100 Bài tập Nghị luận văn học môn Ngữ Văn 12 Phần 1

PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC – PHẦN 1

  1. Mục lục

    VỢ CHỒNG A PHỦ LỤC NGẠN BẮC GIANG LẦN 1

Câu 2: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Mị trong đoạn văn sau:

“Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa. Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội.

Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ […] Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi:

Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu

Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới.

Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.

Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa.

Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mỵ thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.

Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm, nó còn muốn rình bắt

mấy người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mỵ nói gì.

Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mỵ muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách. A Sử đang sắp bước ra bỗng quay lại lấy làm lạ. Nó nhìn quanh, thấy Mị rút thêm cái áo. A Sử hỏi:

– Mày muốn đi chơi à?

Mị không nói. A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại.

Từ đoạn văn, nhận xét về nét đặc sắc nghệ thuật của cây bút Tố Hữu.

Cảm nhận về hình tượng nhân vật Mị trong đoạn văn trích “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài. Từ đoạn văn, nhận xét về nét đặc sắc nghệ thuật của cây bút Tố Hữu.

I Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

“Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung. Nhân vật Mị được tác giả tập trung xây dựng, khắc họa, trở thành điển hình cho số phận cay đắng, tủi cực của người lao động miền núi Tây Bắc thời kì trước cách mạng tháng Tám và quá trình họ tự đấu tranh, giải phóng mình.

– Đoạn trích khắc họa sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân.

II Phân tích:

1 Hoàn cảnh:

– Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc vào mùa xuân thật đẹp:

+ “Ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”

+ “Gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng”

-> Chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, diễn tả sự chuyển mình của đất trời từ mùa đông khắc nghiệt sang mùa xuân ấm áp.

– Cuộc sống của con người cũng thật sinh động:

+ Sắc màu: “những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ”…

+ Âm thanh: “đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”, “tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi”…

-> Sắc màu rực rỡ, âm thanh náo nức.

=> Đây là hoàn cảnh, tình huống đầy ý nghĩa, khơi gợi sức sống tiềm tàng của Mị.

2 Sức sống tiềm tàng của Mị:

– Mị ngồi nhẩm theo lời bài hát của người thổi sáo. Tiếng hát trong lòng Mị là một biểu tượng cho thấy sức sống bắt đầu hồi sinh. Tiếng hát ấy đã thôi thúc Mị có những hành động tiếp theo.

– Mị uống rượu: “lén lấy hũ rượu, cư uống ực từng bát”. ( Cách uống rượu rất lạ). Uống như muốn nuốt hận vào trong lòng, uống để quên đi thực tại và nén sâu nỗi xót xa tủi nhục. Hơi men làm thức dậy những kỉ niệm của ngày xưa, khiến Mị thấy “phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”.

-> Cảm giác vui sướng nhất của Mị trong suốt cả quãng đời.

– Mị ý thức rõ về mình:

+ “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”.

+ “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không còn buồn nhớ lại nữa”

-> Sự phản kháng quyết liệt với hoàn cảnh bi đát của mình.

-> Ý thức để rồi thấm thía cho nỗi đau thân phận.

– Hàng loạt hành động có ý nghĩa:

+ “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Ánh sáng của ngọn đèn trong căn buồng Mị là ánh sáng của sự sống. Nó được chắt chiu trong cái khắc nghiệt của hoàn cảnh. Mị đã lấy ánh sáng trong lòng mình để thắp sáng cuộc đời.

+ “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách.”

-> Sức sống được miêu tả qua sự trở về của nữ tính. Khát vọng về hạnh phú, về tự do đang trỗi dậy trong Mị.

– Sức sống của Mị ngay lập tức bị A Sử đàn áp: “A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà”

-> Hành động chặn đứng khao khát của Mị, càng tô đậm hơn nỗi cơ cực, cay đắng, tủi nhục của Mị khi ở nhà thống lí Pá Tra.

3 Đặc sắc nghệ thuật của cây bút Tô Hoài:

– Nghệ thuật khắc họa nhân vật:

+ Khi khắc họa nhân vật, ngòi bút Tô Hoài đã diễn tả tinh tế, chân thực những biểu hiện tâm lí phức tạp, đầy mâu thuẫn của nhân vật, đặc biệt là nhân vật Mị.

+ Ngòi bút của Tô Hoài cũng có khả năng cá tính hóa nhân vật. Nhà văn đã quan sát nhân vật từ các góc nhìn khác nhau. Nhân vật Mị được miêu tả chủ yếu ở đời sống nội tâm và Mị là kiểu nhân vật tâm trạng.

– Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn. Truyện được kể chủ yếu ở ngôi thứ ba, từ điểm nhìn của những người ở Hồng Ngài. Nhip kể chậm, giọng kể trầm lắng chứa đầy cảm thông, xót xa. Giọng trần thuật nhiều khi đã hòa vào tiếng nói bên trong nhân vật.

– Sáng tạo các chi tiết đặc sắc: chi tiết tiếng sáo…

– Thành công trong việc miêu tả bức tranh thiên nhiên, am hiểu phong tục tập quán của người dân vùng cao.

III Đánh giá:

Ngòi bút của Tô Hoài rất tinh tế khi miêu tả sức sống bền bỉ trong tâm hồn Mị. Sức sống đó như một hạt mầm căng tràn, xuyên qua lớp đất đá để thấy bầu trời tự do khi mùa xuân về.Qua đây ta càng thêm cảm phục tài năng của Tô Hoài.

 

  1. ĐẤT NƯỚC “NGUYỄN KHOA ĐIỂM”CHUYÊN BẮC GIANG LẦN 2

Câu 2 (4.0 điểm):

Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện như thế nào trong đoạn thơ sau:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước

những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên

 Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

 Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…

(Đất nước – Trích Trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm, SGK Ngữ Văn 12 Cơ Bản – tr. 120)

Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện như thế nào trong đoạn thơ. 1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị- Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miềnNam vùng tạm chiếm về non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc.

– Đoạn trích Đất Nước (thuộc phần đầu của chương V) thể hiện một cách cảm nhận mới về Đất Nước: Đất Nước của Nhân dân. Tư tưởng đó được thể hiện rõ qua đoạn thơ:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

 …

 Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”

 2 Nội dung chính:

2.1 Giải thích:

– Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân là tư tưởng nhằm xác định chủ quyển lãnh thổ: Nhân dân là người làm chủ Đất Nước -> Tư tưởng tiến bộ, thể hiện tinh thần dân chủ của xã hội mới.

Đất Nước của Nhân dân là tư tưởng nhằm đề cao vai trò của Nhân dân đối với lịch sử, ghi nhận những đóng góp hi sinh to lớn của Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Đất Nước.

2.2 Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được thể hiện trong đoạn thơ:

a Về nội dung:

* Đây là tư tưởng chủ đạo của toàn bộ trường ca, được cô đúc trong Chương V, đặc biệt là đoạn thơ này.

– Trước đoạn thơ, tư tưởng đó đã được thể hiện ở cách cảm nhận mới mẻ và độc đáo: Đất Nước được cảm nhận từ những sự vật nhỏ bé, bình dị, gần gũi (búi tóc của mẹ, miếng trầu của bà, cái kèo, cái cột…); ở cách diễn tả những cảm nhận đó bằng thứ ngôn ngữ đậm chất dân gian.

– Đến đoạn thơ này, tư tưởng đó tiếp tục được cảm nhận một cách tập trung và sâu sắc hơn trên bình diện không gian địa lí

-> Đoạn thơ đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Đất nước do ai tạo dựng?

* Học sinh có thể phân tích theo nhiều cách khác nhau nhưng cần chỉ ra được các ý cơ bản sau:

– Tám câu đầu: Nhân dân đã góp phần tạo dựng vóc dáng, gương mặt, hình hài Đất Nước:

+ Những người vợ nhớ chồng -> Núi Vọng Phu

+ Cặp vợ chồng yêu nhau -> Hòn Trống Mái

+ Gót ngựa Thánh Gióng -> Ao đầm

+ 99 con voi -> Đất Tổ Hùng Vương

+ Những con rồng -> Dòng sông

+ Người học trò nghèo -> Núi Bút, non Nghiên

+ Con cóc, con gà -> Thắng cảnh Hạ Long

+ Những người dân…-> Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

=> Nhân dân đã góp – tạo lập – tạo dựng Đất Nước.

– Hai câu tiếp: Đoạn thơ đi đến một khái quát:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

=> Tất cả vóc dáng, hình hài, gương mặt của Đất Nước là dáng hình, ao ước, lối sống của ông cha.

– Hai câu kết bay bổng trong cảm xúc tự hào. “Những cuộc đời“: không phải ai khác chính là Nhân dân

=> Đây là một cái nhìn mới mẻ, mang tính phát hiện.

* Tóm lại: Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân đã chi phối cảm xúc, tư tưởng của đoạn thơ nói riêng và cả trích đoạn nói chung.

b Về nghệ thuật: Tư tưởng đó đã chi phối cả yếu tố hình thức: ngôn ngữ của đoạn thơ:

– Tác giả khai thác triệt để chất liệu dân gian để sáng tạo ra cách nói

– ngôn ngữ của riêng mình: gợi lại gương mặt, hình hài Đất Nước, tác giả không nói bằng bờ cõi, lãnh thổ mà nói bằng núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, gót ngựa của Thánh Gióng….

-> Vừa gợi không gian dân dã vừa góp phần tô đậm tư tưởng Đất Nước của Nhân dân .

3 Đánh giá:

Đây không phải là một tư tưởng mới, nhưng trong thời điểm đó nó có một ý nghĩa to lớn:

– Làm cho mỗi con người Việt Nam đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam ý thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình đối với Đất Nước.

– Qua đó Nguyễn Khoa Điềm bày tỏ niềm tin của mình vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ và thắng lợi của Đất Nước

– Đất Nước của Nhân dân sẽ cùng Nhân dân trường tồn đến muôn đời.

 

  1. SÓNG XUÂN QUỲNH CHUYÊN HẢI DƯƠNG LẦN 1

Câu 2 ( 4 điểm)

Cảm nhận về vẻ đẹp của đoạn thơ sau:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn khóc

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương”

( Trích Sóng – Xuân Quỳnh, Dẫn theo Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014)

2 Cảm nhận về vẻ đẹp của một đoạn thơ trong “Sóng” của Xuân Quỳnh.

2.1 Giới thiệu chung

– Tác giả: Xuân Quỳnh (1942 – 1988) – một trong những gương mặt tiêu biểu cho các nhà thơ nữ thời chống Mĩ. Con đường thơ của chị gần một phần tư thế kỉ, khá phong phú về số lượng và tươi rói chất hiện thực đời sống. Thơ chị thấm đượm tình người và thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường.

– Sóng: một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ ca VN hiện đại nói chung.

– Đoạn trích: Khổ 5,6 của bài. Mượn hình ảnh sóng, Xuân Quỳnh đã bộc bạch nỗi niềm của người phụ nữ đang yêu -> vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ.

2.2 Cảm nhận:

a/ Khái quát chung:

– Tình yêu là một tình cảm thiêng liêng cao cả và huyền diệu nhất của con người, nhất là tình yêu ở trái tim người phụ nữ. Bằng hình tượng độc đáo, nhịp thơ, ngôn ngữ thơ đặc sắc, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã diễn tả được một cách tinh tế và duyên dáng tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.

– “Sóng” là nhan đề của bài thơ và cũng là hình tượng chủ đạo xuyên suốt cả bài. Sóng và em là 2 hình tượng đc miêu tả song song, khi tách rời, khi hòa quyện, đan xen, nhập vào làm một. Đó là một hình tượng ẩn dụ mang tính chất biểu tượng, biểu tượng cho trái tim người phụ nữ đang yêu.

b/ Phân tích:

b.1: Khổ 5: Khổ thơ đặc biệt nhất trong bài: có 6 câu thơ.

* 4 câu đầu: Hình tượng sóng trong không gian và thời gian.

– Không gian: lòng sâu, mặt nước

– Thời gian: ngày – đêm.

– Trạng thái: “nhớ bờ” không ngủ được”

-> Tình yêu luôn đồng hành với nỗi nhớ. Càng yêu nồng nàn, đắm say, thì càng nhớ da diết cháy bỏng. Đó là hai mặt của tình yêu, giống như 2 mặt của 1 tờ giấy.

=> Trong bài thơ này, nỗi nhớ niềm thương của người đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật cảm động và đầy nghệ thuật. Bằng phép ẩn dụ nhân hóa, các cặp từ đối lập “trên – dưới”, “ngày – đêm” và điệp từ “con sóng” láy lại 3 lần

=> Nỗi nhớ như bao trùm cả không gian bao la. Nó chiếm cả tầng sâu, bề mặt của tâm hồn. Và nó khắc khoải da diết trong mọi thời gian. Ta cảm nhận được tình yêu cồn cào, mãnh liệt, say đắm của sóng với bờ.

* 2 câu sau:

– Nỗi nhớ đầy ắp, tràn ngập không gian, thời gian nhưng dường như chỉ nói bằng 4 câu thơ là không đủ. Nhà thơ tiếp tục bộc lộ nỗi nhớ của mình bằng 2 câu thơ sau: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Hai câu thơ đã diễn tả được một cách thật xúc động và chân thực cõi lòng của người phụ nữ đang yêu bằng một tình yêu thật trong sáng và mãnh liệt. “Em” nhớ “anh” từ cõi thực đến cõi mơ. Cái thức trong giấc mơ mới là tình cảm thật nhất, sâu sắc nhất của cõi lòng.

– Nhưng ở đây, “thức” không chỉ vì nỗi nhớ mà với 1 ng phụ nữ nhiều trải nghiệm, đã từng, mất mát, đổ vỡ trong tình yêu như XQ thì dường như trong cái thức ấy còn chất chứa cả những lo âu, thấp thỏm. Nỗi lo ấy hơn 1 lần ta bắt gặp trong thơ XQ:

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn

Hôm nay yêu mai có thể xa rồi

Niềm đau đớn tưởng như vô tận

Bỗng có ngày thay thế một niềm vui

Hay:

“Lời yêu mỏng mảnh như màu khói

Ai biết tình anh có đổi thay”

=> Qua những cung bậc cảm xúc đó, ta cảm nhận đc tình yêu chân thành, cháy bỏng của nhà thơ.

b.2: Khổ 6: Khẳng định tấm lòng thủy chung, son sắt

* 2 câu đầu:

– Danh từ chỉ hướng trong không gian: Nam – Bắc -> sự xa xôi, cách trở.

– Cách nói rất lạ “xuôi Bắc – ngược Nam”: gợi sự gian truân, vất vả, hé mở những éo le, ngang trái, trắc trở có thể tiềm ẩn trong cuộc đời, trong tình yêu.

– Điệp cấu trúc: khiến tất cả những xa xôi, khó khăn, trắc trở ấy dường như nhân lên.

– Điệp từ “dẫu”: thường mở đầu câu ghép chính phụ với 2 vế tương phản. Dẫu khó khăn….thì e vẫn …. => bản lĩnh mạnh mẽ, cứng cỏi của ng phụ nữ.

* 2 câu sau:

– Khẳng định chắc nịch trái tim thủy chung, son sắt. Tình yêu ấy đã làm nên sự sáng tạo ngôn từ: “phương anh”.

– Nếu những câu trên tô đậm nỗi nhớ -> “nghĩ”, tức là cảm xúc -> suy tư. “Anh” đã trở thành một ám ảnh trong em.

=> Vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ VN trong tình yêu. Sự chung thủy, bản lĩnh mạnh mẽ, cứng cỏi, kiên cường chính là sức mạnh để tình yêu có thể vượt qua mọi trắc trở, đến bến bờ hạnh phúc.

c/ Tiểu kết:

Kết cấu song hành giữa “sóng” và “em”, thể thơ năm chữ, các sử dụng từ ngữ sáng tạo, giàu sức gợi, nhịp thơ cuộn trào trong khổ 5 => thể hiện sinh động và chân thực những cảm xúc trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

3 Tổng kết:

– Vẻ đẹp hồn thơ Xuân Quỳnh.

– Sức sống mãnh liệt của bài thơ.

 

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU CHUYÊN HÙNG VƯƠNG

Câu 2: (4,0 điểm)

Phong vị dân gian được thể hiện như thế nào trong đoạn thơ sau:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

 (Trích Việt Bắc – Tố Hữu, SGK Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, trang 84)

Phong vị dân gian được thể hiện như thế nào trong đoạn thơ sau:

1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình, chính trị.

– “Việt Bắc” là một thành công xuất sắc của ông. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954, thể hiện một cách tinh tế tình cảm cách mạng giữa những người kháng chiến và người dân Việt Bắc.

– Dẫn đoạn trích và khẳng định đoạn trích mang đậm phong dân gian.

2 Giải thích:

– “Phong vị dân gian”: Là chất dân gian, là màu sắc hương vị dân gian. Một bài thơ nói chung và một đoạn thơ nói riêng mang phong vị dân gian có nghĩa là trong đoạn thơ ấy, trong bài thơ ấy có dấu ấn của thơ ca dân gian.

– Phong vị dân gian trong đoạn thơ thấm sâu ở nôi dung tư tưởng và phong vị dân gian còn được tạo nên từ cách vận dụng nhuần nhuyễn những yếu tố nghệ thuật quen thuộc từ kho tàng văn học dân gian.

3 Phân tích, chứng minh:

3.1 Phong vị dân gian trước hết thấm sâu trong nội dung tư tưởng của đoạn thơ:

– Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ hướng đến cảnh sắc Việt Bắc, cuộc sống con người ở Việt Bắc, những địa danh ở Việt Bắc, từ đó khẳng định tình cảm khăng khít gắn bó keo sơn.

– Đây là 1 cách sống đã trở thành truyền thống của dân tộc và được thể hiện sâu đậm trong ca dao, dân ca. (Trong ca dao chúng ta thường xuyên gặp những câu thể hiện nghĩa tình gắn bó sâu nặng: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm…).

– Ở đoạn thơ trong bài Việt Bắc, chúng ta gặp lại những tình cảm, cảm xúc đó: tình cảm tha thiết, nghĩa tình sâu nặng với thiên nhiên, quê hương đất nước, với cuộc sống của đồng bào, với những địa danh, những mảnh đất mình từng gắn bó; là tình cảm của những người cán bộ về xuôi – những con người của thời đại hôm nay đã có gốc rễ trong truyền thống.

-> Được thể hiện nhiều trong những áng thơ ca dân gian.

3.2 Biểu hiện qua nghệ thuật: Trong đoạn thơ tác giả đã sử dụng rất linh hoạt các yếu tố nghệ thuật quen thuộc của thơ ca dân gian.

* Thể thơ: Thể thơ lục bát truyền thống rất phù hợp trong việc thể hiện nghĩa tình cách mạng. Đây cũng là thể thơ được sử dụng phổ biến nhất trong ca dao.

* Kết cấu: Kết cấu đối đáp trong khung ảnh chia tay lưu luyến -> mô típ quen thuộc trong ca dao, dân ca, khiến cho cấu tứ đoạn thơ, bài thơ giống như cấu tứ của ca dao: cuộc chia tay Việt Bắc giống như cuộc chia tay của đôi lứa với 2 nhân vật “mình” “ta” -> giãi bày tâm tư, tình cảm.

* Ngôn ngữ, hình ảnh:

– Ngôn ngữ:

+ Đại từ xưng hô “mình”, “ta” và cấu trúc lời thơ gợi nhớ đến những câu ca dao về tình cảm lứa đôi. Ở đây nhà thơ vận dụng ngôn ngữ của ca dao nhưng lại thể hiện tình cảm của con người trong thời đại mới -> mang nét nghĩa mới.

+ Bên cạnh đại từ “mình”, “ta” còn sử dụng những từ ngữ giống lời ăn tiếng nói của nhân dân -> giản dị, mộc mạc những cũng rất sinh động để diễn tả cảnh sắc Việt Bắc, con người Việt Bắc.

– Hình ảnh: nhiều hình ảnh quen thuộc của ca dao, dân ca; rất thích hợp với khung cảnh và tâm trạng: “trăng”, “núi”, “sương”, “khói”…

* Âm điệu, giọng điệu:

– Âm điệu ngọt ngào, tha thiết, quyến luyến.

– Giọng điệu trữ tình ngọt ngào như những lời ru trong ca dao, dân ca, đưa người đọc vào thế giới của kỉ niệm.

4 Đánh giá:

– Phong vị dân gian được biểu hiện ở cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật. Nhờ thấm đượm phong vị ca dao, dân ca mà bài thơ đã tạo được sự hòa quyện thống nhất giữa nội dung mang tính cách mạng với truyền thống tư tưởng và tính dân tộc. Tính mới mẻ của thời đại nhập vào mạch dân tộc một cách tự nhiên.

– Đây là yếu tố làm nên phong cách thơ Tố Hữu: đậm đà tính dân tộc.

 

  1. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – CHUYÊN NGHỆ AN

Câu 2: (5 điểm)

Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng thành vách, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời. Có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ này qua bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở một hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà cao thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Lống, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tong thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô to sang số nhấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vút biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới…”

(Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà, SGK Ngữ văn 12, tập 1, trang 186, NXB GD, 2007)

Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của dòng sông Đà trong đoạn trích trên? Từ đó, hãy chỉ ra những đặc điểm của phong cách nghệ thuật tùy bút Nguyễn Tuân.

2 Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của dòng sông Đà trong đoạn trích trên? Từ đó, hãy chỉ ra những đặc điểm của phong cách nghệ thuật tùy bút Nguyễn Tuân.

2.1 Giới thiệu chung:

“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa”(Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu”.

“Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong “ Tùy bút sông Đà”. Trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng con sông Đà vừa hung bạo, dữ dội, là “kẻ thù số một” của con người, vừa là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa – trữ tình, thơ mộng, làm say đắm lòng người.

– Đoạn trích trên thuộc phần đầu tác phẩm, miêu tả một Sông Đà hung bạo, dữ dằn, đồng thời thể hiện rõ đặc điểm phong cách tùy bút Nguyễn Tuân.

2.2 Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà:

– Vách đá đá bờ sông dựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chặt lấy lòng sông hẹp. Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách:

+ “Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời

+ “Con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ can nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ bên này qua bên kia vách…” -> So sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ và lạ lùng.

– Gió trên sông Đà: “Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …” -> bằng lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp, gợi hình ảnh con sông Đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người.

Những hút nước ở quãng Tà Mường Vát: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “chỗ giếng nước sâu ặc ặc lên …” những cái hút nước lôi tuột bè gỗ xuống hoặc hút những chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác” -> Lối so sánh độc đáo khiến con sông Đà không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần và uy hiếp con người.

=> Sông Đà với vẻ đẹp hung bạo, mạnh mẽ, như sẵn sàng thách thức tất cả, là kẻ thù của con người.

