà thị Nở dành cho Chí Phèo nhưng xã hội đương thời đã cự tuyệt Chí, đẩy Chí vào bước đường cùng. Qua đó, chúng ta thấy bộ mặt tàn bạo, vô nhân tính của XH thực dân nửa phong kiến cũng như cái nhìn bi quan, bế tắc của nhà văn Nam Cao.

+ Nồi cháo cám: biểu tượng tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng vào phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động trong nạn đói. Sau bát cháo cám, mọi người nói chuyện về Việt Minh. Qua đó, thức tỉnh ở Tràng khả năng c/mạng. Như vậy ở Kim Lân có cái nhìn lạc quan, đầy tin tưởng vào sự đổi đời của nhân vật, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

+ Có sự khác nhau đó là do ảnh hưởng của lí tưởng Cách mạng với mỗi nhà văn [chú ý thời điểm sáng tác các tác phẩm]

 

ĐỀ 80. CHUYÊN LONG AN – LẦN 2

Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp độc đáo của hai đoạn văn sau:

Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

(Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân)

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.

(Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng phủ Ngọc Tường)

  1. Giới thiệu về các tác giả, tác phẩm:

– Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Ông suốt đời tìm kiếm và khẳng định những giá trị nhân văn cao quý, với những nét phong cách nổi bật, tài hoa, uyên bác, hiện đại mà cổ điển. Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân, được in trong tập “Sông Đà” (1960)

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tùy bút đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Giới thiệu hai đoạn văn.

  1. Phân tích vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của hai đoạn văn:
  2. Đoạn văn trích từ bài “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân:

 * Nội dung:

– Cảnh bờ sông dựng vách thành:

+ Cảnh bờ sông dựng đứng như vách thành được miêu tả rất ấn tượng: “những cảnh đá bờ sông dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu, “Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia” -> Sông Đà chảy trôi giữa những bờ vách đá dựng đứng. Nguyễn Tuân đã dùng những liên tưởng, so sánh khác nhau để đặc tả một khúc sông hẹp với những bờ váh đá cao vút, vừa sâu tối, vừa lạnh.

+ Nhà văn còn miêu tả sông Đà bằng các giác quan cả bên ngoài và bên trong làm cho người đọc thấy rõ cái hiểm của sông Đà.

– Cảnh ghềnh đá đáng sợ:

+ “…dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy” -> kiểu cấu trúc câu trùng điệp đã mở ra cảnh mặt ghềnh với đá, với sóng, với gió. Cách ngắt nhịp ngắn diễn tả sự vận động, sự va đập và cả sự hoang sơ, dữ dội của thiên nhiên.

+ Nghệ thuật nhân hóa cùng với các từ láy: “cuồn cuộn”, “gùn ghè”…diễn tả nhịp điệu gấp gáp, hối hả của đá xô sóng, sóng xô gió. Những câu văn này đã gợi cảnh hãi hùng của nước, của đá, của sóng trước mắt người đọc.

+ Cách nói “đòi nợ xuýt” độc đáo, làm cho người đọc hình dung rõ những nguy hiểm, những tai họa bất ngờ mà sông Đà có thể gây ra cho con người.

* Nghệ thuật:

Nghệ thuật độc đáo với ngôn từ mới lạ, phép trùng điệp, so sánh, nhân hóa, liên tưởng tưởng tượng,…

  1. Đoạn văn trích từ bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

 * Nội dung:

– Vẻ đẹp mạnh mẽ, hoang sơ:

+ “rầm rộ”, “mãnh liệt”, “cuộn xoáy” -> miêu tả cụ thể dòng chảy mang giai điệu, tiết tấu vừa hùng  tráng, vừa dữ dội. Người đọc thấy được vẻ đẹp của âm sắc trên dòng sông.

+ So sánh “nó đã là một bản trường ca của rừng già”, “cuộc xoáy như cơn lốc” -> làm nổi bật sự mạnh mẽ, hoang sơ của dòng sông ở thượng nguồn là một dòng gian truân, không kém phần kì lạ, bí ẩn.

+ Nghệ thuật nhân hóa kết hợp với so sánh: “sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại” -> dòng sông hiện lên như một sinh thể có hồn, như một cô gái mạnh mẽ, đầy cá tính.

+ Những câu văn có vẻ như giải thích: “Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” -> Tô đậm vẻ đẹp sống động của sông Hương, vẻ đẹp chứa đựng sự bí ẩn, hoang sơ.

– Vẻ đẹp dịu dàng, say đắm:

+ Lời văn như khẳng định: “cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” -> những từ ngữ gợi tả tạo nên một không gian rực rỡ sắc màu. Giữa không gian ấy là dòng sông dịu dàng, say đắm và tràn ngập sức sống.

+ Sông Hương nhanh chóng mang một sắc thái dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở

*Nghệ thuật:

– Nhà văn có sự quan sát tinh tế, trí tưởng tượng phong phú, sử dụng nghệ thuật độc đáo trong việc sáng tạo hình ảnh, câu văn dài mà khúc chiết, nhịp nhàng, nhiều biện pháp tu từ hợp lí, gợi lên những liên tưởng kì thú, hấp dẫn.

  1. Điểm tương đồng và khác biệt:

– Sự tương đồng: làm sống dậy vẻ đẹp hùng vĩ ở khúc thượng nguồn của dòng sông; tình cảm mãnh liệt với thiên nhiên, quê hương xứ sở của tác giả; văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, nhạc điệu.

– Sự khác biệt:

+ Đoạn văn của Nguyễn Tuân như khúc hùng ca trận mạc: sự dữ dội của dòng sông ở mức khủng khiếp; hình tượng vừa là kết quả của sự trải nghiệm, vừa tưởng tượng bay bổng; lời văn giàu chất văn xuôi, “xương xẩu”, “gồ ghề”.

+ Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường là khúc hùng ca – tình ca cuộc sống: dòng sông có vẻ đẹp phóng khoáng, man dại và trữ tình; hình tượng nghệ thuật có sự tích hợp vốn văn hóa sâu rộng; lời văn giàu chất thơ, mềm mại, hướng nội.

Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.

  1. Đánh giá:

– Chỉ qua hai đoạn văn ngắn ta có thể cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước sâu đậm của hai nhà văn, từ đó thêm yêu, thêm tự hào về cảnh sắc thiên nhiên quê hương mình.

– Trân trọng, ngưỡng mộ ngòi bút tài hoa của hai tác giả.

— HẾT —

hoangbach

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x