2.3 Đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân:

– Phong cách nghệ thuật là nét riêng, nét đặc sắc trong cách cảm nhận và khám phá thế giới của nhà văn, thể hiện qua nội dung và hệ thống bút pháp nghệ thuật độc đáo. Nguyễn Tuân gọi nghề văn là nghề sáng tạo trên pháp trường trắng, để lại dấu ấn riêng của mình trên trang viết

– Nội dung của tác phẩm Nguyễn Tuân là hướng đến những cái đẹp và thể hiện những cảm xúc mãnh liệt: đẹp đến độ con người thì phải là tài hoa nghệ sĩ, cảnh vật cũng phải có một không hai.

– Vận dụng kiến thức phong phú, nhất là ngôn từ ở các ngành quân sự, võ thuật, điện ảnh,… để miêu tả con sông ở nhiều góc độ.

– Sử dụng thể văn tùy bút phóng khoáng, thể hiện sự tài hoa, uyên bác của nhà văn:

+ Sông Đà được khắc họa bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, cùng hệ thống từ vựng phong phú, giàu có.

+ Sử dụng nhiều câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ.

2.4 Tổng kết:

– Đoạn văn tuy ngắn nhưng thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật tùy bút của tác giả.

– Khẳng định tình yêu quê hương đất nước của nhà văn.

  1. SÓNG – XUÂN QUỲNH CHUYÊN LÀO CAI

Câu 2. (4,0 điểm)

Bàn về đặc điểm cái tôi trong bài thơ Sóngcủa Xuân Quỳnh, có ý kiến cho rằng: Đó là cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt. Lại có ý kiến khẳng định: Bài thơ đã thể hiện một cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người.

Từ cảm nhận về cái tôi của nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Cảm nhận về cái tôi của nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng.

1 Giới thiệu chung:

– Là một trong những người viết thơ tình có sức hấp dẫn nhất trong thơ Việt nam từ đầu thập kỉ 60(của TK XX), Xuân Quỳnh vừa choinh phục bạn đọc bằng một tiếng nói dung dị,chân thành vừa giàu trực cảm vừa lắng sâu trải nghiệm.

– Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh viết năm 1967 tại biển Diêm Điền

– Thái Bình, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” . Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh.

– Trích dẫn 2 ý kiến.

2 Cảm nhận về cái “tôi” trong bài thơ làm sáng tỏ 2 ý kiến:

a Giải thích 2 ý kiến:

– Cái tôi là cái bản ngã, là tâm trạng, cảm xúc, là thế giới tâm hồn riêng của nhà thơ trước hiện thực khách quan. Qua cái tôi, ta có thể thấy được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng… của nhà thơ trước cuộc đời.

– Khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt: là những mong muốn, khát khao trong cuộc sống và tình yêu được đẩy lên đến cao độ, nồng nàn.

– Cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người: là cái tôi tinh tế trong cảm nhận, trăn trở suy tư khi nhận ra sự mong manh trong tình yêu và sự ngắn ngủi của đời người.

=> 2 ý kiến, 2 góc nhìn khác nhau song đều hướng vào khám phá thế giới tâm hồn của nhà thơ.

b Cảm nhận về cái tôi trong bài “Sóng”:

Hình ảnh cái tôi Xuân Quỳnh được thể hiện song hành, gắn bó với hình tượng “sóng“, khi tách rời, khi nhập vào làm một.

* Cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt:

– Cái tôi với nhiều cung bậc cảm xúc trong tình yêu giống như qui luật của sóng trên biển cả: lúc mạnh mẽ lúc dịu dàng, đầy nữ tính: dữ dội và dịu êm/ ồn ào và lặng lẽ. Cái tôi ấy luôn khát khao được sống đúng với cá tính của mình, được thấu hiểu và được yêu thương nên đã dấn thân vào hành trình gian truân tìm kiếm hạnh phúc, hướng tới tình yêu chân thành, đích thực: sông không hiểu nổi mình/ sóng tìm ra tận bể.

– Cái tôi còn khát vọng khám phá bản chất, nguồn gốc của tình yêu, để rồi nhận ra rằng tình yêu là bí ẩn như là sóng và không thể nào lí giải được.(Khổ 3,4)

– Cái tôi mang nỗi nhớ nồng nàn da diết vượt qua mọi khoảng cách không gian, mọi giới hạn thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi cả vào trong tiềm thức, xâm nhập cả vào những giấc mơ. (Khổ 5,6)

– Cái tôi khát vọng và tin tưởng tình yêu chung thuỷ sẽ vượt qua những biến động của cuộc sống, những thăng trầm của cuộc đời để đến được bến bờ hạnh phúc. (Khổ 7,8)

* Cái tôi nhạy cảm day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người:

– Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược” chất chứa dự cảm về những trắc trở trong tình yêu. “Phương Bắc”, “phương Nam”: gợi không gian xa cách, ẩn giấu những phấp phỏng lo âu về sự cách trở. Như vậy, ngay cả khi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, say đắm, lòng người phụ nữ vẫn không tránh khỏi những dự cảm không lành.

– Cái tôi tìm cách hoá giải nghịch lý và nỗi day dứt ấy bằng khát vọng hoá thân vào sóng, hoà nhập vào biển lớn tình yêu để tình yêu được bất tử hóa, vượt qua sự hữu hạn của đời người. (Khổ 9)

* Nghệ thuật thể hiện:

– Cái tôi trong Sóng được thể hiện bằng thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu chân thành, da diết, riêng khổ 5 là khổ duy nhất trong bài gồm 6 câu thơ, như một sự phá cách để thể hiện một trái tim yêu tha thiết, nồng nàn.

– Ngôn ngữ bình dị với thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương phản, đối lập, các điệp từ; cặp hình tượng sóng và em vừa sóng đôi, vừa bổ sung hoà quyện vào nhau cùng diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của cái tôi thi sĩ.

3 Bình luận, lí giải 2 ý kiến:

Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau thể hiện sự nhìn nhận toàn diện về cái tôi của thi sĩ; giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và thấu đáo hơn về vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Đặt bài thơ vào hoàn cảnh ra đời của nó – đó là những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang vô cùng căng thẳng và đặt trong cảnh ngộ riêng của nhà thơ – từng đổ vỡ trong tình yêu, chúng ta sẽ thấu hiểu vì sao trong cái tôi Xuân Quỳnh lại có những thái cực cảm xúc tưởng chừng đối lập như vậy.

– Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Với trái tim yêu nồng nàn, tha thiết, Xuân Quỳnh mãi là nhà thơ tình được nhiều độc giả trong và ngoài nước yêu thương, mến mộ.

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU NGUYỄN HUỆ LẦN 1

Câu 2. (4,0đ)

Có ý kiến cho rằng: Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son; vừa là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến. Qua đoạn trích đã học, anh /chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son; vừa là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến.

 Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình, chính trị.

– “Việt Bắc” là một thành công xuất sắc của ông. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954, thể hiện một cách tinh tế tình cảm cách mạng giữa những người kháng chiến và người dân Việt Bắc.

– Nêu ý kiến: Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son; vừa là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến.

3 Phân tích, chứng minh:

3.1 “Việt Bắc” là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son:

– Bài thơ ra đời gắn với một sự kiện chính trị: Cơ quan TƯ của Đảng và chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội. Tố Hữu đã sáng tạo thành khúc hát giao duyên, câu chuyện tâm tình. Vì thế, bài thơ như một khúc tình ca, bao trùm là nỗi nhớ thiết tha.

– Việt Bắc được kết cấu theo lối đối đáp giao duyên của ca dao: Giữa hai nhân vật “mình – ta” (lời đối đáp giữa người đi và kẻ ở) Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Nhắc lại những kỉ niệm, hồi ức đẹp của những tháng ngày gian khổ trong “mười lăm năm kháng chiến” gắn bó với vùng đất cách mạng.

– Khắc sâu trong nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng về xuôi là hình ảnh ảnh và người Việt Bắc:

+ Thiên nhiên Việt Bắc vừa thực, vừa thơ mộng: Có ánh trăng lên đầu núi, sương sớm, nắng chiều; núi, rừng, sông, suối,…với những cái tên quen thuộc; với cảnh đẹp bốn mùa: đông, xuân, hạ, thu.

+ Con người Việt Bắc: Bình dị, cần cù trong lao động; thủy chung, ân nghĩa với cách mạng. Đó là sự đồng cam cộng khổ, cùng chung niềm vui và cùng gánh vác những nhiệm vụ nặng nề của cách mạng, của dân tộc.

– Âm điệu thơ lục bát nhẹ nhàng, ngân nga; ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh; những biện pháp nghệ thuật quen thuộc trong thơ ca dân tộc (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, liệt kê, lặp, đối…) đã làm sáng lên vẻ đẹp trong truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam: Uống nước nhớ nguồn; đùm bọc, yêu thương; đoàn kết…

3.2 “Việt Bắc” là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến:

– Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được tái hiện sinh động. Việt Bắc hiện lên như một dũng sĩ hiên ngang; các ngả đường tiến quân “rầm rập” như gọng kìm xiết chặt quân thù.

– Bức tranh Việt Bắc ra quân giữa một không gian núi rừng rộng lớn: Những đoàn người tấp nập: Bộ đội, dân công, những đoàn xe… Tiến ra trận có đủ mọi tầng lớp, là khối đoàn kết toàn dân tộc:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

Hình ảnh kì vĩ, âm thanh hào hùng, sôi nổi, khí thế náo nức, khẳng định sức mạnh của một dân tộc.

– Những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh, với tên đất, tên núi: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Cao – Lạng, Điện Biên,…

Việt Bắc là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.

– Bằng những biện pháp nhân hóa, cường điệu; bút pháp lãng mạn kết hợp khuynh hướng sử thi… tạo nên những hình ảnh kì vĩ, bay bổng. Vẫn là thể thơ lục bát nhưng Tố Hữu lại biến hóa từ giọng điệu tha thiết, êm ái thành giọng điệu hào hùng, sảng khoái sáng tạo hiếm có ở thể thơ này.

4 Đánh giá, kết thúc vấn đề:

– Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến trên và sáng tạo độc đáo của nhà thơ Tố Hữu.

– Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích nói riêng, của thơ Tố Hữu nói chung và sức sống của tác phẩm trong lòng độc giả.

  1. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 2

Câu 2. (4,0 điểm)

Anh/chị hãy phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông hung dữ trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. Từ đó, hãy cắt nghĩa vì sao, trong con mắt của tác giả, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta.

Anh/chị hãy phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông hung dữ trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. Từ đó, hãy cắt nghĩa vì sao, trong con mắt của tác giả, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta.

1 Giới thiệu chung:

“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa” (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu. Ông được mệnh danh là “Người suốt đời đi tìm cái đẹp“.

“Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong tùy bút “Sông Đà”.

– Tác giả đã khắc họa thành công hình tượng người lái đò – chất “vàng mười” của Tây Bắc nói riêng và đất nước ta nói chung.

2 Phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông Đà hung dữ:

– Thoạt nhìn đó là cuộc đấu không cân sức. Bởi đó là trận đấu mà ở bên này là một thiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc, với sức mạnh được nâng lên hàng thần thánh, có sóng nước hò reo quyết vật ngửa mình thuyền, có thạch trận với ba lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm; còn bên kia là con người bé nhỏ, không hề có phép màu, vũ khí trên tay chỉ là chiếc cán chèo-những chiếc que thật mỏng manh trước nguy nga sóng thác-trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi.

– Vậy mà thác dữ không chặn bắt được con thuyền. Cuối cùng vẫn là con người chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên, vẫn là con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận, để những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua bộ mặt xanh lè. Người lái đò đã đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng mà thuần phục sự hung hãn của dòng sông.

– Nguyễn Tuân cho thấy, nguyên nhân làm nên chiến thắng của con người không hề bí ẩn. Đó chính là sự ngoan cường, chí quyết tâm, và nhất là kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh đã giúp cho con người nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, để từ đó khuất phục dòng thác hồng hộc hơi thở của hùm beo.

– Để miêu tả cho thật hùng tráng và hấp dẫn cuộc thủy chiến giữa ông lái đò với thác dữ sông Đà, Nguyễn Tuân đã tung ra đạo binh ngôn từ hùng hậu cùng tất cả sự tài hoa, uyên bác trong ngòi bút của mình.

3 Lí giải:

– Từ việc làm rõ sức mạnh, sự ngoan cường, chí quyết tâm, kinh nghiệm đò giang của người lái đò-một người lao động bình thường trên mảnh đất Tây Bắc nước ta- qua cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chúng ta hiểu rằng, chẳng phải tình cờ khi, để nói về màu sắc của núi sông, Nguyễn Tuân chỉ dùng một chữ vàng. Để rồi sau đó, ông sẽ dùng chữ vàng mười để gọi tên vẻ đẹp và giá trị quý báu của con người lao động. Điều đó chứng tỏ, trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả Người lái đò sông Đà, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả.

Người lái đò sông Đà chính là khúc hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi ý chí của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi huy hoàng trước sức mạnh tựa thánh thần của dòng sông hung dữ. Đấy chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc và của những người lao động nói chung.

 

  1. TÂY TIẾN – QUANG DŨNG NGUYỄN HUỆ LẦN 3

Câu 2: (4 đ):

Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:

1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí.

– “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

– Đoạn trích là bức tượng đài về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp vừa bi tráng vừa lãng mạn.

2 Cảm nhận đoạn trích:

 a Hình tượng người lính Tây Tiến:

* Vẻ đẹp vừa bi thương vừa hào hùng của đoàn quân Tây Tiến:

– Cái bi thương của người lính được gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

+ Sở dĩ người lính Tây Tiến đầu trọc danh xanh là do hậu quả của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính.

+ Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấn đau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung.

– Cái hào hùng:

+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất mạnh mẽ của người lính. “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh vui đùa với khó khăn gian khổ của mình.

+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh” . Chữ “đoàn binh”chứ không phải là đoàn quân đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng, Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ. “Mắt trừng” là đôi mắt dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

– Cái chết được nhắc đến qua cái nhìn đậm chất lãng mạn, cách thể hiện giàu chất sử thi. Ấn tượng hãi hùng, nặng nề về cái chết được thay thế bằng ấn tượng tự hào, nhẹ nhóm, thư thái, thanh thản. “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Với những người lính Tây Tiến, khi ngã xuống là trở về với vòng tay bao bọc, chở che bao dung của đất mẹ.

– Câu thơ tiến đưa thấm đẫm tinh thần bi tráng. “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Dòng sông Mã trở thành con ngựa chiến mã gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm kinh động cả chốn rừng thiêng. Lời thơ như làm sống lại không khí chiến trận trong những bài anh hùng ca thời cổ -> cảm giác tiếc thương, tự hào, kiêu hãnh chứ không chìm trong buồn đau, chán nản, bi quan.

* Họ cũng là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào hoa:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

“ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội, về một dáng kiều thơm trong mộng.

Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thể là phố cũ, trường xưa,… hay chính xác hơn là nhớ về bóng dáng của những người bạn gái Hà Nội yêu kiều, diễm lệ. Đó chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để họ vững vàng tay súng, sẵn sàng cống hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc, đúng như tinh thần “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

b Nghệ thuật:

– Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường; sử dụng thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan, kích thích trí tưởng tượng, liên tưởng của người đọc.

– Hình ảnh giàu sức biểu cảm, ngôn ngữ chọn lọc vừa góc cạnh vừa tinh tế… Đánh giá thành công của đoạn thơ: Góp thêm những hình ảnh chân thực và đẹp đẽ về những người lính, làm phong phú đề tài người lính. Đoạn thơ tiêu biêu cho bút pháp tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.

3 Đánh giá:

– Đây là đoạn thơ đặc sắc nhất trong bài.

– Khẳng định tác phẩm Tây Tiến xứng đáng là “đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa” của nền thơ ca kháng chiến Việt Nam và sức hấp dẫn của ngòi bút Quang Dũng.

  1. NGƯỜI LÁI ĐỒ SONG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN CHUYÊN QUANG TRUNG

Câu 2. (4,0 điểm)

Tùy bút Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi của Tổ quốc, nơi ông đã khám phá ra… “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của những người lao động.

Anh (chị) hãy làm rõ “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở nhân vật người lái đò trong tùy bút “ Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân. Qua đó cho biết nét độc đáo trong quan niệm của Nguyễn Tuân về người lao động ở thời đại mới.

 

Anh (chị) hãy làm rõ “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở nhân vật người lái đò trong tùy bút “ Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân. Qua đó cho biết nét độc đáo trong quan niệm của Nguyễn Tuân về người lao động ở thời đại mới.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Sở trường của ông là thể loại tùy bút. Nói đến ông là người ta nghĩa đến một cây bút tài hoa, uyên bác đạt đến độc đáo, hiếm có.

“Người lái đò sông Đà” là một tùy bút đặc sắc của Nguyễn Tuân, được rút từ tập tùy bút “Sông Đà” 1960.

– Trích dẫn ý kiến.

2.2 Phân tích nhân vật người lái đò:

a/ Đó là ông lái trí dũng song toàn:

– Cách đánh giá đối thủ: Theo quan niệm truyền thống, người anh hùng phải là người “dám cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ”. Người lái đò cũng phải thường xuyên phải cưỡi gió, đạp sóng. Sông Đà chính là kẻ thù số 1 mà con người phải đấu tranh hết sức quyết liệt để giành lại sự sống từ tay nó. Trước khi giao chiến với sông Đà, ông luôn tự nhắc mình không được một phút nghỉ ngơi khi đối mặt với con sông hiểm ác. Con sông Đà ghê gớm đòi hỏi rất nhiều phẩm chất của đối thủ: phải nhanh nhẹn, tinh tường, dẻo dai và nhất là dũng cảm.

– Trận thủy chiến: Đây là cuộc chiến không cân sức: 1 bên là thần sông, thần đá vớilực lượng hùng hậu của sóng thác và đá; 1 bên là người lái đò với con thuyền vẻn vẹn 6 tay chèo. Quan sát trận thủy chiến này mới thấy Nguyễn Tuân chú tâm miêu tả cái hung bạo, dữ dội của Đà giang, còn để tạo nên 1 địch thủ tương xứng để tôn vinh con người.

+ Trùng vi thứ nhất: Sông Đà dàn ra 5 cửa đá thì có đến 4 cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy động hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mạn thuyền. Luồng sóng hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng, vào hông thuyền” thậm chí còn nhằm vào người cầm lái mà đánh đòn tỉa, đòn âm. Người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả lúc trúng đòn hiểm, “mặt méo bệch vì đau đớn ông vẫn tỉnh táo chỉ huy các bạn chèo đưa con thuyền lách vào đúng luồng sinh”

+ Trùng vi thứ hai: Sông Đà thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật nhưng ông đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá” nên lập tức nhận ra cạm bẫy của bọn thủy quân nơi ải nước này. Ông không né tránh mà đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác “nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi ông đò ghì cương lái, bám chặt lấy luồng nước lún mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết 1 đường chéo về phía cửa đá ấy”. Trên đường đi, người lái đò tả xung hữu đột như một chiến tướng dày dặn kinh nghiệm trận mạc và có thừa lòng quả cảm. “Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà giảm bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Cuối cùng, ông đã đưa đươc con thuyền vượt qua cả một tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lè thất vọng.

+ Ở trùng vi thứ 3: Thạch trận ít cửa hơn nhưng 2 bên đều là luồng chết. Cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và có bọn đá hậu vệ canh giữ nhưng ông đò không bất ngờ trước mưu mô hiểm ác của chúng. Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông, con thuyền khi thì khéo léo tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở cánh khép”. Con thuyền như bay trong không gian “vút vút cửa ngoài cửa trong lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”.

=> Miêu tả 3 lần phá vây này, Nguyễn Tuân đã tạo nên một trường đoạn hào hùng với nhân vật trung tâm là người lái đò chiến đấu quyết liệt, gian lao trên chiến trường sông Đà.

– Để tô đậm sự vĩ đại, phi thường của người anh hùng trên sông nước, Nguyễn Tuân đã miêu tả một sở thích thật bình dị, tự nhiên của người lái đò sau khi đã vào sinh ra tử. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá nướng cơm lam và tòa bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh…” mà không một lời nào nói về những chiến thắng vừa qua. Đối với họ, chiến đấu với dòng sông hung dữ là chuyện thường nhật như cơm ăn nước uống hàng ngày, không có gì đáng gọi là chiến công nhưng chính vì thế mà vẻ đẹp của họ lại càng trở nên rạng rỡ, ngời sáng hơn.

b/ Đó là người nghệ sĩ sông nước:

– Tuy chỉ là một người lao động bình thường, làm một công việc cực nhọc nhưng ông đò lại có những sở thích rất nghệ sĩ. Ông yêu sông Đà một cách say mê, đặc biệt là những đoạn lắm thác ghềnh. Hình như có một sự đồng điệu giữa Nguyễn Tuân và nhân vật của mình. Ngưới lái đò thích cảm giác phi thường, mãnh liệt cũng giống như Nguyễn Tuân không thích những gì đơn điệu, bằng phẳng.

– Động tác lái đò điêu luyện, thuần thục được nâng lên trình đô nghệ thuật độc đáo. Với cái nhìn của Nguyễn Tuân, con người tài giỏi trong bất cứ nghề nghiệp nào cũng được coi là nghệ sĩ. Nguyễn Tuân say mê và thán phục khi viết những câu văn tái hiện những động tác khéo léo của ông đò: “nắm chặt cái bờm sóng”, “ghì cương lái”… Dòng thác hùm beo dưới sự điều khiển tài tình của ông lái đò bỗng trở nên hiền lành, ngoan ngoãn giống như một con tuấn mã dưới sự chỉ huy của người kị sĩ. Vượt thác ghềnh vốn là công việc lao động vất vả, cực nhọc đã được người lái đò nâng lên thành một nghệ thuật. Bàn tay ông lái đò như đang vẽ tranh, đề thơ trên sóng nước, sáng tao cái đẹp cho đời.

2.3 Nét độc đáo trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân về người lao động thời đại mới:

– Nguyễn Tuân tìm thấy phẩm chất tài hoa của người nghệ sĩ ở con người lao động bình thường, gần gũi, giản dị chứ không phải là những con người của một thời vang bóng trước Cách mạng.

– Ông quan niệm, mỗi người lao động đều là một người nghệ sĩ tài hoa khi biết đẩy kĩ thuật của mình đạt đến mức nghệ thuật.

=> Miêu tả ông lái đò đời thường với phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của mình Nguyễn Tuân thể hiện niềm trân trọng, cảm phục, ngưỡng mộ, ngợi ca những con người cống hiến góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời đại mới. Có nghĩa là Nguyễn Tuân kiêu bạt ở thời vang bóng nay đã lột xác, gắn bó, hòa hợp với cuộc đời chung. Đây chính là hành trình của người nghệ sĩ chân chính “phá cô đơn ta hòa hợp với người”.

  1. VỘI VÀNG – XUÂN DIỆU -CHUYÊN QUỐC HỌC HUẾ

Câu 2 (4 điểm):

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Ta muốn ôm

 Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Trích Vội vàng, Xuân Diệu, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB GDVN, 2015, tr.23)

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

 (Trích Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, Tập một NXB GDN, 2015, tr.156)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

2.1 Giới thiệu chung:

– Xuân Diệu – một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ Mới 1932

– 1945. Ông được đánh giá là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới” bởi những cách tân cả về tư tưởng và bút pháp nghệ thuật. “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám, được coi là tuyên ngôn sống, tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ.

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường. Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

– Cả 2 đoạn thơ trên đều là đoạn kết của hai tác phẩm, thể hiện những khát vọng mãnh liệt.

2.2 Trình bày cảm nhận:

a Đoạn thơ trong bài thơ “Vội Vàng”:

– Nội dung:

+ Đoạn thơ thể hiện quan niệm sống mới mẻ, sống vội vàng, cuống quýt như chạy đua với thời gian để tận hưởng mọi sắc màu, hương vị, vẻ đẹp của cõi trần gian.

+ Thể hiện một cái tôi ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời một cách mãnh liệt, trực tiếp (ôm, say, thâu, cắn…)

+ Ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất (chếnh choáng, dã đầy, no nê…) với những gì tươi đẹp nhất của trần gian (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi…)

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng các điệp từ, điệp ngữ, các tính từ mạnh cộng hưởng với nghệ thuật liệt kê để thể hiện nhịp sống hối hả, sôi nổi, cuồng nhiệt gấp gáp, cuống quýt của tác giả.

+ Thể thơ tự do, ngôn từ hết sức táo bạo và đầy sáng tạo là một thành công đặc sắc của Xuân Diệu.

b Đoạn thơ của bài “Sóng”:

– Nội dung :

+ Tâm trạng đầy lo âu, trăn trở của nhà thơ khi nhìn thấy sự đối lập ghê gớm giữa con người và vũ trụ. Từ đó, Xuân Quỳnh đã tìm ra một con đường để có thể trở nên bất tử cùng vũ trụ là nhờ tình yêu: trong tình yêu con người sẽ sống mãi với thời gian.

+ Đoạn thơ thể hiện khát vọng cao cả đầy nữ tính của người phụ nữ đang yêu, muốn hòa cái tôi nhỏ bé vào cái chung rộng lớn, muốn tình yêu của mình trở lên bất tử (mơ ước được “tan ra” như trăm con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu, nghĩa là quên mình, hi sinh cho người mình yêu và tình yêu của mình)

– Nghệ thuật:

+ Thể thơ 5 chữ với câu thơ ngắn gọn ,sử dụng thành công biện pháp ẩn dụ.

+ Tạo nên 2 hình tượng tuy hai mà một, nhà thơ sử dụng hình ảnh con sóng nhẹ nhàng nhưng đầy nữ tính để thể hiện khát vọng mãnh liệt trong tình yêu của mình.

2.3 Đánh giá:

– Sự tương đồng:

+ Hai nhà thơ cùng chung một khát vọng được hòa “cái tôi” của mình vào cuộc đời , vào “cái ta” chung rộng lớn.

+ Đều bộc lộ những suy ngẫm, trăn trở trước cuộc đời, cả 2 đoạn thơ đều có sự kết hợp giữa cảm xúc và chất triết lí.

– Sự khác biệt:

+ Xuân Diệu quan niệm thời gian chảy trôi, không tuần hoàn nên đề xuất lối sống gấp gáp, cuống quýt, vội vàng, tận hiến, tận hưởng; Xuân Quỳnh trước những đổ vỡ trong cuộc sống và bằng những dự cảm đầy nữ tính, luôn khát vọng muốn hòa tình yêu nhỏ bé của mình vào tình yêu chung của cuộc đời để tình yêu đó luôn còn mãi.

+ Mỗi nhà thơ có một phong cách nghệ thuật riêng để lại ấn tượng khác nhau trong lòng độc giả (cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật và thể thơ)

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU – CHUYÊN SƯ PHẠM LẦN 1

Câu 2: (4 điểm)

Phân tích đoạn thơ và chỉ ra bản sắc dân tộc trong những vần thơ dưới đây của nhà thơ Tố Hữu:

“- Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?

– Tiếng ai tha thiêt bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… ”

(Việt Bắc– SGK Ngũ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục)

 Phân tích đoạn thơ và chỉ ra bản sắc dân tộc trong những vần thơ dưới đây của nhà thơ Tố Hữu:

2.1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Đoạn thơ trên nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, là lời đối đáp của kẻ ở, người đi, bộc lộ tình cảm lưu luyến, bâng khuâng trong giờ phút chia tay. Đoạn thơ mang đậm tính dân tộc.

2.2 Phân tích đoạn thơ:

a Khổ 1: Lời người ở lại:

– Người ở lại – người tiễn đưa cất tiếng nói trước, bộc lộ tình cảm lưu luyến, không muốn xa rời.

– Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ.

– Cách xưng hô “mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về

– Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ”.

– Người Việt Bắc hỏi, gợi ra những kỉ niệm:

+ “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, “thiết tha mặn nồng” bởi đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi suốt “15 năm năm ấy”.

+ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”: Tái hiện không gian Việt Bắc – nơi đã nuôi giấu cán bộ miền xuôi thuở kháng chiến gian khó. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng.

b Khổ 2:

– Lời người về xuôi:

– “Tiếng ai” – chỉ tiếng hát của người ở lại.

– Từ láy “tha thiết” là sự luyến láy lại lời ướm hỏi của người Việt Bắc diễn tả sự đồng điệu nhớ nhung, lưu luyến. Các từ láy liên tiếp “Bâng khuâng, bồn chồn” giàu giá trị gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm hụt hẫng, bịn rịn, luyến tiếc, vương vấn, nhớ thương… đan xen cùng một lúc.

– Hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ nghệ thuật đặc sắc. Hai chữ “phân li” đã cổ điển hóa cuộc chia tay này, làm cho thời khắc tháng 10/ 1954 (các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô) vốn đầy màu sắc chính trị trở thành chuyện muôn đời của thi ca.

– Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm. Nhịp ngắt phá cách 3/3/2 (thông thường thơ lục bát sử dụng nhịp chẵn để tạo nên sự nhịp nhàng, hài hòa) không chỉ tăng tính nhạc mà còn góp phần thể hiện sự ngập ngừng, nghẹn ngào trong giây phút chia tay.

– Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…

2.3 Bản sắc dân tộc trong đoạn thơ trên:

Tính dân tộc thấm đẫm trong đoạn thơ trên nói riêng và trong thơ Tố Hữu nói chung.

Nó trở thành đặc trưng phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

Tính dân tộc thể hiện cả ở 2 phương diện nội dung và hình thức của đoạn trích:

* Nội dung:

– Cảnh sắc thiên nhiên, không gian quen thuộc: sông, núi, nguồn…

– Thể hiện được vẻ đẹp của tính cách dân tộc: giàu yêu thương, lối sống nghĩa tình, thủy chung, son sắt.

* Nghệ thuật:

– Đề tài: chia ly -> quen thuộc.

– Thể thơ lục bát truyền thống, lối đối đáp, xưng hô mình – ta quen thuộc, mang đậm màu sắc ca dao.

– Cách nói giàu hình ảnh, giọng điệu ngọt ngào, giàu nhạc tính, mang chất liệu dân gian.

2.3 Đánh giá:

– Qua đoạn thơ, ta thấu hiểu và trân trọng nghĩa tình cách mạng của những con người Việt Bắc và những người cán bộ Cách mạng miền xuôi. Đó chính là nguồn sức mạnh đặc biệt giúp Cách mạng của ta giành thắng lợi dù phải trải qua muôn vàn gian khó.

– Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN CHUYÊN SƯ PHẠM LẦN 2

 Câu 2: (4 điểm)

Phân tích nhân vật Tràng và vợ Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (SGK Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục) trong đoạn sáng hôm sau ngày Tràng “nhặt” được vợ.

Phân tích nhân vật Tràng và vợ Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (SGK Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục) trong đoạn sáng hôm sau ngày Tràng “nhặt” được vợ.

2.1 Khái quát chung:

– Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với cái thuần hậu, nguyên thủy của đời sống nông thôn”.

– “Vợ nhặt” là tác phẩm tiêu biểu của ông, có tiền thân từ tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” Kim Lân viết từ trước cách mạng tháng Tám.

– Cảnh sáng hôm sau ở nhà Tràng nằm ở phần cuối tác phẩm, là một đoạn văn đặc sắc, góp phần không nhỏ vào thành công của tác phẩm. (Học sinh tóm lược diến biến câu chuyện trong tác phẩm đến trước đoạn cần phân tích). Đoạn văn có sự xuất hiện của cả ba nhân vật: Tràng, vợ Tràng, bà cụ Tứ.

2.2 Phân tích:

a Nhân vật Tràng:

– Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Việc hắn có vợ đến lúc ấy hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải. Lững thững bước ra sân, chớp mắt liên hồi mấy cái, Tràng “bỗng vừa chợt nhận ra quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới lạ”. Quả thực, mọi thứ xung quanh hắn thay đổi nhưng chính hắn cũng có những đổi thay to lớn ở bên trong. Mẹ hắn đang rẫy cỏ ngoài vườn. Vợ hắn quét sân, tiếng chổi kêu sàn sạt, “cảnh tượng thật đơn giản bình thường nhưng đối với hắn lại rất thắm thìa, cảm động”. Thật là một cảm nhận sâu sắc và tinh tế những tưởng sẽ không thể có ở một người đàn ông vụng về, thô mộc như Tràng.

– Bỗng nhiên, “hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hăn lạ lùng”. Giờ thì hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Lần đầu tiên người đàn ông nghèo khổ ấy nhận thấy cái nhà là tổ ấm, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Tràng đã trở nên sâu sắc hơn rất nhiều sau khi có vợ. Lần đầu tiên, người đàn ông nghèo khổ, sống như loài cỏ mọc hoang ấy có ý thức về bổn phận với gia đình. Đó là một biểu hiện về sự trưởng thành trong suy nghĩ, chính tỏ Tràng đã thực sự “nên người”.

– Trong bữa cơm gia đình đầu tiên từ khi có vợ, Tràng vâng dạ với bà cụ Tứ “rất ngoan ngoãn”. Thái độ của hắn góp phần tạo nên không khí đầm ấm hòa hợp của gia đình. Và miếng cháo cám bà cụ Tứ đưa vào miệng, mặt Tràng chun lại “miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. “Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người”.

– Đúng lúc ấy, ngoài đình dội lên một hồi trống dồn dập. Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi. Hắn nghĩ đến những người đi phá kho thóc Nhật. Nhớ lại lúc đó, “tự dưng hắn thấy ân hận, tiếc rẻ, ngẩn ngơ”. Có lẽ hắn tiếc tại sao mình không nhập vào đám người đó. Tác phẩm khép lại khi trong óc Tràng vẫn thấy “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.

=> Tóm lại, nhân vật chính của câu chuyện “nhặt” được vợ, Tràng, đã được Kim Lân khắc họa sinh động trong đoạn trích. Niềm hạnh phúc to lớn khi có vợ, có gia đình đã khiến hắn có nhiều thay đổi, trở nên tinh tế, sâu sắc hơn. Tâm trạng cảm xúc của Tràng còn tạo nên màu sắc lạc quan cho tác phẩm.

b Vợ Tràng:

– Sáng ngày đầu tiên ở nhà chồng, trong vai trò của một nàng dâu mới, người đàn bà dậy sớm thu dọn, quét tước nhà cửa sạch sẽ gọn gàng: đem quần áo ra sân hong, kín đầy hai ang nước, dọn sạch đống mùn trên lối đi … thị tỏ ra là một người vợ đảm đang, chăm chỉ, biết vun vén cho gia đình. Sự thay đổi ở người đàn bà rõ rệt đên mức Tràng cũng nhận thây “nom thị hôm nay khác lắm” hiền hậu đúng mức, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn giống như khi Tràng gặp thị ở ngoài tỉnh. Sự xuất hiện của người đàn bà đã khiến ngôi nhà của Tràng tràn ngập niềm vui.

– Nhận bát cháo cám từ tay mẹ chồng, lúc đầu mắt người đàn bà tối lại nhưng rồi thị điềm nhiên và vào miệng dù miếng cám đắng chát và nghẹn bứ. Cử chỉ rất nhỏ này thể hiện nét đẹp ở người đàn bà: giàu đức hy sinh, lòng vị tha. Thị đã nuốt vào lòng những tủi cực cay đắng để thể hiện sự trân trọng, biết ơn đối với mẹ chồng.

=> Tóm lại, nếu lúc trước: sự nghèo khổ biến người đàn bà thành chao chát, chỏng lỏn thì lúc này thị trở lại đúng với bản chất của mình, một người đàn bà hiền hậu đúng mực, đảm đang, hiếu thảo.

2.3 Đánh giá:

– Đoạn văn không dài nhưng đã khắc họa nổi bật được tính cách của các nhân vật trong tác phẩm. Qua đó, Kim Lân bộc lộ tài năng xây dựng nhân vật của mình. Cùng một cảnh huống, cùng chung tâm trạng vui sướng hạnh phúc xen lẫn tủi hờn … nhưng mỗi nhân vật có cách biểu lộ cảm xúc riêng. Sự am hiểu tâm lý con người đã giúp ông có được những trang văn chân thực và cảm động.

– Ngôn ngữ giản dị mộc mạc mà tinh tế của Kim Lân cũng góp phân không nhỏ vào thành công của đoạn văn cũng như tác phẩm.

  1. ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM CHUYÊN SƯ PHẠM LẦN 2

Câu 2 (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ:

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ chuyền lửa qua moi nhà, từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

nội thù thì vùng lên đánh bại

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi ”

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

 Đi trả thù mà không sợ dài lâu ”

(Nguyễn Khoa Điềm, trích chương V, trường ca Mặt đường khát vọng, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam).

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ:

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ.

– Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác vào cuối năm 1971 (đoạn trích trong SGK chỉ là một phần của chương này). Có thể nói đây là chương hay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của bản trường ca – tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”.

– Đoạn thơ trên đã khám phá, khẳng định và biểu dương vai trò lịch sử vĩ đại và sức mạnh kỳ diệu của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

2 Cảm nhận:

– Nhân dân, bằng những việc làm cụ thê, bình dị, thâm lặng mà vô cùng thiêt thực (giữ, truyên, chuyền, gánh, đắp, be, dạy,…) của mình đã kiến tạo nên nền văn minh lúa nước; sáng tạo nên nền văn hóa, văn học dân gian kết tinh những truyền thống đạo lý, tinh thần, tình cảm cao quý, giàu giá trị nhân văn của dân tộc (giàu tình yêu thương, sống tình nghĩa, kiên trì, nhẫn nại,…); cũng chính nhân dân là những người kiên trì bảo tồn, truyền bá có ý thức bản sắc dân tộc trong nền văn hóa vô giá ấy.

– Nhân dân là lực lượng chủ yếu tham gia vào những cuộc chiến đấu chống “nội thù” và “ngoại xâm” và làm nên thắng lợi vẻ vang của những cuộc chiến đấu ấy.

– Kết tinh cảm hứng ngợi ca, tự hào, tôn vinh Nhân dân là hai dòng thơ giàu sức khái quát: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân/ Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại ”

– Chính những đóng góp vô cùng lớn lao, vĩ đại ấy của nhân dân đã thể hiện rõ tính chất dân chủ của thể chế chính quyền Đất Nước.

– Từ đó, lời thơ khẳng định nhân dân chính là chủ nhân xứng đáng nhất của Đất Nước: Những người làm nên “Đất Nước muôn đời” phải là đối tượng đầu tiên có quyền thụ hưởng thành quả mà mình đã tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

– Những khám phá mới mẻ mà sâu sắc, toàn diện về Đất Nước được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với nhân dân; được thể hiện bằng một hệ thống chất liệu văn hóa, văn học dân gian được người viết tái sinh sáng tạo và đầy nhiệt hứng tự hào về nền văn hóa truyền thống do nhân dân sáng tạo ra.

3 Đánh giá:

– Đoạn thơ chứa đựng và kết tinh trụ cột tư tưởng của chương V “Đất Nước”

– Thể hiện rõ cách khám phá và thể hiện Đất Nước mới mẻ, độc đáo gắn với cái nhìn tổng thể, toàn vẹn của Nguyễn Khoa Điềm.

  1. RỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH CHUYÊN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LẦN 3

Câu 2 (4,0 điểm):

Anh (chị) hãy phân tích làm nổi bật vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành (Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục, 2008).

2.1 Vài nét về tác giả, tác phẩm:

– Nguyễn Trung Thành vốn là một chiến sĩ, một phóng viên. Đề tài sáng tác của ông: mảnh đất Tây Nguyên hoang dại, bí ẩn, cuộc sống chiến đấu anh dũng của nhân dân nơi đây. Phong cách nghệ thuật: đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.

– Tác phẩm: hoàn thành vào mùa hè năm 1965, đăng trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, sau này được đưa vào tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc“. Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm: có áp bức có đấu tranh, chỉ có bạo lực cách mạng mới là con đường sống duy nhất cho nhân dân miền Nam Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ.

2.2 Vẻ đẹp sử thi của hình tượng Tnú: a Vẻ đẹp sử thi của nhân vật văn học nói chung:

– Nhân vật sử thi là mẫu nhân vật anh hùng mang lí tưởng của thời đại, số phận gắn với những sự kiện lớn của cộng đồng, kết tinh những phẩm chất tiêu biểu nhất của cộng đồng và lập nên những chiến công hiển hách.

– Nhân vật sử thi thường được khắc họa trong những bối cảnh không gian kì vĩ, cách trần thuật trang trọng; giọng điệu thiết tha, hùng tráng.

b Vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú: B1 Nội dung hình tượng:

* Nhân vật mang tầm vóc của người anh hùng, rất điển hình cho tính cách, sức mạnh và lí tưởng của nhân dân Tây Nguyên.

– Tnú có một khí phách phi thường, một tinh thần chiến đấu quả cảm vô song:

+ Ngay từ khi còn nhỏ, lúc Tnú và Mai làm giao liên dẫn đường cho cán bộ, hai người được anh Quyết dạy cho cái chữ, học chữ thua Mai nhưng Tnú thể hiện một quyết tâm mạnh mẽ để đưa được chữ vào đầu.

+ Khi Tnú đối diện vớỉ kẻ thù, bị chúng khủng bố tỉnh thần, chúng chĩa súng và quát hỏi anh: “Cộng sản ở đâu?”, anh đã chỉ tay vào bụng trả lời khẳng khái: “Cộng sản ờ đây.”, mặc dù sau câu nói ấy lưng Tnú dọc ngang vết dao chém của giặc.

+ Đi đường núi làm giao liên Tnú rất dũng cảm, Tnú tránh đi đường mòn, qua sông cũng không thích lội chỗ nước êm mà thường lựa chọn dòng nước xiết, có lần đi qua một thác sông bị kẻ thù phục kích Tnú nhanh chóng nuốt luôn cái thư anh Quyết gửi.

+ Hình ảnh đôi bàn tay Tnú gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Đôi bàn tay ấy trước đây lành lặn đã từng cầm phấn học cái chữ anh Quyết dạy, từng lấy đá ghè vào đầu như để tự trừng phạt mình, là bàn tay nghĩa tình rưng rưng nắm lấy tay Mai, nhưng dữ dội nhất là khi đôi bàn tay bị giặc đốt, mười đầu ngón tay là mười ngọn đuốc bùng lên lửa căm thù.

– Tnú trung thành tuyệt đối và có niềm tin sắt đá vào chân lí cách mạng: Khi Tnú bị kẻ thù thiêu đốt ngón tay, ngọn lửa dữ dội như cào xé gan ruột và cả hệ thần kinh của anh: “Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi, răng anh cắn nát môi anh rồi”. Trong bi kịch ấy Tnú không hề kêu van nửa lời vì anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Lòng trung thành vói cách mạng của Tnú còn hòa cùng niềm tin lớn lao như trong lời cụ Mết: “Đảng còn, núi nước này còn”.

– Tnú có một tình yêu lớn lao, sâu sắc với gia đình, quê hương xứ sở và một lòng căm thù giặc mãnh liệt:

+ Thuở thiếu thời, Tnú là người bạn nghĩa tình của Mai, lớn lên là người yêu chung thủy của Mai, sau này là người chồng, người cha đầy trách nhiệm với gia đình. Khi chứng kiến giặc tàn sát Mai và đứa con nhỏ, mặc dù tay không tấc sắt, Tnú vẫn xông vào chống trả. Vậy sức mạnh nào đã thôi thúc Tnú để anh bất chấp cả hiểm nguy, lao vào kẻ thù như một con hổ xám? Động lực ghê gớm ấy xuất phát từ tình yêu thương vợ con tha thiết.

+ Tnú còn rất nghĩa tình với buôn làng Xô Man, anh yêu mảnh đất quê hương, yêu những cánh rừng xà nu, con đường, dòng suối; vì quê hương mà anh lên đường chiến đấu.

+ Lòng căm thù ở Tnú cũng dữ dội và quyết liệt. Trong anh tích tụ ba mối thù lớn: mối thù của bản thân, của gia đình, và của cả buôn làng Xô Man. Lưng Tnú dọc ngang vết dao chém, mười ngón tay bị đốt, đó là chứng tích tội ác kẻ thù mà anh phải mang thẹo suốt đòi; vợ con anh chết thảm khốc dưới trận mưa gậy sắt; còn dân làng Xô Man bị kẻ thù tàn sát, chúng treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, chặt đầu bà Nhan treo đầu mũi súng để răn đe. Vì thế, dù chỉ còn đôi bàn tay thương phế nhưng Tnú vẫn đi truy lùng giặc để trả thù, kết thúc thiên truyện, anh đã dùng bàn tay quả báo bóp chết thằng chỉ huy đang cố thủ trong đền trú ẩn.

* Nhân vật có số phận gắn bó với những biến cố lớn của làng Xô Man, phản ánh cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Tây Nguyên chống Mĩ ngụy, làm sáng tỏ chân lí thời đại: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

– Khi còn nhỏ, Tnú là đứa trẻ mồ côi được buôn làng cưu mang đùm bọc và trở thành người con ưu tú của làng Xô Man.

– Khi kẻ thù giày xéo quê hương, Tnú phải chịu nhiều đau thương mất mát, tiêu biểu cho nỗi đau thương mất mát lớn của dân tộc. Ở Tnú cỏ thừa sức mạnh cá nhân: một thể chất khỏe khoắn; tinh thần, ý chí quyết liệt; sự gan góc, dũng cảm; kẻ thù tàn bạo không thể khuất phục nổi anh. Dù chúng tra tấn bằng lưỡi dao, mũi súng, dây trói, ngọn lửa nhưng Tnú tay không lao vào cứu mẹ con Mai thì anh vẫn thất bại. Mai và đứa con ngã xuống, bản thân Tnú bị lửa thiêu đốt bàn tay.

– Khi được giác ngộ cách mạng và vùng lên quật khởi, quá trình trưởng thành của Tnú cũng rất điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên. Người dân Xô Man đã cầm vũ khí đứng lên sau bao ngày vào rừng dưới ánh lửa xà nu, họ rèn giáo mác, mài dao, mài rựa chuẩn bị vũ khí chờ ngày đồng khởi. Họ ào ạt xông lên, dẫn đầu là cụ Mết, chém gục thằng Đục, giết cả tiểu đội ác ôn, cứu Tnú, giải phỏng quê hương. Quá trình đấu tranh của Tnú đi từ tự phát đến tự giác, tham gia lực lượng vũ trang đánh Mĩ cũng là con dưòng đúng đắn của nhân dân Tây Nguyên.

B2 Nghệ thuật khắc họa hình tượng:

– Không khí truyện được dựng như các cuộc kể khan truyền thống của các già làng thuở trước; lối viết truyện ngắn hiện đại pha trộn nhiều yếu tố sử thi dân gian khiến một nhân vật của thời đại chống Mĩ, lại phảng phất hình bóng những anh hùng sử thỉ cổ đại.

– Bút pháp nghệ thuật có sự kết hợp giữa tả thực và biểu tượng: nhân vật Tnú gắn liền với một biểu tượng về sức sống bất diệt của người Tây Nguyên đó là cây xà nu; hình ảnh đôi bàn tay Tnú được miêu tả như một biểu tượng độc đáo cho cuộc đời và số phận của nhân vật; giọng điệu trang trọng, hào hùng; ngôn ngữ đầy chất tạo hình và chất thơ.

– Không khí truyện được dựng như các cuộc kể khan truyền thống của các già làng thuở trước; lối viết truyện ngắn hiện đại pha trộn nhiều yếu tố sử thi dân gian khiến một nhân vật của thời đại chống Mĩ, lại phảng phất hình bóng những anh hùng sử thỉ cổ đại.

– Bút pháp nghệ thuật có sự kết hợp giữa tả thực và biểu tượng: nhân vật Tnú gắn liền với một biểu tượng về sức sống bất diệt của người Tây Nguyên đó là cây xà nu; hình ảnh đôi bàn tay Tnú được miêu tả như một biểu tượng độc đáo cho cuộc đời và số phận của nhân vật; giọng điệu trang trọng, hào hùng; ngôn ngữ đầy chất tạo hình và chất thơ.

3 Đánh giá:

– Hình tượng nhân vật Tnú mang tính chất sử thi, tiêu biểu cho cả Tây Nguyên bất khuất. Nếu như cụ Mết có khí thế hùng dũng, hành động quyết liệt như thác lũ thì Tnú lại khỏe khoắn, vững chãi như một cây xà nu trưởng thành trên đất Tây Nguyên. Đó là vẻ đẹp của người anh hùng được nối tiếp từ những áng sử thi như Đăm San, Xinh Nhã,…

 

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU CHUYÊN THÁI BÌNH

Câu 3. (4,0 điểm): Cảm nhận hai khổ thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” để làm rõ hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của thơ Tố Hữu.

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

……

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi mình có nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.

 

1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Đoạn thơ trên nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, là lời đối đáp của kẻ ở, người đi, bộc lộ tình cảm lưu luyến, bâng khuâng trong giờ phút chia tay. Đoạn thơ mang đậm tính dân tộc. 2 Cảm nhận đoạn thơ:

a Khổ 1: Lời người ở lại:

– Người ở lại – người tiễn đưa cất tiếng nói trước, bộc lộ tình cảm lưu luyến, không muốn xa rời.

– Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ.

– Cách xưng hô “mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ”.

– Người Việt Bắc hỏi, gợi ra những kỉ niệm:

+ “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, “thiết tha mặn nồng” bởi đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi suốt “15 năm năm ấy”.

+ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”: Tái hiện không gian Việt Bắc – nơi đã nuôi giấu cán bộ miền xuôi thuở kháng chiến gian khó. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng.

b Lời người về xuôi:

– Câu thơ “Ta với mình, mình với ta” ngắt nhịp 3/3, cặp đại từ mình – ta lặp lại xoắn xuýt để thể hiện sự quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt.

– Câu thơ tiếp theo với nhịp ngắt 2/2/2/2 chắc khỏe là lời khẳng định chắc chắn “lòng ta-sau trước- mặn mà- đinh ninh”.

– Tiếp đó, “Mình đi mình lại nhớ mình” là sự láy lại, là câu trả lời cho sự băn khoăn của người ở lại trong khổ thơ trên “Mình về mình có nhớ ta”. Và để cụ thể cho nỗi nhớ ấy tác giả mượn cách so sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.

3 Hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:

– Thể thơ lục bát kết hợp với lối đối đáp, cách xưng hô “mình – ta” vốn quen thuộc trong ca dao xưa, rất phù hợp với giãi bày nỗi niềm lưu luyến, nhớ thương.

– Tố Hữu cũng đã mượn ý thơ trong ca dao: Mình về mình có nhớ chăng Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

– Cách nói đậm chất ca dao: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.

=> Hai khổ thơ nói riêng và cả bài thơ Việt Bắc nói chung đều mang đậm tính dân tộc. 4 Đánh giá:

– Khẳng định tình cảm cách mạng thủy chung son sắt giữa người Việt Bắc với đoàn cán bộ miền xuôi. Đó chính là sức mạnh tinh thần quý báu, góp phần làm nên thắng lợi lớn cho cuộc kháng chiến chống Pháp và cũng là một truyền thống tốt đẹp trong lối sống của con người Việt Nam.

– Khẳng định đặc sắc thơ Tố Hữu: thơ trữ tình – chính trị mang đậm tính dân tộc.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG CHUYÊN VINH LẦN 1

Câu 2 (4,0 điểm)

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

 Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

 (Trích Tây Tiến Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2014, tr. 88)

Anh (chị) hãy rút ra những nhận định của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ trên và chứng minh rằng các nhận định đó là hoàn toàn có cơ sở.

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài song ông được biết đến nhiều nhất với tư cách là một nhà thơ. Ông cũng là một trong những tác giả tiêu biểu cho nền thơ ca kháng chiến Việt Nam.

– “Tây Tiến” (1948) là một trong những bài thơ xuất sắc, làm nên tên tuổi của Quang Dũng, cũng được coi là “đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa của nền thơ ca kháng chiến”.

– Khổ một của bài thơ là một bức tranh thiên nhiên về Tây Bắc, vừa dữ dội, khắc nghiệt vừa thơ mộng, trữ tình; đồng thời cũng khắc họa thành công hình ảnh đoàn binh Tây Tiến bằng bút pháp tài hoa, đậm chất hiện thực song cũng rất lãng mạn.

2.2 Những nhận định có thể có về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ và chứng minh:

2.2.1 Về nội dung:

 a Bao trùm đoạn thơ là nỗi nhớ về Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Câu thơ như tiếng gọi tha thiết, khắc khoải của tác giả – gọi về một miền kí ức xa xôi nhưng đong đầy thương nhớ. Hai tiếng “nhớ” vang lên trong cùng một câu thơ khiến cảm xúc như dâng tràn. Nỗi nhớ ấy chứ “chơi vơi”, lan tỏa trong không gian, xóa nhòa khoảng cách địa lí, giúp nhà thơ ngược dòng thời gian để trở về sống với một miền kí ức.

b Đoạn một là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc, vừa dữ dội, khắc nghiệt vừa thơ mộng, trữ tình:

– Mảnh đất Tây Bắc hiện ra với những địa danh cụ thể – những cái tên mà vừa nghe đã thấy xa xôi và gập ghềnh, ẩn chứa nhiều thử thách nguy hiểm “Sông Mã”, “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Pha Luông”, “Mường Hịch”, “Mai Châu”…

– Cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội được tái hiện sinh động, chân thực trong các câu thơ:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

… Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

…Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Các hình ảnh “sương lấp” “đêm hơi” “dốc lên” dốc xuống”, “cọp trêu người” “khúc khuỷu” “thăm thẳm” “ngàn thước lên” “ngàn thước xuống” gợi một vùng rừng núi hoang vu, lạnh lẽo, hiểm trở, khắc nghiệt bởi núi cao vực sâu. Đó còn là một đại ngàn bí ẩn oai linh với biết bao mối hiểm nguy luôn rình rập, bủa vây con người “thác gầm thét” “cọp trêu người”.

– Song Tây Bắc cũng mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng, đậm chất trữ tình:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Nếu những câu trên chủ yếu là thanh trắc gợi sự gập ghềnh, trắc trở thì câu dưới hoàn toàn là thanh bằng. Câu thơ như một nét vẽ tài hoa, mềm mại, đủ sức kéo lại cân bằng cho cả đoạn thơ, mở ra một Tây Bắc khác, tươi mát, êm dịu vô cùng, dịu dàng e ấp trong làn mưa xa!

– Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt chính là cái phông nền làm nổi bật lên tinh thần dũng cảm, sự kiên cường của những người lính Tây Tiến. Họ đã sống, chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ nhưng vẫn ngạo nghễ vô cùng.

– Hình ảnh“Súng ngửi trời” là một sáng tạo độc đáo, táo bạo, đậm chất lãng mạn của nhà thơ. Nó vừa gợi độ cao của núi, vừa cho thấy vị trí của người lính – trên đỉnh, vừa toát lên tư thế hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu và chiến c thắng. Hình ảnh thơ cũng pha chút tếu táo, thể hiện tâm hồn trẻ trung, hồn nhiên, lạc quan, yêu đời của những chàng lính trẻ.

– Quang Dũng cũng miêu tả rất chân thực hình ảnhđoàn quân mỏi” sau những tháng ngày ròng rã hành quân, cả những người đã nằm lại mảnh đất xa lạ để rồi không bao giờ tỉnh dậy “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục trên súng mũ bỏ quên đời”… Ngay cả trong gian khó, họ vẫn rất ngang tàng “bỏ quên đời”.

– Không chỉ vậy, trong tâm hồn người lính Tây Tiến còn mang đậm chất nghệ sĩ. Thật vậy, họ phải tinh tế lắm mới cảm nhận được hết cái bình yên, êm dịu của một chiều “mưa xa khơi” – cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm; phải mang nặng tình đời lắm mới nhận thấy sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người và thấp thoáng bóng dáng những sơn thôn thiếu nữ đảm đang, khéo léo “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”… Tất cả những điều đó, chúng ta chỉ có thể gặp ở những chàng trai hào hoa của mảnh đất Hà thành!

2.2.2 V nghệ thuật:

– Đoạn thơ thể hiện rõ cảm hứng lãng mạn của toàn bài: thích những cảnh tượng độc đáo, phi thường “súng ngửi trời” “oai linh thác gầm thét”; thích dùng thủ pháp đối lập “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống“; thích bày tỏ mạch cảm xúc nồng nàn; thích khắc họa nét tráng sĩ gân guốc của những người lính.

– Đoạn thơ chứa đựng rất nhiều địa danh, đọc lên thấy gợi không khí xa xôi, bí mật, đầy kích thích. Việc sử dụng địa danh cũng cho thấy hứng thú khám phá miền đất mới của nhân vật trữ tình: Sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông,…

– Đoạn thơ có sự thống nhất giữa tạo hình và biểu hiện, vừa cho thấy cảnh, người, vừa cho thấy được tình cảm chan chứa của nhân vật trữ tình đối với cảnh và người đó.

2.3 Tổng hợp, đánh giá:

– Đoạn thơ, cũng như cả bài thơ thực sự xuất sắc, như một khối kim cương đa diện, nhìn mặt nào cũng thấy lấp lánh chất thơ và gợi rất nhiều liên tưởng cũng như cách lý giải khác nhau.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 2

Câu 2 (4,0 điểm)

Từ sau sự kiện “nhặt vợ” của Tràng (truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân), người đọc như được tiếp xúc với một anh cu Tràng và một người vợ nhặt hoàn toàn khác trước. Cảm nhận của anh (chị) về sự thay đổi ấy của hai nhân vật, từ đó, đánh giá về tư tưởng nhân đạo của Kim Lân.

2 Trình bày cảm nhận về sự thay đổi của nhân vật Tràng và nhân vật vợ nhặt (truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân)

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

– “Vợ nhặt” là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, được rút từ tập “Con chó xấu xí”. Truyện là bài ca về tình người, về lòng lạc quan và niềm khát sống mãnh liệt của những con người sống trong tận cùng của đói khổ.

– Sự thay đổi của các nhân vật Tràng và chị “vợ nhặt” đã mang đến sự xúc động sâu sắc và thắp lên tình yêu cuộc sống trong lòng người đọc.

2.2 Phân tích:

a Sự thay đổi của Tràng:

– Trước khi nhặt vợ, ta chỉ biết Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, xấu xí, thô kệch, sống với một người mẹ già nua. Càng đáng buồn hơn khi ta thấy Tràng có vẻ không được như người bình thường: có lớn mà chẳng có khôn theo quan niệm của dân gian. Một nhân vật như thế không khỏi gây cho người đọc sự thất vọng.

– Nhưng từ khi nhặt người đàn bà đói rách về làm vợ, Tràng như đổi khác: cười rất nhiều, có những cảm giác mới mẻ, trỗi dậy tình nghĩa khi đi bên vợ, nhận thấy những nét u buồn và sự thay đổi ở vợ mình, muốn sống cho nên người để lo cho gia đình, hình dung lá cờ đỏ sao vàng và đoàn người đi trên đê như một biểu tượng của sự đổi đời…

b Sự thay đổi của người vợ nhặt:

– Trước khi theo Tràng, tình cảnh người đàn bà này rất thê thảm: đói khát ê chề, không có việc gì làm cũng như không biết bám vào đâu để sống; ăn nói thì chao chát, chỏng lỏn, thái độ thì sừng sộ, chẳng kể gì đến thể diện, phẩm giá; gạ ăn một cách trơ trẽn, được mời ăn thì ăn uống rất tham, rất thô. Trước lời bông lơn của một người đàn ông chưa hề quen biết, chị ta lập tức bám theo, liều lĩnh đến mức đáng sợ.

– Từ khi cất bước theo Tràng, chị ta như trở thành một con người khác. Đi với Tràng mà bước chân có vẻ rón rén, ngượng nghịu, e thẹn, ít lời, ngại ngùng trước ánh mắt tò mò của những người xa lạ. Khi đã ở nhà Tràng, chị càng bối rối, bần thần nghĩ ngợi. Dẫu vẫn còn cảm giác xa lạ, nhưng chị có những lời nói, cử chỉ biểu hiện thiên chức làm vợ; cùng mẹ chồng quét tước, dọn dẹp cửa nhà, vườn tược, vun đắp cho tổ ấm của mình.

2.3 Đánh giá tư tưởng nhân đạo của tác giả:

Qua nhân vật Tràng, nhân vật vợ nhặt, Kim Lân đã thể hiện niềm tin sâu sắc, mạnh mẽ đối với con người. Trong ý thức của ông, những người nghèo khổ có thể bị biến dạng về nhân hình, nhân tính vì đói khát, nhưng không gì tước đoạt được của họ cái chất người quý giá. Nhà văn cũng bộc lộ cái nhìn yêu thương, nhân hậu qua những dòng văn miêu tả vẻ đẹp của tình người và khát vọng hạnh phúc bền bỉ của những kẻ đang đối mặt với tử thần.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG NGUYỄN QUANG DIỆU ĐỒNG THÁP

Câu 2. (4,0 điểm)

Vẻ đẹp ngôn ngữ thơ qua đoạn thơ sau:

“Sông Mã xa rổi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

 Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gẩm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

(Tây Tiến – Quang Dũng, Theo sách Ngữ văn 12, tập 1- NXB Giáo dục, 2008)

 

Vẻ đẹp ngôn ngữ của đoạn thơ trong bài “Tây Tiến” I Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

– Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn.

Tây Tiến (1948) là thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, là bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.

– Đoạn thơ trên còn là minh chứng cho ngòi bút tài hoa của nhà thơ, nhất là trong việc sử dụng ngôn ngữ.

I Phân tích:

1 Giải thích:

“Vẻ đẹp ngôn ngữ thơ”: Là vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật nhưng hình thức nghệ thuật ấy chỉ đẹp khi được nhà thơ sáng tạo để chuyển tải một nội dung tư tưởng sâu sắc.

– Ngôn ngữ thơ cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, đó là (toàn bộ hình thức nghệ thuật biểu đạt của thơ: nhịp điệu, từ ngữ, hình ảnh thơ, BPTT, thanh, vần,…

2 Bàn luận về vẻ đẹp ngôn ngữ thơ Quang Dũng qua đoạn thơ:

a Vẻ đẹp của từ ngữ, hình ảnh thơ:

– Hệ thống từ chỉ địa danh đắc đia: Sài Khao/ Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông, Mai Châu,…

– Các sử dụng từ láy giàu sức gợi: chơi vơi, khúc khuỷu, , thăm thẳm, heo hút…có giá trị đặc tả địa thế hiểm trở của những dốc, đèo, núi…

– Những hình ảnh thơ đầy sáng tạo qua những cấu trúc ngôn từ mới lạ; đêm hơi, mưa xa khơi, hoa về, mùa em, cơm lên khói,

b Vẻ đẹp của cách phối thanh, hiệp vần, ngắt nhịp:

– Những cấu trúc âm thanh đầy ám ảnh:

+ thác gầm thét – hiệp âm đầu và thanh trắc gợi âm thanh hung hãn dữ dội của thác Mường Hịch

+…cọp – hiệp thanh trắc – thanh nặng gợi bước chân rình rập của thú dữ.

– Có câu thơ chủ yếu là thanh trắc hoặc toàn thanh bằng : Dốc – khúc khuỷu, dốc…thẳm // Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi mang lại hiệu quả nghệ thuật trong gợi ấn tượng về cái hùng vĩ, dữ dội của núi rừng Tây Bắc.

c Vẻ đẹp của các biện pháp tu từ

– Điệp từ “nhớ” với nhiều biến thể: nhớ về, nhớ chơi vơi, nhớ ôi,…tô đậm cảm xúc chủ đạo của bài thơ.

– Hoán dụ, nhân hóa: súng ngửi trời… vừa gợi tư thế hào hùng của người lính chinh phục những độ cao đi tới vừa gợi cái tếu táo, nghịch ngợm của những người lính trẻ

– Nói giảm, nói tránh: không bước nữa, bỏ quên đời, …diễn tả sư thanh thản, nhẹ nhàng của những người lính trong hi sinh

III Đánh giá:

– Vẻ đẹp ngôn ngữ thơ góp phần biểu đạt sâu sắc vẻ đẹp nội dung tư tưởng của bài thơ, đoạn thơ: vẻ đẹp kiêu hùng của người lính trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ dữ dội mà thơ mộng của núi rừng Tây Bắc.

– Vẻ đẹp ngôn ngữ thơ trong Tây Tiến, trong đoạn thơ in dấu một thi tài: một cây bút tài hoa, một hồn thơ lãng mạn, yêu tha thiết, gắn bó sâu nặng với rừng núi, quê hương.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN -CHUYÊN NGUYỄN QUANG DIỆU ĐỒNG THÁP

Câu 2. (4 điểm)

Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có đoạn:

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.

Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ?

Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới” :

– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng… Tràng thở đánh phào một cái (…) Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:

– Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau”.

(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2013)

Cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ được miêu tả trong đoạn trích trên. Từ đó, nêu nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí của Kim Lân.

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

– “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Truyện khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống. Điều đó được thể hiện rõ nét qua đoạn trích: “Bà lão cúi đầu nín lặng… con cái chúng mày về sau”.

2.2 Cảm nhận về tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ qua đoạn trích:

– Bằng chiều dài của cuộc đời cơ cực, bà lão ý thức rõ cái éo le, nghịch cảnh cuộc hôn nhân của con bà: lấy nhau giữa thời buổi đói kém, lại không làm nổi đám cưới mà theo không nhau về, không phải lấy vợ mà là “nhặt” vợ.

– Bà tủi phận mình vì người ta dựng vợ gả chồng cho con lúc ăn nên làm ra, còn con mình thì lấy vợ trong lúc đói kém, chết chóc đang bủa vây. Bà cũng hiểu ra cái điều: “có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình . Mà con mình mới có vợ được”. Cái cảm giác buồn tủi ấy đã biến thành giọt lệ:“Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà đã rỉ xuống hai dòng nước mắt”. Đó là dòng nước mắt xót xa, buồn tủi, thương cảm, đã chảy xuống bởi sự ám ảnh của cái đói, cái chết .

– Tuy có buồn, tủi cho cuộc đời mình, cho cái số kiếp éo le của con mình nhưng rồi cái cảm giác ấy cũng dần dần tan đi để nhường chỗ cho niềm vui trước sự thực con bà đã có vợ: “các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”

– Bà lão hi vọng về một ngày mai tươi sáng hơn giữa cái cảnh tối tăm của cái đói, cái chết với niềm tin vào cuộc sống, với cái triết lí dân gian “ai giàu ba họ, ai khó ba đời ?”

=> Qua đó, ta thấy được tấm lòng đầy tình yêu thương, nhân hậu và chan chứa niềm tin vào tương lai của người mẹ nghèo.

2.3 Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí của Kim Lân:

– Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo để phát hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.

Với năng lực phân tích tâm lí tinh tế, ngôn ngữ chọn lọc và lựa chọn những chi tiết đặc sắc, Kim Lân đã diễn tả đúng tâm lí một bà cụ nông dân nghèo khổ, tội nghiệp nhưng rất hiểu đời và có tấm lòng nhân ái cảm động.

2.4 Đánh giá chung:

– Đoạn trích góp phần thể thiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Kim Lân: “Nhưng người đói họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống”.

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI AN LÃO HẢI PHÒNG

Câu 2: (4 điểm)

Cảm nhận của anh chị về hành động Mị chay theo A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài và hành động thị theo Tràng về làm vợ trong “Vợ Nhặt” của Kim Lân.

1 Giới thiệu chung

– Giới thiệu tác giả Tô Hoài với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, Kim Lân với truyện ngắn “Vợ nhặt”.

+ Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

+ Kim Lân – người “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn”. Có ý kiến cho rằng nếu chọn ra 10 cây bút tiêu biểu nhất của văn học hiện đại Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám thì không có ông nhưng nếu chọn ra 10 truyện ngắn hay nhất thì Kim Lân có đến 2 tác phẩm là “Làng” và “Vợ nhặt”. Trong đó, “Vợ nhặt” là một câu chuyện đầy ám ảnh.

– Cả 2 tác phẩm đã gửi đến người đọc thông điệp về lòng ham sống, khát vọng sống qua hành động Mị chay theo A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” và hành động thị theo Tràng về làm vợ trong “Vợ Nhặt”.

2 Phân tích:

a Về hành động Mỵ chạy theo A Phủ:

* Vài nét về nhân vật Mị :

– Là cô gái xinh đẹp, con dâu gạt nợ, bị bóc lột, đày đọa về thể xác và tâm hồn.

– Cô sống vật vờ y một cái bóng “lùi lũi như 1 con rùa nuôi xó cửa”

* Về hành động Mị chạy theo A Phủ:

– Bối cánh:

+ Những đêm đông lạnh giá, nhiều ngày Mị chứng kiến A Phủ bị trói ở cột nhà nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay.

+ Cho đến khi trông thấy giọt nước mắt trên hõm má đã xám đen lại của A Phủ, Mị đã bất ngờ quyết định cắt dây trói cho A Phủ. Đây là hành động tự phát, xuất phát từ tình thương, sự đồng cảm. Nó cho thấy sự hồi sinh trong tâm hồn Mị.

– Sau đó, Mị “hốt hoảng”, “vụt chạy” đuổi theo A Phủ, nói “A Phủ cho tôi đi!… Ở đây thì chết mất!”. Hành động đó xuất phát từ khao khát sống đã và đang trỗi dậy mãnh liệt trong Mị. Mị đã giải cứu được cho A Phủ thì cũng có thể giải thoát được cho chính mình. Vì vậy, “Trời tối lắm. Mị vẫn băng đi” để bắt đầu hành trình từ “thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui” ở mảnh đất Phiềng Sa.

=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh, là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu.

* Qua việc xây dựng tình huống đặc sắc và miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Mị, Tô Hoài đã đặt vấn đề khát vọng tự do, hạnh phúc chân chính của người phụ nữ miền núi và con đường giải phóng họ phải đi từ tự phát đến tự giác, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

b Về hành động thị theo Tràng về làm vợ trong “Vợ Nhặt”:

* Người vợ nhặt hiện lên như một nạn nhân tiêu biểu của nạn đói khủng khiếp năm 1945:

– Nhân vật không có tên riêng, không có lai lịch… chỉ là một thân phận bọt bèo trôi dạt giữa dòng đời.

– Cái đói đã hủy hoại cả vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nữ tính của một người phụ nữ, khiến thị trở nên liều lĩnh, trơ trẽn đến mức sẵn sàng theo không người ta về.

* Song đằng sau hành động liều lĩnh đó là một khát vọng sống mãnh liệt:

– Người vợ nhặt theo Tràng về nhà không chỉ vì cái đói dồn đuổi mà còn xuất phát từ ước mơ được sống trong một gia đình ấm cúng, từ sự cảm động trước một tấm lòng hào hiệp hiếm có trong nạn đói. Vì vậy trên đường về nhà cùng Tràng thị tỏ ra e thẹn, ngượng ngập và ý tứ hơn. Khi nhìn thấy ngôi nhà lụp xụp rách nát, người phụ nữ ấy vẫn ở lại để cùng chia sẻ cuộc đời đói khổ với Tràng chứ không bỏ đi.

– Hôm sau, thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu.: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”.

– Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.

– Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm”.

* Đặt thị vào một tình huống đặc biệt éo le, đi sâu khai thác tâm lí nhân vật cùng với khắc họa nhân vật bằng lời nói, cử chỉ, hành động, nhà văn Kim Lân đã cho ta thấy lòng ham sống, khát vọng sống và ý thức vươn lên giành lấy sự sống vô cùng mãnh liệt của thị.

3 So sánh:

– Sự tương đồng:

+ Cả hai hành động đều bất ngờ, không có sự chuẩn bị trước.

+ Đều thể hiện sự vận động đi lên trong số phận các nhân vật. Họ đã đi từ bóng tối đến ánh sáng, “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”.

+ Thể hiện khát vọng sống mãnh liệt của các nhân vật.

+ Cả 2 tác giả đều có tài năng xây dựng tình huống và miêu tả tâm lí nhân vật.

– Sự khác biệt: hành động của Mị là sự vùng thoát khỏi cường quyền, thần quyền; hành động của người vợ nhặt là để thoát khỏi cái đói, cái chết để níu lấy sự sống. Có sự khác nhau đó là do bối cảnh lịch sử, xã hội mà các tác giả lựa chọn.

4 Đánh giá:

Tô Hoài và Kim Lân xứng đáng là những cây bút tài hoa của nền văn học Việt Nam, đặc biệt trong việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và khám phá những vẻ đẹp trong tâm hồn họ. Ở hai cây bút ấy cũng luôn dạt dào tấm lòng nhân ái, yêu thương, trân trọng con người.

  1. TÂY TIẾN – QUANG DŨNG SỞ GIÁO DỤC QUẢNG NINH

Câu 2. (4 điểm)

Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

 Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

( Tây Tiến – Quang Dũng, Văn học 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 88)

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

(Việt Bắc, Tố Hữu, Văn học 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 112)

Cảm nhận về hai đoạn thơ trong bài Tây Tiến – Quang Dũng và Việt Bắc – Tố Hữu.

1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn. Còn Tố Hữu (1920-2002), quê ở Huế, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc.

Tây Tiến sáng tác năm 1948 ở Phù Lưu Chanh, khi nhà thơ rời khỏi đơn vị cũ Tây Tiến để chuyển sang làm việc tại một đơn vị khác. Việt Bắc viết về cuộc chia tay lớn trong lịch sử vào tháng 10 năm 1954 – cuộc chia tay giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ miền xuôi. Cả hai tác phẩm đều là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.

– Hai đoạn thơ trên đều bộc lộ nỗi nhớ về mảnh đất miền Tây Bắc nhưng ở mỗi bài có những nét đặc sắc riêng.

2 Trình bày cảm nhận:

a Cảm nhận về đoạn thơ đầu trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:

– Đoạn thơ thể hiện một nỗi nhớ cồn cào, da diết của nhà thơ về một thời đã qua. Điệp từ “nhớ”, cách nói “nhớ chơi vơi”, cách giao vần “ơi” và 2 chữ “xa rồi” khiến nỗi nhớ chập chờn hư thực, vừa tha thiết, thường trực, vừa mênh mang, đầy ám ảnh. Nỗi nhớ như ngân vang, phù hợp với biên độ của cảm xúc.

– Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc được mở ra theo hồi tưởng của nhà thơ với các địa danh “Sông Mã” “Sài Khao” “Mường Lát” – những cái tên đầy lạ lẫm, gợi sự xa xôi, hoang vu, bí hiểm. Thiên nhiên cũng thật khắc nghiệt “sương lấp” song cũng có lúc thi vị vô cùng “hoa về trong đêm hơi.

– Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra trong một nét vẽ “đoàn quân mỏi” càng làm rõ hơn sự khắc nghiệt của thiên nhiên Tây Bắc và những gian khổ của chiến tranh.

– Nghệ thuật: bút pháp tả thực, đưa nhiều địa danh vào thơ tạo cảm giác xứ lạ phương xa, giọng thơ giàu cảm xúc, các gieo vần rất tinh tế, khiến câu thơ như ngân dài…

b Cảm nhận về đoạn thơ trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:

Đoạn thơ là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng về chiến khu nơi từng gắn bó trong cuộc kháng chiến đầy gian khổ.

Tình thế của quân ta: “giặc đến giặc lùng”: nguy biến, tan tác, loạn lạc.

– Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân. “Rừng”, ” núi” được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo nên thế hiểm của trường thành, của lũy thép vây bọc quân thù. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước.

=> Qua bốn câu thơ càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta.

– Nghệ thuật: Thể thơ lục bát thân thuộc, điệp từ “rừng” “núi” và phép nhân hóa [câu 2,4] đã cùng tái hiện thành công hình ảnh đất nước đứng lên.

3 So sánh:

 a Điểm giống nhau:

Đều là những tác phẩm sáng tác thuộc mảng văn học cách mạng với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, đề cao ân nghĩa thủy chung.

– Cả hai đoạn thơ đều bộc lộ về nỗi nhớ về mảnh đất nơi từng là địa bàn sinh sống và chiến đấu của những người lính.

b Điểm khác nhau:

– Đoạn thơ trong “Tây Tiến” chủ yếu tái hiện bức tranh thiên Tây Bắc.

– Đoạn thơ trong “Việt Bắc” tập trung tái hiện hình ảnh đất nước đứng lên.

4 Đánh giá:

Cả hai đều là những đoạn thơ hay nhất nói về nỗi nhớ và tình nghĩa thủy chung của các nhà thơ.

– Khẳng định sức hấp dẫn của 2 bài “Tây Tiến”, “Việt Bắc” và của cả 2 cây bút Quang Dũng, Tố Hữu trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.

  1. SÓNG XUÂN QUỲNH BẮC GIANG LẦN 2

Câu 2: (4.0 điểm)

Cho đoạn trích sau:

Cuộc đời tuy dài thế

 Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

 

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

 Để ngàn năm còn vỗ

 (Xuân Quỳnh, Sóng, SGKNgữ văn, Tập 1, NXBGD 2009)

Cảm nhận của anh/chị về những dự cảm và khát vọng tình yêu trong đoạn thơ trên.

1 Giới thiệu chung

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh và được nhiều thế hệ độc giả yêu thích.

– Hai khổ cuối của bài vừa chất chứa những dự cảm vừa nồng nàn khát vọng tình yêu của người phụ nữ.

2 Cảm nhận:

* Những dự cảm về sự mong manh trong tình yêu – khổ 1:

– Người phụ nữ ý thức rõ về sự dài rộng của cuộc đời nhưng càng thấm thía hơn“năm tháng vẫn đi qua” và “biển kia dẫu rộng” cũng không giữ nổi mây của trời.

– Qua đó, ta thấy được tâm trạng đầy lo âu, trăn trở của nhà thơ khi nhìn thấy sự đối lập ghê gớm giữa con người và vũ trụ.

* Những khát vọng được hóa thân để được bất tử, vĩnh hằng với tình yêu – khổ 2:

– Từ những dự cảm đó, Xuân Quỳnh đã tìm ra một con đường để có thể trở nên bất tử cùng vũ trụ là nhờ vào tình yêu: trong tình yêu con người sẽ sống mãi với thời gian.

– Khổ thứ 2 thể hiện khát vọng cao cả đầy nữ tính của người phụ nữ đang yêu, muốn hòa cái tôi nhỏ bé vào cái chung rộng lớn, muốn tình yêu của mình trở lên bất tử (mơ ước được “tan ra” như trăm con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu, nghĩa là quên mình, hi sinh cho người mình yêu và tình yêu của mình)

* Nghệ thuật biểu hiện:

+ Thể thơ 5 chữ với câu thơ ngắn gọn ,sử dụng thành công biện pháp ẩn dụ.

+ Tạo nên 2 hình tượng tuy hai mà một, nhà thơ sử dụng hình ảnh con sóng nhẹ nhàng nhưng đầy nữ tính để thể hiện khát vọng mãnh liệt trong tình yêu của mình.

3 Đánh giá:

– Sự bộc lộ những dự cảm và khát vọng thể hiện một tình yêu vừa sâu lắng vừa nồng nhiệt; mang nét đặc trưng tình cảm, tâm lí người phụ nữ khi yêu.

– Khẳng định sức hấp dẫn của đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung: “Sóng” xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của nền thơ Việt Nam hiện đại.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG -BÌNH THẠCH TÂY NINH

Câu 2 (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

(Tây Tiến, Quang Dũng, ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 88)

“Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”

(Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 110)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ:

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn. Còn Tố Hữu (1920-2002), quê ở Huế, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc.

Tây Tiến (1948), Việt Bắc (1954) đều là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.

– Hai đoạn thơ trên đều viết về nỗi nhớ nhưng ở mỗi bài có những nét đặc sắc riêng.

2.2 Cảm nhận về hai đoạn thơ: a Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến”:

* Nội dung: Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về mảnh đất miền Tây và đoàn quân Tây Tiến. Mỗi địa danh được nhắc đến “Sông Mã” “Sài Khao” “Mường Lát” – là một chặng đường hành quân, cũng là một chặng đường đời của nhà thơ nói riêng và những người lính Tây Tiến nói chung. Đó là “chứng nhân” lịch sử cho những gian khổ và hào hùng mà họ đã trải qua. Bởi thế mà tiếc nuối bâng khuâng “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”, mà tha thiết “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi“.

* Nghệ thuật: Nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc (câu mở đầu như một tiếng gọi vang vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần (rồi, ơi, chơi vơi) với điệp từ “nhớ”.

b Đoạn thơ trong bài “Việt Bắc”:

* Nội dung: Đoạn thơ là lời bộc lộ nỗi nhớ của người Việt Bắc với những người cán bộ miền xuôi.

Mình về rừng núi nhớ ai

 Trám bùi để rụng, măng mai để già

Trám và măng – lương thực chủ yếu của bộ đội ta khi còn ở Việt Bắc. Nay người đi rồi, trám để rụng, măng để già không người thu hái nên buồn nhớ mênh mông. Thiên nhiên mang nỗi buồn thiếu vắng. Qua đó để thấy, không chỉ con người nhớ nhung mà cảnh cũng mang nỗi bùi ngùi bức bối như thúc vào lòng kẻ ở người đi. Thiên nhiên như cũng nặng tình, nặng nghĩa với con người.

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

 Câu hỏi thứ hai gợi nhớ đến con người Việt Bắc “Hắt hiu lau xám / đậm đà lòng son”. Câu thơ có hai hình ảnh tương phản: những ngôi nhà lá đơn sơ, mộc mạc, nghèo khổ trong dáng vẻ “hắt hiu lau xám” gợi nỗi buồn hiu quạnh. Bên trong “những nhà” ấy lại chứa đựng tấm lòng son sắc thủy chung, nghĩa tình của nhân dân Việt Bắc đối với cách mạng. Đó là nghĩa tình sâu nặng của những con người đã góp phần làm nên Điện Biên “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”.

* Nghệ thuật:

Lối đối đáp, xưng hô “mình – ta” và thể thơ lục bát mang đậm tính dân tộc, có sức gợi và sức truyền cảm cao. Các hình ảnh hoán dụ, nhân hóa, câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ được sử dụng hài hòa, đắt giá.

2.3 So sánh hai đoạn thơ:

– Điểm tương đồng:

+ Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ của người trong cuộc: tha thiết, bồi hồi, sâu lắng với thiên nhiên và con người một thời gắn bó, yêu thương trong kháng chiến.

+ Đều thể hiện phong cách thơ độc đáo, tấm lòng thủy chung son sắt của những người trong cuộc đối với những điều thân thuộc, một thời gắn bó.

– Điểm khác biệt:

+ Nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng được bộc lộ trực tiếp, cụ thể: nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi. Đó là nỗi nhớ của người đi với cảnh cũ, người xưa còn trong thơ Tố Hữu là nỗi nhớ của người ở lại với người ra đi, thể hiện một các gián tiếp qua các hình ảnh hoán dụ.

+ Hai đoạn thơ (cũng như toàn bài thơ) sử dụng hai hình thức khác nhau để bộc lộ cảm xúc: Tây Tiến sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên. Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát.

– Lí giải:

+ Hai bài thơ đều được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

+ Quang Dũng và Tố Hữu là hai nhà thơ, hai chiến sĩ, viết về nỗi nhớ của người trong cuộc. Mỗi nhà thơ có phong cách sáng tạo nghệ thuật riêng.

2.4 Đánh giá:

Mỗi đoạn thơ dù có cách thể hiện khác nhau song vẫn làm nổi bật lên lối sống ân tình, thủy chung, đáng tự hào của con người Việt Nam.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG – LÝ THƯỜNG KIỆT BÌNH THUẬN

Câu 2: 4 điểm.

Cảm nhận của anh – chị về hai đoạn thơ của hai tác giả sau:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

 Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

(Trích Tây Tiến – Quang Dũng)

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương ?

 Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

 Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!

 Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. ”

(Trích Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

2 Cảm nhận của anh – chị về hai đoạn thơ:

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí. “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

– Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng của nền văn học Việt Nam. Ông có một phong cách nghệ thuật rõ nét, độc đáo đó là những suy tưởng, triết lý đậm chất trí tuệ và tính hiện đại. Đặc biệt, nhà thơ còn có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ. Bài thơ “Tiếng hát con tàu” được ông sáng tác năm 1960, thời gian cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế.

– Giới thiệu, trích dẫn 2 đoạn thơ.

2.2 Cảm nhận:

  1. Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến”:

– Bức tranh thứ nhất mở ra bằng cảnh đêm liên hoan lửa trại biên giới:

+ Khổ thơ với bút pháp lãng mạn, diễn tả linh hoạt đêm “ hội đuốc hoa”với ánh sáng, màu sắc, một buổi liên hoan đậm tình quân dân. Cái tiếng reo vui, đầy ngạc nhiên “ kìa” hào hứng trước cái lạ của xứ lạ, trang phục lạ, ..

+ Cái nồng ấm và tình tứ là sức sống của một dân tộc , biến chàng trai thành thi sĩ “ xây hồn thơ”. Đó là sức sống của những tình cảm lâu nay bị kìm hãm, nay được hồi sinh trước vẻ đẹp của cuộc sống.

+ Trung tâm là hình ảnh các cô gái với cử chỉ e thẹn, nét nhạc chơi vơi cùng điệu Lăm vông của cô gái Lào làm say đắm chàng trai Hà Thành, biến họ thành thi sĩ.

+ Khổ thơ có giọng điệu hài hòa, êm ái, phù hợp với không khí ấm áp của bản làng và tình quân dân thắm thiết.

– Bức tranh thứ hai diễn tả vẻ đẹp của con người và cảnh vật Tây Bắc trong cảnh hoàng hôn sông nước Châu Mộc:

+ Bao trùm lên khổ thơ là vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên Tây Bắc. Ngôn ngữ cô đọng hàm súc, “ chiều sương ấy” gói trọn cả thời gian chiều và không gian sương đầy ấn tượng. Tay lái tài hoa làm tiêu tan vẻ dữ dội của dòng nước lũ, tạo nên chất thơ, cũng là cách thơ hóa cái dữ dội, cái hùng vĩ.

+ Thiên nhiên hữu linh, có linh hồn, dáng người lái thuyền với tay chèo uyển chuyển, hài hòa với dáng hoa “ đong đưa”…

=> Đoạn thơ diễn tả một vẻ đẹp khác của thiên nhiên, con người miền Tây, đó là vẻ thơ mộng, mơ màng của thiên nhiên và tình quân dân thắm thiết, đậm đà.

  1. Khổ thơ trong bài “Tiếng hát con tàu”:

– Nỗi nhớ về thiên nhiên “bản sương giăng, đèo mây phủ” và con người có ân tình sâu nặng lắm mới

“Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?”.

Điệp từ “nhớ” và câu hỏi tu từ tô đậm nỗi nhớ, khiến tình cảm càng sâu nặng, thiết tha.

– Từ thực tế cuộc sống, ý thơ đưa tới suy ngẫm khái quát, chứa đựng một triết lý sâu sắc, biểu hiện một quy luật tình cảm, quy luật của trái tim: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!

– Tình yêu đôi lứa trở nên kì diệu, tạo sự gắn bó, thiết tha không chỉ với con người mà còn gắn bó với cảnh vật làng quê – đó là quy luật tình cảm của con người. Nói “đông về nhớ rét” thực ra là nhớ đến hơi ấm của tình yêu khi mùa đông lạnh lẽo trở về. Các hình ảnh “cánh kiến hoa vàng”, “ chim rừng long trở biếc”, đều là những quan sát chắt lọc từ núi rừng Tây Bắc góp phần làm phong phú cho các biểu tượng tình yêu của văn học. Tình yêu đôi lứa chân chính luôn gắn với tình yêu quê hương đất nước.

– Suy tư sâu sắc về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn con người được đúc kết thành triết lí: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Đó là điều kì diệu mà tình cảm con người đã làm được để biến kỉ niệm miền đất mình từng đi qua thành tâm hồn của chính mình.

=> Trở về với Tây Bắc, ngọn nguồn của cảm hứng sáng tạo, của cuộc sống chân chính, tất cả trở thành tình yêu bất tận, nỗi nhớ kỉ niệm gắn bó với nhà thơ.

2.3 So sánh hai đoạn thơ:

Nét chung:

+ Hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ da diết về đất và người Tây Bắc; thể hiện tình cảm thắm thiết giữa các nhà thơ với đồng bào Tây Bắc.

+ Cả hai cách cảm nhận đều thể hiện lối sống tình nghĩa thủy chung với quá khứ. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào về nhân dân, đất nước trong lòng độc giả.

+ Cả 2 tác giả đều thành công trong sáng tạo hình ảnh thơ. (Lí do: cả 2 nhà thơ đều có quãng đời gắn bó với mảnh đất Tây Bắc)

Nét riêng:

+ Đoạn thơ trong “Tây Tiến” tập trung hướng về vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên miền Tây trong con mắt của một chiến sĩ đã từng gắn bó với cuộc sống con người nơi đây. Đó là vẻ đẹp cảnh núi sông thơ mộng, hữu tình. Qua đó, làm nổi bật hình ảnh những người lính trẻ trung, hồn nhiên, vô tư, tâm hồn lạc quan, yêu đời.

+ Đoạn thơ trong “Tiếng hát con tàu” bộc lộ nỗi nhớ về núi rừng, con người Tây Bắc để từ đó khái quát lên thành chân lí về quy luật tình cảm của con người.

+ Đoạn thơ trong “Tây Tiến” sử dụng thể thơ 7 chữ, sáng tạo các hình ảnh thực; đoạn còn lại sử dụng thể thơ tự do, hình ảnh có tính khái quát cao. (Lí do: do đặc trưng phong cách nghệ thuật riêng của mỗi tác giả).

=> Chính những cảm nhận riêng đó đã góp phần tạo nên sức lôi cuốn, hấp dẫn của từng bài thơ cũng như sự phong phú của thơ ca viết về tình yêu quê hương đất nước mọi thời đại. 2.4 Đánh giá chung:

– Hai tác phẩm đều thể hiện nỗi nhớ da diết của những con người đã từng gắn bó với nhân dân trong kháng chiến. Tất cả làm nổi bật vẻ đẹp tình quân dân sâu nặng, tình nghĩa thủy chung gắn bó trong cuộc sống.

– Qua đó, ta thấy được phong cách nghệ thuật của hai nhà thơ: Quang Dũng mang đến phong cách thơ lãng mạn, thanh lịch, tinh tế, phóng túng còn Chế Lan Viên mang phong cách suy tưởng, triết lí, giàu chất trí tuệ, hiện đại cùng nhiều sáng tạo phong phú, đa dạng, độc đáo về hình ảnh.

  1. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG CẨM KHÊ

Câu 2 (4,0 điểm):

 Nét tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi miêu tả hình tượng sông Hương chảy vào giữa thành phố Huế trong bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

1 Giới thiệu chung:

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, cũng là một trí thức giàu lòng yêu nước. Ông có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí xuất sắc, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, viết tại Huế ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng tên.

– Đoạn trích miêu tả sông Hương giữa lòng thành phố Huế, sau một thủy trình dài từ rừng già và ngoại vi thành phố là một minh chứng cho nét tài hoa, uyên bác của nhà văn.

2 Phân tích:

a Sự uyên bác được thể hiện qua những hiểu biết sâu rộng của nhà văn và cách tiếp cận, khám phá vẻ đẹp sông Hương ở nhiều góc độ:

– Đặc điểm của Sông Hương trong lòng Huế:

+ Từ ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng theo hướng tây nam – đông bắc, giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, uốn cánh cung sang Cồn Hến.

+ Đầu và cuối ngõ thành phố, sông Hương có nhiều chi lưu, mang nước đi khắp phố thị.

+ Dòng sông chảy chậm như gần như đứng yên, được ví như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”; khác hẳn với Nê-va cuộn chảy. Như vậy, qua sự đối chiếu, so sánh, tác giả vừa mang đến cho người đọc thêm nhiều kiến thức địa lí, âm nhạc, vừa làm nổi bật vẻ đẹp riêng của dòng Hương.

– Những đặc điểm ấy được lí giải từ các góc nhìn khác nhau:

+ Từ đặc điểm địa lí tự nhiên: “những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước”

+ Từ lí lẽ của trái tim thì “điệu chảy lặng lờ”, ngập ngừng muốn đi muốn ở” của sông Hương là do tình cảm dành riêng cho Huế, do quá yêu thành phố của mình, do muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa thành phố thân thương trước khi phải rời xa

=> Sông Hương như một người tình dịu dàng, duyên dáng, thủy chung.

b Tài hoa thể hiện ở việc sử dụng biện pháp nhân hóa và sự am hiểu tâm lí con người khiến sông Hương hiện lên như một người tình “vui tươi và duyên dáng”:

– Tâm trạng vui tươi của dòng sông từ khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ đến đây càng rõ hơn khi đã nhận ra những dấu hiệu của thành phố.

– Người gái đẹp sông Hương làm dáng lần cuối cùng trước khi chảy vào giữa lòng thành phố thân yêu, trước khi đến với người tình nhân đích thực: “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến” khiến “dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.

c Tài hoa của nhà văn còn nằm ở những hình thức nghệ thuật đặc sắc khác:

– Tác giả đã sáng tạo nên những trang văn đẹp, giàu hình ảnh, được tạo bởi kho từ vựng phong phú, tinh tế và uyển chuyển, mượt mà.

– Các câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, giọng văn đầy cảm xúc, sử dụng thành công các biện pháp nhân hoá, so sánh, liên tưởng mang đến cho người đọc nhiều bất ngờ, thú vị.

– Kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp kể và tả làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông.

3 Đánh giá:

– Bằng sự tài hoa, uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tái hiện vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt của sông Hương. Nó là dòng sông mang đậm tính cách, tâm hồn của con người xứ Huế.

– Qua đó, ta thấy được tình yêu say đắm của nhà văn đối với dòng sông, với quê hương xứ sở. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” xứng đáng là là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về Huế thân thương.

  1. TÂY TIẾN – QUANG DŨNG CHÍ LINH HẢI DƯƠNG

Câu 2. (4 điểm)

Nhận xét về bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hoàn cho rằng:

Qua nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, Quang Dũng đã khắc họa thành công vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến.

Dựa vào những hiểu biết về tác phẩm “Tây Tiến” củ Quang Dũng, anh/chị hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến trên.

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn.

– “Tây Tiến” là bài thơ xuất sắc trong sự nghiệp văn chương của Quang Dũng, cũng là một trong những bài thơ hay nhất viết về đề tài người lính trong kháng chiến chống Pháp.

– Trích dẫn nhận định. Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến vừa hào hùng vừa hào hoa.

2.2 Phân tích, chứng minh: a Vẻ đẹp hào hùng và sự hi sinh bi tráng:

* Được khắc họa tập trung trong tương quan với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hiểm trở, dữ dội, hùng vĩ và hiện thực sống – chiến đấu rất khắc nghiệt.

* Những biểu hiện cụ thể:

– Những người lính có lí tưởng yêu nước cao cả. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã kết tinh được vẻ đẹp lí tưởng yêu nước của những chàng trai thanh niên Hà Nội. Họ là những chàng trai thời loạn tự nguyện xếp bút nghiên ra chiến trường, sẵn sàng dấn thân, xả thân cho đất nước với lí tưởng cao cả “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

– Những người lính có ý chí , nghị lực, đối mặt vượt lên mọi khó khăn thử thách. Biết bao khó khăn chồng chất: sự hiểm trở cả địa hình (“Dốc lên khúc khuỷu”, “heo hút cồn mây”…), sự oai linh của rừng thiêng nước độc (“Chiều chiều oai linh thác gầm thét”), sự rình mò của thú dữ (“đêm đêm…cọp trêu người”…)…, sự dãi dầu của thân xác trong một thời gian dằng dặc (“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”…), sự hoành hành của bệnh tật nơi “Lam Sơn chướng khí” (“không mọc tóc”, “xanh màu lá”…), sự ác nghiệt của chiến tranh (rải rác biên cương mồ viễn xứ…)…Vậy mà những người lính ấy không hề nản chí, chùn bước.

Bài thơ hơn một lần nói đến cái chết nhưng đó không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, lẫm liệt của người chiến sĩ đi vào cõi bất tử. Và đẹp nhất là cái chết sang trọng này: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Sang trọng vì được bọc trong những tấm chiến bào, được về tựu nghĩa cùng với Đất mẹ, và nhất là được thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để đưa tiễn hương hồn người chiến sĩ. Ở đây thủ pháp cường điệu đã đẩy chất bi tráng lên đến đỉnh cao diệu kì cùa nó.

=> Người lính Tây Tiến qua hồi tưởng của nhà thơ dù phải đối diện với những khó khăn mất mát nhưng vẫn hiện ra kì vĩ, oai phong, kiêu hùng và cũng thật hào hùng, bi mà không lụy.

b Vẻ đẹp hào hoa:

* Để khám phá và thể hiện chân thực vẻ đẹp hào hoa của người lính, nhà thơ đã đặt hình tượng này trong tương quan với khung cảnh nên thơ, thi vị, huyền ảo, duyên dáng của thiên nhiên miền Tây.

* Những biểu hiện cụ thể:

– Cảm nhận tài hoa, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên miền Tây:

+ Họ ngỡ ngàng nhận ra “hoa về trong đêm hơi” ở Mường Lát.

+ Họ sảng khoái khi ngắm “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Họ thực sự thấy ấm áp khi cảm nhận hương vị cơm lên khói, hương “thơm nếp xôi” ở Mai Châu.

+ Chỉ những người lính Tây Tiến mới nhìn những bó đuốc cháy sáng trong đêm hội liên hoan ở một vùng đất tưởng như bị lãng quên hoang vu thành “đuốc hoa”, mới thấy “hoa đong đưa” như làm duyên cùng dòng nước lũ.

+ Chất hào hoa đã gửi vào cái nhìn cảnh vật tạo nên những câu thơ đầy ám ảnh: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấyCó thấy hồn lau nẻo bến bờ” Câu thơ chất thi sĩ trong sâu thẳm tâm hồn người lính Tây tiến, trong khoảnh khắc giao cảm bất ngờ với hồn tạo vật.

– Những câu thơ viết về nỗi nhớ làm cho tâm hồn người lính thăng hoa “Đêm mơ Hà Nôi dáng kiều thơm” vô cùng lãng mạn, bay bổng.. Chính nỗi nhớ, ước mơ hướng về một góc phố, một ngõ nhỏ, về những dáng kiều thơm ấy đã tiếp sức, nâng bước cho người lính trẻ Hà Nội thêm vững vàng, quyết tâm chiến đấu, xả thân vì tổ quốc.

c Nghệ thuật miêu tả:

– Quang Dũng đã chọn cách thể hiện vẻ đẹp của người lính Tây Tiến một cách độc đáo”

+ Sự hòa trộn giữa hiện thực và trữ tình, bi và tráng…

+ Bút pháp tương phản…

+ Ngôn từ thơ giàu chất họa và chất nhạc…

2.3 Đánh giá:

– Khẳng định ý kiến trên là đúng.

– Qua bài thơ, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài về người lính Tây Tiến – lãng mạn, hào hoa, hào hùng và bi tráng. Bài thơ xứng đáng là một trong những tác phẩm hay nhất, đẹp nhất trong nền thơ ca kháng chiến Việt Nam.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG ĐA PHÚC LẦN 1

Câu 2 (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hai đoạn thơ sau:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012)

Có biết bao người con gái con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

 (Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012)

Cảm nhận của anh (chị) về 2 đoạn thơ:

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài song ông được biết đến nhiều nhất với tư cách là một nhà thơ. Ông cũng là một trong những tác giả tiêu biểu cho nền thơ ca kháng chiến Việt Nam. “Tây Tiến” (1948) là một trong những bài thơ xuất sắc, làm nên tên tuổi của Quang Dũng.

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ. Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác vào cuối năm 1971 (đoạn trích trong SGK chỉ là một phần của chương này). Có thể nói đây là chương hay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của bản trường ca – tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”.

– Trích dẫn hai đoạn thơ.

2.2 Cảm nhận:

a Đoạn thơ trong bài Tây Tiến:

– Về nội dung: Đoạn thơ đã thể hiện tinh thần yêu nước, anh dũng và sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến. Những nấm mồ rải rác thầm lặng, lẻ loi nơi xa xôi, hoang vắng… Tinh thần dũng cảm, sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ cho đất nước. Cái chết đơn sơ nhẹ nhàng, thanh thản. Lời ai điếu dữ dội của thiên nhiên tiễn đưa linh hồn tử sĩ.

– Về nghệ thuật: Ngòi bút vừa hiện thực vừa lãng mạn, giọng điệu vừa bi thương vừa hùng tráng, nói giảm nói tránh, thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ trang trọng, cổ kính qua hệ thống từ Hán Việt.

b Đoạn thơ trong đoạn trích Đất Nước:

– Về nội dung: Đoạn thơ là sự khám phá đất nước dưới góc nhìn lịch sử. Trong đó nhà thơ bộc lộ lòng trân trọng ngợi ca, biết ơn với nhân dân – những người anh hùng vô danh đã cống hiến, hi sinh một cách tự nguyện, thầm lặng để làm nên đất nước. Từ đó, khẳng định đất nước của nhân dân.

– Về nghệ thuật: Thể thơ tự do với những câu dài ngắn linh hoạt, ngôn ngữ bình dị…Giọng điệu tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng…

2.3 Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn:

– Sự tương đồng: Hai đoạn thơ cùng ngợi ca tinh thần yêu nước của những người đã ngã xuống trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước. Họ hi sinh một cách tự nguyện, thanh thản, nhẹ nhàng mà thầm lặng. Họ là những người bình thường nhưng công lao lại vô cùng to lớn.

– Sự khác biệt:

+ Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến“, ra đời vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, khắc họa vẻ đẹp rất hào hùng, bi tráng của người lính Tây Tiến, họ là những con người cụ thể – những chàng trai xuất thân từ Hà Nội, lần đầu lên miền Tây hoang vu, xa xôi để chiến đấu với lí tưởng cao đẹp. Giọng điệu vừa bi thương vừa hùng tráng, biện pháp nói giảm. nói tránh, thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ trang trọng, cổ kính, thể hiện rõ hồn thơ Quang Dũng tinh tế, hào hoa, đậm chất lãng mạn.

+ Đọan thơ trong đoạn trích “Đất Nước” ra đời trong kháng chiến chống Mĩ, khắc họa hình ảnh tập thể (nhân dân) dưới góc nhìn lịch sử, trân trọng những người bình dị, vô danh nhưng đã làm ra đất nước. Thể thơ tự do, bộc lộ rõ phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm: giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư của người trí thức đứng về nhân dân.

+ Lí giải sự khác biệt: do hoàn cảnh sáng tác và mục đích nghệ thuật khác nhau. Tây Tiến hướng về đồng đội cũ – những người cụ thể. Đất Nước viết về truyền thống mấy ngàn năm của dân tộc.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN ĐA PHÚC HÀ NỘI

Câu 2. (4.0 điểm)

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.

Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà làm mẹ, bà đã chẳng lo được cho con…May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?

Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng… Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:

– Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.

 Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?…

– Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.

Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật:

– Kể ra làm dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…

(Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr 28-29)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt.

1 Giới thiệu chung

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Truyện khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống. Điều đó được thể hiện rõ nét qua đoạn trích: “Bà lão cúi đầu nín lặng… nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”.

2 Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích:

a Cuộc đời, số phận:

-Nghèo khổ, bất hạnh (sống phận mẹ góa con côi ở xóm ngụ cư, con trai lại nhặt được vợ trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp).

b Tính cách, phẩm chất: giàu tình thương con; nhân hậu; nhạy cảm và từng trải; lạc quan, tin yêu vào cuộc sống.

* Tình thương con và tấm lòng nhân hậu của một người mẹ thấu hiểu lẽ đời:

– Trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, bà cụ Tứ “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình“. Bà hờn tủi cho thân mình đã không làm tròn bổn phận với con. Giọt nước mắt của cụ vừa ai oán, xót xa, buồn tủi vừa thấm đẫm tình yêu thương cụ dành cho con.

– Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng“. Bà thật sự mong muốn các con sẽ hạnh phúc.

– Ân cần dặn dò, chỉ bảo các con yêu thương, hòa thuận với nhau, chăm chỉ làm ăn.

* Niềm lạc quan, tin yêu cuộc sống:

– Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con. Bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.

 c Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

-Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo, éo le và cảm động; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và sắc sảo; ngôn ngữ nhân vật có màu sắc riêng; nghệ thuật kể chuyện sinh động, tự nhiên.

2.3 Nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt:

– Xót thương cho cuộc đời đau khổ, tủi nhục, thân phận rẻ rúng, bèo bọt, vô giá trị của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

– Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến gây ra nạn đói, đẩy người nông dân đến bờ vực của cái đói, cái chết.

– Phát hiện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người lao động: tình người cao đẹp, khát vọng hạnh phúc gia đình, lạc quan và tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống.

2.4 Đánh giá:

– Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng nghệ thuật độc đáo, thể hiện được chủ đề, tư tưởng của truyện ngắn.

– Tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Kim Lân đã góp phần đưa tác phẩm Vợ nhặt trở thành một trong những kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam.

  1. ĐÂY THÔN VĨ DẠ – HÀN MẠC TỬ ĐẶNG THÚC HỨA NGHỆ AN

Câu 2. (4,0 điểm)

Anh (chị) hãy cảm nhận hai đoạn thơ sau:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ”?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”…

 (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

Và:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

 Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

 Nhà ai Pha luông mưa xa khơi

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Cảm nhận của anh/chị về những dự cảm và khát vọng tình yêu trong đoạn thơ trên.

1 Giới thiệu chung:

– Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ ca lãng mạn 1930-1945. Tuy cuộc đời nhiều bi thương nhưng ở ông luôn dồi dào sức sáng tạo. Đọc thơ Hàn Mặc Tử ta thấy rõ một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử nằm trong tập “Thơ điên” (hay “Đau thương”) được chính nhà thơ tập hợp lại vào 1938. Bài thơ vừa là bức tranh thiên nhiên, con người xứ Huế; vừa là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.

– Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn. Tây Tiến (1948) là thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, là bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.

– Trích dẫn 2 đoạn thơ.

2 Cảm nhận về hai đoạn thơ:

a/ Đoạn 1:

– Vị trí: Khổ đầu bài “Đây thôn Vĩ Dạ”.

– Nội dung: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.

+ Câu đầu là câu hỏi tu từ mang nhiều sắc thái. Có thể hiểu đó là lời mời mọc của một cô gái Huế dịu dàng, trìu mến hay là lời trách móc nhẹ nhàng của chính cô? Cũng có thể đó là lời tự vấn của nhà thơ cho một tự mình lần lỡ hẹn? Dù hiểu theo cách nào thì câu thơ cũng chứa đựng tình người tha thiết.

+ Ba câu sau gợi lên vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên thôn Vĩ trong khoảnh khắc hừng đông. Đó là bức tranh tươi tắn, đầy sức sống với ánh nắng ấm áp, lấp lánh của “nắng mới lên”, với màu xanh mướt “như ngọc” của trúc, của cau… Thấp thoáng ẩn hiện đằng sau khung cảnh ấy bóng dáng con người xứ Huế, vừa chăm chỉ, khéo léo, vừa đôn hậu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

=> Qua khổ 1, ta cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên, con người tha thiết cùng niềm băn khoăn day dứt của tác giả.

– Nghệ thuật:

+ Bút pháp lãng mạn trữ tình

+ Ngôn ngữ cực tả, trong sáng súc tích

+ Những hình ảnh thơ giàu sức gợi

+ Các biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ, phép điệp, so sánh…

b/ Đoạn 2:

* Vị trí: khổ đầu tiên của bài thơ “Tây Tiến”.

* Nội dung: Nỗi nhớ của nhà thơ về thiên nhiên và những cuộc hành quân của đoàn binh Tây Tiến.

– Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về mảnh đất miền Tây và đoàn quân Tây Tiến. Mỗi địa danh được nhắc đến “Sông Mã” “Sài Khao” “Mường Lát” – là một chặng đường hành quân, cũng là một chặng đường đời của nhà thơ nói riêng và những người lính Tây Tiến nói chung. Đó là “chứng nhân” lịch sử cho những gian khổ và hào hùng mà họ đã trải qua. Bởi thế mà tiếc nuối bâng khuâng “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”, mà tha thiết “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi“.

– Thiên nhiên miền Tây trong nỗi nhớ vừa hoang vu, khắc nghiệt, dữ dội lại vừa thơ mộng, trữ tình:

+ Gọi tên địa danh: gợi sự xa xôi, hoang vắng. “Sương lấp”: sương dày đặc, buốt giá.

+ Dốc núi cheo leo, thẳng đứng, nối tiếp nhau “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, nhìn từ trên xuống thấy “thăm thẳm” nghìn trùng.

+ Không gian heo hút, cao vợi “heo hút cồn mây súng ngửi trời”

-> Thiên nhiên hoang sơ, dữ dội, khắc nghiệt, chứa đựng nhiều nguy hiểm.

+ Cũng có khi thiên nhiên lại thơ mộng, dịu dàng: sương lại mềm mại như những chùm hoa “hoa về trong đêm hơi”, những làn mưa mỏng làm dịu đi những cực khổ của người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.

=> Qua miêu tả thiên nhiên, tác giả gián tiếp gợi lên những vất vả, gian khổ của đời lính Tây Tiến và bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của họ: dũng cảm, mạnh mẽ, kiên cường và cũng rất tinh tế, lãng mạn.

* Nghệ thuật:

– Hình ảnh thơ có sự hài hòa giữa nét thực và ảo, vừa mông lung vừa gợi cảm về cảnh và người (bút pháp lãng mạn).

– Nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc (câu mở đầu như một tiếng gọi vang vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần (rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi) tạo ra một âm hưởng tha thiết, ngậm ngùi.

– Sử dụng từ láy tượng hình và phép điệp, tương phản rất hiệu quả.

– Ngôn ngữ: Giàu tính tạo hình, giàu chất hoạ, chất nhạc.

3 Sự tương đồng, khác biệt:

– Tương đồng:

+ Cả hai đoạn thơ đều thể hiện qua hồi tưởng, niềm gắn bó tha thiết, sâu sắc về cảnh về người.

+ Sử dụng thể thơ bảy chữ hiện đại.

+ Chính cái tôi lãng mạn chắp cánh cho cảnh vật thêm thơ mộng, huyền ảo, lung linh. Cả hai đoạn thơ đều cho thấy nét bút tài hoa của hai thi sĩ.

– Khác biệt:

+ Trong “Đây thôn Vĩ Dạ”: Hồi ức về cảnh và người thôn Vĩ Dạ xứ Huế với những nét đặc trưng và mang đậm tâm tình, ước mong khao khát của thi nhân hướng về tình yêu, cuộc đời.

+ Trong “Tây Tiến”: Nỗi nhớ da diết về đồng đội về thiên nhiên hoang sơ dữ dội, hùng vĩ thơ mộng của miền Tây một thời Tây Tiến không thể nào quên. Đó là tình cảm đồng chí đồng đội, ân tình cách mạng, những kỉ niệm trong kháng chiến chống Pháp.

– Lí giải sự tương đồng và khác biệt:

+ Cả Quang Dũng và Hàn Mặc Tử đều là những hồn thơ lãng mạn, tài hoa.

+ Mỗi nhà thơ đều mang một cảm xúc riêng khi đứng trước cảnh và người.

+ Hoàn cảnh sáng tác: cảnh ngộ riêng của mỗi nhà thơ và hoàn cảnh thời đại để lại dấu ấn trong cảm xúc và hình ảnh thơ của mỗi nhà thơ.

4 Đánh giá chung:

– Khẳng định sức hấp dẫn của 2 bài thơ và tài năng, vẻ đẹp tâm hồn của 2 tác giả.

  1. ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM DĨ AN BÌNH DƯƠNG

Câu 2. (4,0 điểm)

Cảm nhận vẻ đẹp của hai đoạn thơ sau:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu.

Để ngàn năm còn vỗ.

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dánh hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…

(Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)

2 Cảm nhận vẻ đẹp của hai đoạn thơ sau:

2.1 Giới thiệu chung:

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) – một trong những gương mặt tiêu biểu cho các nhà thơ nữ thời chống Mĩ. Con đường thơ của chị gần một phần tư thế kỉ, khá phong phú về số lượng và tươi rói chất hiện thực đời sống. Thơ chị thấm đượm tình người và thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. “Sóng” là một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ ca VN hiện đại nói chung.

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức. Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị

– Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miền Nam vùng tạm chiếm về non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc. Chương V là những khám phá, cảm nhận sâu sắc, mới mẻ của nhà thơ về đất nước.

– Giới thiệu 2 đoạn thơ.

2.2 Cảm nhận:

  1. Đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”:

* Vị trí đoạn trích:

– Đoạn thơ nằm ở khổ cuối cùng của bài thơ, sau khi khẳng định tình yêu thủy chung, nỗi nhớ mãnh liệt và cả những dự cảm, lo âu, tác giả tiếp tục thể hiện khao khát được hóa thân vào tình yêu lớn của nhân loại để bất tử hóa tình yêu của mình.

* Cảm nhận:

– Ước mơ đến cháy bỏng của người phụ nữ là được “tan ra” – hóa thân thành trăm con sóng nhỏ để hòa vào biển lớn tình yêu nhân loại, muôn đời còn vỗ mãi, từ hôm nay đến mai hậu.

– Biển lớn tình yêu không chỉ là tình yêu đoi lứa mà còn là tình yêu lớn, tình yêu nước, yêu con người. Trái tim yêu thương vô bờ ấy sẽ đời đời bất diệt “ngàn năm còn vỗ”.

– Thể thơ năm chữ cô đọng, hàm súc; câu hỏi tu từ có sức gợi lớn lao; giọng thơ tha thiết, trữ tình.

=> Đoạn thơ thể hiện khát vọng bất tử hóa tình yêu của em, thể hiện qua hình ảnh sóng. “Sóng” và “em” vẫn song hành với nhau trên mọi hành trình. Tình yêu riêng tư, cá nhân nhờ đó mà trở nên vĩ đại, cao cả.

  1. Đoạn thơ trong đoạn trích “Đất Nước”:

* Vị trí đoạn trích:

– Đoạn thơ nằm ở cuối phần thứ nhất của đoạn trích. Sau khi lí giải nguồn gốc của “Đất Nước“, cắt nghĩa “Đất” và “Nước” cũng như nhắc lại lịch sử dân tộc, tác giả đã đúc rút ra chân lí về sự hi sinh, cống hiến của mỗi cá nhân để làm nên sự trường tồn của Đất Nước.

* Cảm nhận:

– Tiếng gọi “Em ơi em” tha thiết, gần gũi, nhưng không phải chỉ là đối thoại với người yêu mà dường như đang nói chuyện với tất cả thế hệ trẻ Việt Nam những năm 70 của thế kỉ XX, trong thời kì cả nước chống Mỹ.

– Một tổng kết mang tính triết lí: “Đất Nước là máu xương của mình”, chân lí này được đúc kết qua quá trình lịch sử hàng nghìn năm gian lao nhưng anh hùng, đau thương nhưng vĩ đại. Câu thơ hàm chứa sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với những thế hệ cha anh đã dũng cảm hi sinh để dựng nước và giữ nước.

– Nhà thơ đã cất lên lời nhắn nhủ chân thành: Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dánh hình xứ sở Điệp từ “phải biết” kết hợp với các động từ tăng tiến “gắn bó” “san sẻ “hóa thân” đã nhấn mạnh, khắc sâu vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay và mai sau đối với Đất Nước.

– Câu thơ cuối kín đáo bộc lộ tình yêu nước qua khát vọng về sự trường tồn của Đất Nước đến “muôn đời”.

=> Đoạn trích có giá trị như một tổng kết lịch sử ngắn gọn mà đầy đủ, giàu cảm xúc. Thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn linh hoạt, giọng thủ thỉ, tâm tình tha thiết, dễ đi vào lòng người.

2.3 So sánh hai đoạn trích:

* Điểm giống:

– Nội dung: Đều thể hiện tình yêu quê hương đất nước, tình yêu tha thiết với cuộc đời và khát vọng được bất tử hóa.

– Nghệ thuật: Sử dụng những đối thoại mà nhân vật trữ tình dường như là cái tôi thứ hai của tác giả, làm nên những đối thoại gần gũi dù nhân vật kia không xuất hiện, không cần lên tiếng.

* Điểm khác:

– Về nội dung:

+ Đoạn 1: Thể hiện khát vọng bất tử hóa tình yêu lứa đôi, đem tình yêu ấy hòa vào tình yêu Tổ quốc, tình yêu cuộc sống.

+ Đoạn 2: Tình yêu nước thể hiện qua thái độ trân trọng, biết ơn, tự hào với quá khứ và khát vọng bất tử hóa Đất Nước.

– Về nghệ thuật:

+ Đoạn 1: thể thơ 5 chữ, nhịp điệu như những con sóng.

+ Đoạn 2: thơ tự do, điệp ngữ, ngôn từ chọn lọc.

* Lí giải:

– Giống nhau:

+ Cùng sáng tác trong kháng chiến chống Mỹ

+ Cùng nói lên nỗi lòng của thế hệ trẻ bấy giờ

* Khác nhau:

– Do phong cách nghệ thuật của mỗi người.

2.4 Tổng kết:

– Khẳng định ý nghĩa, sức hấp dẫn của hai đoạn trích, 2 tác phẩm.

– Bài học về tình yêu cuộc sống và sự hi sinh, cống hiến.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG ĐÔ LƯƠNG 2 LẦN 1

Câu 2(4đ)

Cảm nhận của anh, chị về hai đoạn thơ sau:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

 Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

( Tây Tiến, Quãng Dũng)

 Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng chung đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù.

 ( Việt Bắc, Tố Hữu )

2 Cảm nhận hai đoạn thơ: Giới thiệu chung:

– Tố Hữu và Quang Dũng đều là nhà thơ trong kháng chiến chống Pháp. Quang Dũng là chàng trai trẻ Hà Thành xếp áo thư sinh mặc áo lính, tâm hồn lãng mạn hào hoa. Còn Tố Hữu được ví như lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, sự nghiệp thơ gắn với sự nghiệp cách mạng.

– Hai bài thơ sáng tác ở hai giai đoạn khác nhau: lấy cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc làm trung tâm, Tây Tiến sáng tác ở giai đoạn đầu, Việt Bắc là bản tổng kết một hành trình lịch sử sau khi quân và dân ta đã toàn thắng.

– Hai đoạn thơ: nằm trong hai bài thơ, có những điểm giống và khác nhau đặc sắc.

2.2 Phân tích: a. Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến”:

– Đoạn thơ nằm ở phần đầu tác phẩm, khi tác giả nói về nỗi nhớ da diết với núi rừng Tây Bắc, nơi đóng quân của đoàn Tây Tiến. Ngồi ở Phù Lưu Chanh mà nỗi nhớ cứ như ăm ắp dội về.

– Đoạn thơ khắc họa thiên nhiên núi rừng đầy hiểm trở:

+ Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm: địa hình toàn núi cao, hiểm trở. Tác giả sử dụng những thanh trắc liên tiếp nhau như đoạn đường gồ ghề, lên dốc xuống đèo trên đường hành quân củ người chiến sĩ.

+ Vừa khúc khuỷu, khó đi, vừa thăm thẳm nơi núi rừng, địa hình ấy còn cao, gợi cảm giác đoàn quân đi, đầu súng có thể cham tới trời.

+ Khắc nghiệt của núi rừng hiểm trở còn có “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Điệp từ “ngàn thước” lặp lại hai lần trong một câu thơ nói về số nhiều, cứ trùng trùng điệp điệp, hết cái này lại đến cái khác. Cặp từ đối lập “lên cao” – “xuống” làm ta hình dung ra con đường hành quân vô cùng gian lao. Nơi ấy rừng sâu nước độc. Nơi ấy địa hình hiểm trở cứ như chỉ chờ để nuốt chửng con người.

– Thiên nhiên không chỉ hiện lên hiểm trở, dữ dội mà cũng có nét rất hiền hóa, đáng yêu, thơ mộng. Đó là câu thơ toàn thanh trắc ở cuối như gợi lên cái vẻ dịu dàng sau bao nhiêu đoạn trèo núi vượt đồi.

=> Đoạn thơ hiện lên như một bản đồ đầy khúc khuỷu, gập ghềnh, cũng có những chỗ bằng phẳng, dịu êm. Đó là đặc trưng của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.

– Tâm trạng của con người:

+ Bao trùm lên tất cả là nỗi nhớ của một người đã từng gắn bó máu thịt nhưng nay phải đi xa, nên tha thiết, nhớ thương.

+ Người lính Tây tiến lạc quan, coi thường mọi khó khăn gian khổ: Cách nói “súng ngửi trời” tếu táo cho thấy tâm hồn họ luôn trẻ trung, biến mọi khó khăn trở nên nhẹ nhàng. Phẩm chất ấy tiếp thêm sức mạnh để người lính luôn hoàn thành nhiệm vụ.

+ Dũng cảm: Không khắc họa trực tiếp nhưng để vượt qua một chặng đường như vậy, người lính Tây tiến phải có lòng dung cảm, lý tưởng sống chiến đấu cho Tổ quốc đã giúp họ vượt qua tất cả.

– Nghệ thuật: Nhà thơ sử dụng từ láy, điệp từ, từ trái nghĩa nhằm hiện lên chân thực nhất hình ảnh núi rừng. Đọc đoạn thơ, nhịp điệu nhịp nhàng, như âm nhạc vang lên, có tiết tấu. Thơ Quang Dũng như ngậm nhạc ở trong miệng (Xuân Diệu) là như vậy.

  1. Đoạn thơ trong bài “Việt Bắc”:

– Đoạn thơ cũng nói về nỗi nhớ của những người miền xuôi về lại thủ đô, nhớ những ngày tháng còn gian khổ chiến đấu với đồng bào Tây Bắc.

– Thiên nhiên hiện lên dữ dội với kẻ thù và là người thân, đồng chí với quân và dân ta:

+ Núi giăng thành lũy sắt dày: Biện pháp so sánh làm nổi bật địa thế của núi cao. Với kẻ thù, nó như lũy sắt dày bao vây, cô lập kẻ thù, khiến chúng khó lòng trốn thoát được, nhất là trong khi không hiểu gì về điều kiện địa hình.

+ Rừng vây quân thù: rừng cây rậm rạp, nơi kẻ thù thiết kế bao thiết bị thông minh để lấy thông tin bí mật của ta nhưng chính chúng lại không ngờ nơi đây sẽ là nơi bao vây, cấm vận chúng. Nhìn đâu cũng thấy một màu xanh ngút ngàn, làm sao có thể xác định được phương hướng.

+ Ngược lại, với quân và dân ta, rừng che quân thù, khoác lên người bộ quân phục màu xanh là hòa mình vào với cỏ cây sông núi. Không dễ gì địch có thể phát hiện ra. Màu xanh ấy là màu thiêng liêng cho tới tận bây giờ của lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam.

=> Những hiểu biết sâu sắc của một người trong cuộc đã giúp Tố Hữu tái hiện sâu sắc những đặc điểm của thiên nhiên cũng như quá trình quân dân ta đối phó với Thực dân Pháp xâm lược. Nhờ núi rừng quê hương mà chúng ta có chiến thắng vang dội.

– Tâm trạng:

+ Nỗi nhớ được khẳng định ở ngay câu thơ đầu tiên.

+ Lòng dũng cảm, cao hơn hết là tình yêu quê hương đất nước đã giúp họ đứng vững trong cuộc kháng chiến trường kì và giành thắng lợi vang dội

+ Nhắc đến kỉ niệm còn xen lẫn niềm tự hào. Tự hào về lịch sử dân tộc. Tự hào về những gì chúng ta đã làm được trong thời đại Hồ Chí Minh anh hùng này.

– Nghệ thuật: thơ lục bát, những câu thơ chia thành hai vế thể hiện sự gắn bó của con người với thiên nhiên.

  1. So sánh hai đoạn thơ:

– Giống nhau:

+ Cùng nói về nỗi nhớ thiên nhiên Tấy Bắc, nơi để thương để nhớ rất nhiều trong văn học vì nó thuần tình thuần hậu.

+ Nhớ về những kỉ niệm một thời đấu tranh gian khổ nhưng anh hùng. Điều này phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, vì trong kháng chiến chống Pháp, vùng núi Tây Bắc là căn cứ địa chính của cách mạng.

+ Hai bức tranh thiên nhiên đều có nét dữ dội, nguy hiểm.

– Khác nhau:

+ Đoạn thơ trong Tây Tiến bộc lộ nỗi nhớ cụ thể của người trong cuộc toát lên vẻ hào hoa, lãng mạn nhưng cũng rất anh hùng. Hình ảnh thơ nghiêng về tả thực, trực quan.

+ Đoạn thơ trong Việt Bắc là cái tình, là lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ chiến sĩ đối với đất, với người Việt Bắc. Vì thế hình ảnh thơ nghiêng về khái quát, tượng trưng.

=> Cái khác tạo nên dấu ấn riêng của người nghệ sĩ.

2.3 Tổng kết:

– Hai bài thơ góp phần làm phong phú thêm văn học viết về kháng chiến chống Pháp.

– Thể hiện tình yêu quê hương đất nước của tác giả, lối sống nghĩa tình thủy chung của con người Việt Nam.

  1. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH NGUYỄN THI ĐỒNG BÀNH LẠNG SƠN

Câu 2 (5 điểm)

Về truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) có ý kiến cho rằng : Việt và Chiến là những đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ. Qua truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) , anh chị hãy phân tích nhân vật Việt và Chiến để làm sáng tỏ ý kiến trên.

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóngmiền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước, gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ.

– “Những đứa con trong gia đình” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, viết về một gia đình nông dân Nam Bộ giàu truyền thống yêu nước, căm thù giặc, gắn bó với đất nước và cách mạng.

– Truyện đã khắc họa thành công nhân vật Việt và Chiến. Họ “là những đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ.”

2 Giái thích ý kiến:

– Việt và Chiến là những đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ : khẳng định giá trị đại diện, tính điển hình của hai hình tượng Việt và Chiến. Hai hình tượng này có những phẩm chất đặc trưng, tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ như: có lòng căm thù giặc sâu sắc, yêu gia đình, quê hương, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân cho đất nước…

3 Phân tích, chứng minh:

– Việt, Chiến là hai chị em sinh ra trong một gia đình chịu nhiều đau thương, mất mát do tội ác Mỹ Diệm.

– Ở hai chị em sáng lên phẩm chất anh hùng, tình nghĩa của lớp trẻ vùng đồng bằngNam bộ nói riêng, tuổi trẻ Việt Nam nói chung trong kháng chiến chống Mỹ:

+ Nung nấu căm thù đối với tội ác quân giặc và có khát khao mãnh liệt được trả thù nhà nợ nước; kiên cường, mạnh mẽ, gan góc, cương trực trong cuộc sống và dũng cảm trong chiến đấu. Việt: Từ nhỏ đã dám xông vào đá cái thằng đã giết cha mình; Việt cùng với chị đã chủ động tìm giặc để đánh: bắn tàu giặc trên sông, phá xe tăng địch. Khi chỉ còn một mình trên chiến trường, mình đầy thương tích nhưng Việt vẫn quyết sống mái với quân thù. Chiến: một lòng một dạ quyết tâm tòng quân đánh giặc.

+ Gắn bó thiết tha, sâu nặng, ân tình với gia đình, quê hương xứ sở, đầy ý thức về truyền thống gia đình và có những hành động cụ thể để tiếp nối, phát huy truyền thống ấy.

– Ngoài những nét chung nổi bật, ở hai chị em lại có những nét riêng làm nên sức hấp dẫn của nhân vật và góp phần thể hiện vẻ đẹp phong phú của tuổi trẻ ViệtNam trong chiến tranh chống Mĩ:

+ Việt: sự hồn nhiên, vô tư.

+ Chiến: sự chín chắn, đảm đang xốc vác của cô gái Nam Bộ nói riêng và người phụ nữ ViệtNam nói chung.

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: thông qua việc lựa chọn một tình huống truyện độc đáo, lựa chọn điểm nhìn trần thuật phù hợp, chọn lọc các chi tiết đặc sắc, miêu tả nội tâm nhân vật tinh tế, sinh động, ngôn ngữ mang sắc thái Nam Bộ rõ nét,… tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp của “những đứa con trong gia đình”.

* Lưu ý: Học sinh cũng có thể phân tích từng nhân vật rồi khái quát vẻ đẹp chung, riêng.

4 Bình luận, đánh giá chung

– Ý kiến nhận định trên đã thể hiện rõ nét phẩm chất của con người Nam Bộ, đặc biệt là thế hệ thanh niên mà Việt và Chiến là những đại diện tiêu biểu cho thế hệ thanh niên thời kì chống Mỹ.

– Với hai hình tượng nghệ thuật này, Nguyễn Thi đã xây dựng thành công chân dung tiêu biểu của lớp trẻ vùng sông nước Nam Bộ nói riêng, con người Việt Nam nói chung kiên cường và tình nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ.

– Liên hệ, rút ra bài học cho thế hệ trẻ ngày nay.

  1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH THPT ĐỒNG LẬU VĨNH PHÚC

Câu 2 (4,0 điểm)

Nhận xét về giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng: “Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá”. Ý kiến khác lại nhấn mạnh: “Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực”.

Từ việc cảm nhận về giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập, anh/ chị hãy bình luận những ý kiến trên.

2 Bình luận về giá trị bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh.

* Yêu cầu kĩ năng: Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học. Giải thích được ý kiến, phân tích được nhân vật trong tác phẩm văn xuôi. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ.

* Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

a Vài nét về tác giả, tác phẩm và trích dẫn ý kiến

– Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh.

– Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt sau khi Cách mạng tháng Tám, năm 1945 thành công.

– Về giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập có hai ý kiến:

+ “là văn kiện lịch sử vô giá”

+ “là áng văn chính luận mẫu mực”

b Giải thích ý kiến:

Văn kiện lịch sử: là văn bản ghi lại những sự kiện có ý nghĩa lịch sử đối với dân tộc.

Văn kiện lịch sử vô giá: vai trò, tầm quan trọng có liên quan đến việc quyết định vận mệnh của một dân tộc.

Văn chính luận: là những tác phẩm văn chương sử dụng lập luận, dẫn chứng, lí lẽ để khẳng định một tư tưởng nào đó khiến độc giả tin vào điều được khẳng định là đúng sự thật.

Những áng văn chính luận mẫu mực: là những áng văn đạt chuẩn mực cao về nội dung và nghệ thuật có sức thuyết phục, quy tụ lòng người.

=> Hai ý kiến đều đánh giá cao tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập của Bác xét trên hai góc độ chính trị lịch sử và văn chương nghệ thuật.

c Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá:

– Là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta.

– Là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới.

– Là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta.

d Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực: Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc,…Thể hiện:

* Lập luận chặt chẽ Tác phẩm có bố cục ngắn gọn, súc tích gồm 3 phần liên kết chặt chẽ với nhau trong hệ thống lập luận:

+ Phần mở đầu: Nêu cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản “Tuyên ngôn”.

+ Phần thứ hai: Cơ sở thực tế của bản “Tuyên ngôn Độc lập”.

+ Phần kết luận: Lời tuyên bố của bản “Tuyên ngôn”.

* Lí lẽ sắc bén

+ Sức mạnh của lí lẽ chính là sự thật. Tác giả đã dùng hàng loạt thực tế lịch sử để chứng minh: Thực dân Pháp đã không “bảo hộ” được Việt Nam. Thực dân Pháp đã phản bội Việt Nam, thực dân Pháp đã gieo rắc nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam.

+ Dùng thực tế để khẳng định công lao của Việt Minh – đại diện duy nhất của nhân dân Việt Nam.

+ Sự độc lập của Việt Nam phù hợp với lẽ phải, công lí và đạo lí.

* Bằng chứng xác thực Bản Tuyên ngôn đưa ra những bằng chứng hoàn toàn xác thực, không thể chối cãi được (dẫn chứng).

* Ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc

+ Từ ngữ hết sức chọn lọc, súc tích

+ Dùng hàng loạt động từ, tính từ, quán từ … chính xác, giàu sắc thái biểu cảm.

+ Cần chú ý thêm cách sử dụng hàng loạt điệp từ, điệp ngữ (có tính khẳng định và nhấn mạnh).

e Bình luận hai ý kiến:

Cả hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau tưởng như đối lập nhưng là bổ sung cho nhau cùng khẳng định giá trị to lớn của bản tuyên ngôn. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử chính trị và văn chương nghệ thuật.

=> “Tuyên ngôn Độc lập” là một văn kiện lịch sử vô giá, là áng văn chính luận mẫu mực; là văn bản pháp lý, văn hoá của muôn đời; là hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh cũng như của toàn dân tộc Việt Nam – Bản Tuyên ngôn xứng đáng là áng văn lưu truyền muôn thuở.

g Đánh giá chung về tác phẩm

– Đánh giá về giá trị của tác phẩm và những đóng góp to lớn của tác giả trong nền văn học dân tộc.

– Suy nghĩ của người viết.

  1. RỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH ĐÔNG DU ĐẮC LẮC

Câu 2 (4,0 điểm)

Phân tích hình tượng cây xà nu trong tác phẩm “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành.

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Trung Thành là một nhà văn quân đội gắn bó sâu sắc với mảnh đất Tây Nguyên. Ông viết nhiều và có nhiều thành công với đề tài này, như “Đất nước đứng lên”, “Rừng xà nu”, “Các bạn tôi ở trên ấy“,…

– Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông viết về những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Tác giả đã xây dựng được một hình ảnh biểu tượng độc đáo – hình tượng cây xà nu.

2 Phân tích hình tượng cây xà nu:

a Xuất hiện nổi bật và xuyên suốt chiều dài tác phẩm:

– Tác phẩm mở ra với “những đồi xà nu nối tiếp chân trời” và khép lại “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Kết cấu đầu cuối tương ứng tạo lên 1 điệp khúc để nhấn mạnh, gây ấn tượng với người đọc về những rừng cây tít tắp, đầy sức sống, bạt ngàn, mạnh mẽ.

– Hình ảnh xà nu rải kín toàn bộ tác phẩm.

=>Ý nghĩa:

+ Tác giả đã tái hiện vẻ đẹp đặc trưng, kỳ thú của mảnh đất Tây Nguyên.

+ Ý nghĩa biểu tượng: Từ rừng cây xà

-> hình ảnh của con người Tây Nguyên, con người Xô Man.

b Hình ảnh xà nu gắn mật thiết với cuộc sống của con người Tây Nguyên:

* Có mặt trong đời sống hàng ngày:

– Lửa xà nu: dần dật cháy.

– Khói xà nu: biến thành vật dụng hữu ích đối với dân làng Xô man .

– Cả cánh rừng: ưỡn tấm ngực lớn che chở cho làng vì làng ở trong tầm đại bác.

=> Người dân làng Xô man đều gắn liền với cánh rừng xà nu bạt ngàn.

* Tham dự vào những sự kiện trọng đại của dân làng Xô Man:

– Trong cái đêm dữ dội, kẻ thù đã tra tấn vợ con T nú và khi ấy T nú đang nấp ở những tảng đá ở vìa làng và vẫn đang nhìn về phía làng -> chứng kiến được cảnh vợ con bị tra tấn là nhờ ánh lửa xà nu soi sáng- >chứng kiến trong đau đớn.

– Kẻ thù đã quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của T nú -> mười ngón tay của anh biến thành mười ngọn đuốc -> xà nu đã trở thành vật dụng bị kẻ thù lợi dụng -> hủy hoại người dân Xô Man.

– Thể hiện sự thay đổi của dân làng Xô Man: từ không dám cầm vũ khí -> dám cầm vũ khí đứng lên chống lại quân giặc.

– Ngay sau chiến công ấy, đêm đó lửa cháy khắp rừng, theo mệnh lệnh của cụ Mết -> đốt lửa lên -> dân làng chuẩn bị giáo mác đốt lửa lên -> cả rừng Xô Man ào ào rung động -> tất cả người dân làng đều chuẩn bị cho mình một loại vũ khí để chuẩn bị tiếp đón những cuộc tấn công tiếp theo.

– Đêm Tnú về thăm làng: đuốc xà nu dẫn người dân làng Xô Man trên khắp nẻo đường dồn về tâp trung tại nhà Ưng, họ cầm ngọn lửa của mình để ném vào đống lửa giữa nhà – > quây quần quanh đống lửa lớn để nghe cụ Mết kể về cuộc đời của anh Tnú.

* Hình ảnh xà nu thấm vào nếp cảm, nếp nghĩ, lối tư duy và lối nói của người dân Tây Nguyên:

– Cụ Mết: nggực cụ căng như một cây xà nu lớn, bàn tay của cụ sần sùi như vỏ cây xà nu, giọng nói ô ồ như tiếng rộn vang của núi rừng.

– Tnú : vết thương của Tnú giống như nhựa xà nu; ngược lại vết thương của cây xà nu lại được so sánh với vết thương trên thân thể cường tráng của con người.

– Sự nổi dậy của dân làng Xô Man: như là sự nổi giận của cả cánh rừng xà nu. =>Tác giả dùng thủ pháp ứng chiếu trong miêu tả tạo nên sự tương ứng, hòa nhập giữa con người và thiên nhiên.

c Hình ảnh xà nu biểu tượng cho số phận và phẩm chất con người Tây Nguyên:

* Biểu tượng cho số phận con người Tây Nguyên:

– Cả cánh rừng mang đầy thương tích.

+ Làng trong tầm đại bác của đồn giặc, ngày chúng bắn 2 lần đại bác. Cánh rừng xà nu phải ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng. Cả cánh rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương.

+ Có những cây chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão, ở chỗ vết thương nhựa ứa ra… bầm lại đen , quện thành cục máu lớn.

+ Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra độ năm, mười hôm thì cây chết. +”Trận đại bác đêm qua đã đánh ngã bốn, năm cây xà nu to, nhựa ứa ra ở những vết thương đang đọng lại lóng lánh nắng hè”.

– Đau thương, mất mát của người dân Xô Man: Rất nhiều người dân Xô Man đã ngã xuống khi họ nuôi dấu cán bộ cách mạng, họ bị giết để làm gương. Tnú phải chứng kiến vợ con anh bị đánh cho đến chết mà không làm gì được.

* Biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp:

– Khao khát ánh sáng : Sức vươn mạnh mẽ của loài cây này tượng trưng cho tình yêu tự do và sức sống mạnh mẽ tiềm tàng của con người Tây Nguyên.

– Khả năng sinh sôi mãnh liệt của xà nu tượng trưng cho sự nối tiếp tinh thần yêu nước, quả cảm của những người Tây Nguyên trong chiến tranh . Sức sống bất diệt của xà nu cũng là sức sống bền bỉ, mãnh liệt của người Tây Nguyên.

3 Đánh giá:

– Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng: Sử dụng cái nhìn của điện ảnh khiến hình tượng hiện lên sinh động và rõ nét hơn; Cảm xúc bộc lộ trực tiếp.

– Nội dung tư tưởng: Hình ảnh xà nu là biểu tượng cho vẻ đẹp con người Tây Nguyên trong những năm tháng chiến tranh. Chính xà nu đã mở cánh cửa đưa người đọc bước vào thế giới của con người Tây Nguyên.

  1. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH ĐÔNG DU ĐẮC LẮC LẦN 2

Câu 2 (4,0 điểm)

Phân tích, so sánh tính cách nhân vật Chiến và Việt (Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi) để làm rõ sự tiếp nối truyền thống gia đình của những đứa con.

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước, gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ.

– “Những đứa con trong gia đình” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, viết về một gia đình nông dân Nam Bộ giàu truyền thống yêu nước, căm thù giặc, gắn bó với đất nước và cách mạng.

– Truyện đã khắc họa thành công nhân vật Việt và Chiến

– những đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ.

2 Phân tích, so sánh các nhân vật: a Điểm giống nhau của Việt và Chiến:

– Hai chị em đều được sinh ra trong một gia đình cách mạng có thù sâu với thực dân, đế quốc

– Cả hai đều là những chiến sĩ, gan góc, dũng cảm: Hai chị em sinh ra dường như là để đánh giặc. Vì vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi nghe Chiến nói với Việt trong đêm trước lúc ra trận: “đã làm thân con gái ra đi, tao chỉ có một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”. Câu nói mộc mạc, nhưng thiêng liệng như một lời thề. Việt cũng không chịu kém chị. Dù chưa đủ tuổi nhưng vẫn xung phong đi bộ đội và tiêu diệt được một xe bọc thép. Ba ngày lạc đơn vị, mình đầy thương tích, hai mắt không nhìn được gì, nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, nhưng Việt vẫn cố gắng nghe tiếng súng để bò đi tìm đồng đội, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu với “viên đạn đã lên nòng”.

– Tình yêu thương gia đình và nghĩa tình với làng xóm cũng là điểm nổi bật ở hai chị em:

+ Với gia đình: hai chị em đều rất thương chú Năm; Cả hai đều rất thương má, vì đời má phải chịu nhiều mất mát, đau thương, nhưng vẫn nuôi con và đánh giặc.

+ Với hàng xóm: hai chị em ăn ở có trước, có sau, nặng tình, nặng nghĩa. Trước ngày nhập ngũ họ đã giao căn nhà cho xã mở trường học; giường ván đề nhường chỗ cho trẻ con ngồi học bài; mấy công ruộng giao lại để bà con mần….”

+ Với mối thù thằng Mĩ: thì Việt như rờ thấy, trĩu nặng trên vai -> yêu thương và căm thù đã trở thành động lực, thành sức mạnh để hai chị em “trả thù nhà, đền nợ nước”.

b Mỗi nhân vật đều có những nét riêng hết sức độc đáo:

– Nhân vật Việt: Việt là một thanh niên đáng yêu, vô tư, thơ ngây. Việt có dáng vẻ vụng về. lộc ngộc của một cậu bé mới lớn, thích bắt ếch, bắt cá, bắn chim… Trước ngày lên đường chiến đấu. Chiến bàn việc gia đình, Việt không mấy quan tâm mà chỉ mải chụp đom đóm, rồi ngủ lúc nào không hay. Vào bộ đội. Việt còn mang theo cây súng cao su, ra trận không sợ chết nhưng lại sợ ma; gặp lại đồng đội mừng quá, khóc òa…

– Nhân vật Chiến:

+ Chiến mang vóc dáng của má, của con người lao động: “hai bắp tay tròn vo rám nắng…thân người to và chắc nịch…”

+ Chiến đặc biệt giống má khi thu xếp việc nhà trước khi cùng em trai lên đường tòng quân: biết lo liệu, thu xếp việc nhà đâu ra đấy…

+ Chiến biết nhường nhịn em nhưng cũng rất kiên quyết khi ghi tên tòng quân…

+ Là một cô gái đầy nữ tính: lúc nào cũng mang theo bên mình cây lược.

3 Đánh giá:

– Với nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn, mang đậm sắc thái Nam bộ; với tài năng khắc họa tính cách nhân vật độc đáo, Nguyễn Thi đã giúp người đọc hiểu được vẻ đẹp vừa rất chung, vừa rất cá tính ở hai nhân vật Việt và Chiến. Họ là hình ảnh điển hình cho những thanh niên Nam bộ trong buổi đầu kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

– Qua đó, chúng ta thấy được sự tiếp nối truyền thống gia đình của những đứa con. Chính Việt, Chiến đã viết thêm những trang vàng trong cuốn sổ thiêng liêng của gia đình, đã khiến dòng sông truyền thống của gia đình chảy mãi, chảy dài với muôn đời.

  1. SÓNG XUÂN QUỲNH -ĐỒNG QUÁN HÀ NỘI LẦN 1

Câu 2 (4,0 điểm)

Về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, Giáo sư Hà Minh Đức đã nhận xét: “Bài thơ vừa thể hiện một tình yêu có tính chất truyền thống lại vừa thể hiện một tình yêu mang tính chất hiện đại”

Anh / chị hãy phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm rõ ý kiến trên.

2 “Bài thơ vừa thể hiện một tình yêu có tính chất truyền thống lại vừa thể hiện một tình yêu mang tính chất hiện đại”.

1 Giới thiệu chung:

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), lúc đó XQ mới 25 tuổi trẻ trung, yêu đời. Đây là một bài thơ đặc sắc viết rất hay về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

– Trích dẫn ý kiến.

2 Cụ thể:

2.1 Giải thích ý kiến:

– Ý kiến thứ nhất: “bài thơ thể hiện một tình yêu có tính chất truyền thống”

 Tính chất truyền thống là quan niệm có từ xa xưa, được bảo tồn trong đời sống hiện đại. Trong tình yêu, nó được thể hiện ở những nét đẹp truyền thống: đằm thắm, dịu dàng, thủy chung,…

– Ý kiến thứ hai: “ Bài thơ thể hiện quan niệm rất mới mẻ và hiện đại của Xuân Quỳnh về tình yêu”

 Tính hiện đại chỉ quan niệm mới mẻ, không bị ràng buộc bới ý thức hệ tư tưởng phong kiến. Về tình yêu, sự mới mẻ, hiện đại thể hiện ở sự chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt, khát vọng mạnh mẽ táo bạo về những rung động rạo rực cảm xúc trong lòng, tin vào sức mạnh của tình yêu.

=> Khẳng định: hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau làm nên vẻ đẹp cảu bài thơ: bài thơ thể hiện quan niệm của Xuân Quỳnh về tình yêu rất mực mới mẻ, hiện đại lại mang vẻ đẹp truyền thống.

2.2 Cảm nhận về bài thơ:

a, Bài thơ thể hiện một tình yêu mang tính truyền thống:

– Nỗi nhớ thương trong tình yêu được thể hiện qua hình tượng sóng và em “Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Nỗi nhớ thường trực, da diết, mãnh liệt suốt đêm ngày.

– Tình yêu gắn liền với sự chung thủy: Với em không chỉ có phương Bắc, phương Nam mà còn có cả “phương anh”. Đó là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư.

– Tình yêu gắn với khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc: Cũng như sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, người phụ nữ trên hành trình đi tìm hạnh phúc cho dù lắm chông gai nhưng vẫn tin tưởng sẽ cập bến.

b, Bài thơ thể hiện một tình yêu mang tính chất hiện đại:

– Đó là một tình yêu với nhiều cung bậc phong phú, đa dạng: dữ dội, ồn ào, dịu êm, lặng lẽ

– Đó là sự mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và rung động rạo rực trong lòng mình “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”. So sánh: không còn sự thụ động, chờ đợi tình yêu mà chủ động, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt.

– Người con gái dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời.

c, Nghệ thuật:

– Thể thơ năm chữ, nhịp điệu thơ đa dạng, linh hoạt tạo nên âm hưởng của những con sóng: lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm rất phù hợp với việc gởi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái tình cảm phức tạp của tâm hồn.

– Cấu trúc bài thơ được xác lập theo kiểu đan xen giữa hình tượng sóng – bờ, anh-em cũng góp phần làm nên nét đặc sắc cho bài thơ.

3 Đánh giá:.

– Hai ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu, thể hiện rõ những quan niệm mang tính mới mẻ, hiện đại, thậm chí táo bạo, chân thực, mãnh liệt, nồng nàn, đắm say của Xuân Quỳnh về tình yêu. Nhưng mặt khác. Quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh có cốt rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc vì thế thơ Xuân quỳnh nói chung và bài thơ “Sóng” nói riêng tạo sự đồng điệu trong nhiều thế hệ độc giả.

– Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm. “Sóng” xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ tình hiện đại Việt Nam nói chung.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN ĐỒNG QUÁN HÀ NỘI LẦN 2

Câu 2 (4,0 đ)

Nói về việc sáng tác truyện ngắn vợ nhặt, nhà văn Kim Lân tâm sự: “Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Đói. Nó vừa cay đắng vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó lại lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự. Truyện ngắn “Vợ nhặt”, khai thác các khía cạnh sau cùng của các bi kịch đó.”

Bằng những hiểu biết về truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, hãy giải thích và làm sáng tỏ ý kiến trên.

2 “Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Đói. Nó vừa cay đắng vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó lại lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự. Truyện ngắn “Vợ nhặt” khai thác các khía cạnh sau cùng của các bi kịch đó.”

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Đây là truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo.

– Nói về việc sáng tác truyện ngắn vợ nhặt, nhà văn Kim Lân tâm sự: “Cái dói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Đói. Nó vừa cay đắng vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó lại lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự. Truyện ngắn vợ nhặt, khai thác các khía cạnh sau cùng của các bi kịch đó.”

2.2 Giải thích ý kiến:

Cái đói hành hạ tất cả mọi người, nó vừa cay đắng vừa đớn đau: cho biết mảng hiện thực mà nhà văn phản ánh là xã hội Việt Nam trong nạn đói năm Ất Dậu 1945.

Sức sống đơn sơ của tâm hồn, lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự: vẻ đẹp tâm hồn của con người trong nạn đói. Giữa cái chết cận kề, họ vẫn sống đầy yêu thương, trách nhiệm, nghĩa tình.

=> Đói được đẩy đến tận cùng, tình yêu thương cũng đặt trong những thử thách lớn lao, nhưng cuối cùng làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp của con người. Qua ý kiến, ta thấy giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

2.3 Chứng minh ý kiến:

a/ Cái đói hành hạ tất cả mọi người, nó vừa cay đắng vừa đớn đau:

– Cái đói hiện hình ở khắp mọi nơi, người ta cảm nhận được nó bằng hình ảnh, âm thanh, mùi vị:

+ Hình ảnh: bóng người xanh xám như bóng ma, lũ trẻ ngồi ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích.

+ Âm thanh: tiếng quạ kêu cứ gào lên từng hồi thê thiết, càng khiến bức tranh ngày đói trở nên ảm đạm.

+ Bao trùm lên tất cả là mùi thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

=> Tất cả gợi lên bầu không khí chết choc của cõi âm, cõi địa ngục.

– Cái đói lan tràn đến từng gia đình, đe dọa từng sinh mạng khiến miếng ăn trở thành vấn đề cấp thiết. Cái đói làm cho giá trị con người trở nên rẻ rúng đến thảm hại. Nó biến người phụ nữ trở nên trơ trẽn và liều lĩnh dám theo không người đàn ông lạ. Tràng “nhặt” được vợ như nhặt bất cứ cái rơm cọng rác nào ngoài đường chỉ bằng một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc.

– Cái đói trong gia đình Tràng: không có nổi mâm cơm cúng tổ tiên, mời hàng xóm; đêm tân hôn diễn ra trong tiếng khóc tỉ tê nhà hàng xóm; bữa ăn đón dâu mới chỉ có một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo cám.

=> Nhà văn Kim Lân đã phản ánh chân thực tình trạng khốn cùng của người nông dân trong nạn đói năm 1945; qua đó, tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật đẩy nhân dân ta vào tình cảnh khốn cùng.

b/ Bi kịch không lấn át được sức sống đơn sơ, làm lóe lên những tia sáng vè đạo đức, danh dự:

* Nhân vật Tràng:

– Là dân nghèo, xóm ngụ cư, đói và xấu khiến anh không lấy được vợ. Thế mà bỗng chốc lại có người theo không về. Lúc đầu cũng “chợn” nghĩ nhưng sau thì “chậc, kệ!”, đó chính là khát vọng hạnh phúc vẫn âm ỉ trong con người bất hạnh này.

– Mua cho vợ cái thúng con, hai hào dầu để thắp sáng => thể hiện sự trân trọng, đồng cảm với người vợ mới.

– Gặp mẹ, niềm hạnh phúc dâng trào, giới thiệu với mẹ về con dâu, niềm khao khát hạnh phúc biến anh chàng vụng về có những cảm xúc hết sức tinh tế.

– Sáng hôm sau, anh thấy êm ái, lửng lơ như đi từ giấc mơ đi ra, những cảnh vật ngày nào cũng thấy bỗng trở nên thân thiết lạ và thấm thía cảm động. Anh cũng có thêm ý thức trách nhiệm lo cho gia đình.

– Trong bữa cơm ngày đói, giữa miếng cháo cám đắng chát nghẹn bứ ở cổ, Tràng nghĩ đến hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc trên đê Sộp.

=> Dù bị đẩy đến hoàn cảnh tận cùng, Tràng vẫn khao khát hướng tới tương lai, khao khát hạnh phúc.

* Nhân vật bà cụ Tứ:

– Ngỡ ngàng khi có nàng dâu mới, song ngay lập tức, bà hiểu ra cơ sự và chấp nhận, mừng cho mối duyên của các con mình: “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”, “chúng mày đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”.

– An ủi, động viên các con, vun vén cho đôi trẻ, hướng các con vào tương lai tươi sáng: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời, ” này Tràng ạ…. chả mấy chốc mà có cả đàn gà cho mà xem”.

– Buổi sáng hôm sau, ba dậy sớm, cùng con dâu dọn dẹp cửa nhà cho sạch sẽ, khang trang; cùng các con quây quần bên bữa sáng nghèo nàn, ảm đạm, háo hức khoe nồi “chè khoán” mặn chát…

=> Đó là một người mẹ thấu hiểu lẽ đời, giàu tình yêu thương, lòng bao dung và lạc quan trong cuộc sống.

– Nhân vật Thị – người vợ nhặt:

+ Thị là nạn nhân của cái đói. Cái đói làm thị xấu đi cả về nhân hình và nhân tính (dẫn chứng: khi gặp Tràng, ăn bánh đúc), chấp nhận liều lĩnh về làm vợ một người còn chưa biết gì về anh ta -> Hành động chạy trốn cái đói, đồng thời đi tìm sự sống, đi tìm hạnh phúc cho mình.

+ Khi đứng trước ngôi nhà rúm ró của mẹ con Tràng, thị “nén tiếng thở dài” chấp nhận hiện thực, nương nhờ vào nhau để tìm kiếm hạnh phúc. Lúc này, thị lại trở nên hiền lành, e thẹn, nữ tính.

+ Ngày hôm sau, thị dậy sớm dọn dẹp cửa nhà, kể chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho người nghèo,… ->khao khát hạnh phúc kín đáo.

=> Tóm lại, Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt là những con người dù bị đẩy xuống đáy cùng của cuộc sống thì vẫn giữ được những phẩm chất rất “người”, vẫn khao khát hạnh phúc, biết yêu thương, sẻ chia và không ngừng hi vọng vào ngày mai tươi sáng.

c/ Nghệ thuật truyện:

– Xây dựng tình huống éo le, bất ngờ, cảm động.

– Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.

– Ngôn ngữ giản dị.

2.4 Tổng kết:

– Khẳng định giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm: giữa cái đói, con người ta vẫn giữ gìn những phẩm chất tốt đẹp và không ngừng hướng về sự sống.

– Khẳng định tấm lòng nhân hậu và tài năng nghệ thuật của nhà văn.

  1. ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM ĐÔNG THỤY ANH THÁI BÌNH LẦN 2

Câu 2: (4đ)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài Đất Nước để thấy được những khám phá mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về phương diện địa lí và lịch sử của Đất Nước.

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên

Con cóc con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…

( Trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm )

2 Những khám phá mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về phương diện địa lí và lịch sử của Đất Nước.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị- Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miền Nam vùng tạm chiếm về vận mệnh non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc.

– Đoạn trích trên thuộc chương V – “Đất nước”, thể hiện cái nhìn mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước ở phương diện về địa lí, lịch sử.

2.2 Phân tích,chứng minh:

* Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những địa danh, thắng cảnh:

– Đoạn thơ có sự xuất hiện với mật độ dày đặc của những địa danh quen thuộc: Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên,…làm nên bức tranh sống động về thiên nhiên quê hương đất nước. Đồng thời, nó còn gợi liên tưởng sâu xa về vẻ đẹp tâm hồn con người VN ẩn chứa trong dáng hình sông núi.

– Đoạn thơ mang một kết cấu lạ. Độ dài ngắn của những câu thơ khác nhau nhưng đều mang một cấu trúc: chia thành hai nửa liên kết với nhau bằng những động từ: góp, góp cho, góp nên, góp tên, góp mình

-> Đằng sau những danh lam thắng cảnh nổi tiếng là những cuộc đời đã đóng góp âm thầm và lặng lẽ. Không gian đất nước do con người điểm tô, xây dựng. Tất cả đều là sự hiển hiện của tâm hồn, của những ước mơ , lối sống ông cha.

* Đất Nước được cảm nhận ở phương diện lịch sử:

– Tác giả nhắc nhớ về nguồn cội “đất Tổ Hùng Vương“, về quá khứ hào hùng chống giặc ngoại xâm để bảo vệ lãnh thổ qua “gót ngựa của Thánh Gióng“, về những con người có công lớn trong lịch sử dựng xây đất nước “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”. Phép liệt kê được sử dụng hiệu quả, tạo nên giọng thơ nhịp nhàng và thấm đẫm tự hào.

– Hai câu cuối là đúc kết đầy tự hào: “Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…” Đó là “những cuộc đời” “giản dị, bình tâm” nhưng rất đỗi anh hùng, đã không tiếc máu xương của mình để giữ gìn, xây dựng, bảo vệ đất nước.

* Nghệ thuật :

– Phép liệt kê và điệp từ “những” được sử dụng hiệu quả trong đoạn thơ tạo tính cụ thể, bên cạnh đó, kết cấu quy nạp khiến đoạn thơ có tính khái quát cao.

– Đoạn thơ thấm đẫm chất dân gian bởi vận dụng nhiều câu chuyện truyền thuyết, thể hiện sự am hiểu phong phú, sâu sắc về lịch sử, văn hóa dân tộc.

– Câu thơ dài ngắn linh hoạt, nhịp nhàng, giọng thơ tha thiết, tự hào.

2.3 Tổng kết:

– Đoạn thơ là khám phá mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về phương diện lịch sử, địa lí của đất nước, làm nổi bật tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”.

– Nêu trách nhiệm của tuổi trẻ hôm nay trong việc bảo vệ và phát triển đất nước.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN ĐÔNG THỤY ANH THÁI BÌNH

Câu 2 (4 điểm)

Cảm nhận của anh/ chị về khát vọng sống của người phụ nữ qua nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” và người vợ nhặt trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Cảm nhận của anh/ chị về khát vọng sống của người phụ nữ qua nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” và người vợ nhặt trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân.

1 Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”.

– Thông qua hai tác phẩm, Tô Hoài và Kim Lân đã thể hiện những nét đặc sắc trong việc khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ.

2 Phân tích:

2.1 Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”:

a/ Thân phận của Mị:

– Mị là một cô gái người dân tộc Mèo (H‟Mông) đã kết tinh được những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ miền núi. Nhưng dưới mấy tầng áp bức khắc nghiệt tàn bạo của cường quyền, thần quyền, hủ tục phong kiến, Mị gần như tê liệt hết sức sống.

b/ Khát vọng sống của Mị:

Tô Hoài đã khám phá ra lòng ham sống, khát khao tình yêu, hạnh phúc, tự do tiềm ẩn mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Chính sức sống này là tiền đề quan trọng giúp Mị thoát khỏi nhà ngục thống lí tìm đến Phiềng Sa được cán bộ A Châu dìu dắt để trở thành người tự do, người làm chủ cuộc đời mình, chiến đấu, giải phóng quê hương mình như một tất yếu.

* Sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng của Mị trong đêm tình mùa xuân:

– Các yếu tố làm thức tỉnh ý thức và lòng ham sống ở Mị: khung cảnh ngày xuân ở Hồng Ngài, tiếng sáo gọi bạn yêu và hơi rượu nồng ngày Tết.

– Sự trỗi dậy của sức sống vốn tiềm tàng trong Mị:

+ Mị thấy phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước…

+ Mị nghĩ lại sự tù túng của mình, nghĩ đến cái chết lần thứ 2

-> Muốn giải thoát, kết thúc cuộc đời bi kịch, địa ngục trần gian.

+ Mị thức dậy ý thức và khát vọng: thấy mình còn trẻ, muốn đi chơi, thắp sáng căn phòng lên – thắp sáng khát vọng đời mình, sửa soạn đi chơi

-> sự trở về của nữ tính… Mị thôi làm “con rùa…”, muốn làm con chim tung cánh trên bầu trời tự do.

+ Khát vọng bị A Sử chặn đứng, sức sống mùa xuân trong lòng Mị vẫn không hề bị trói buộc, dập tắt. Hồn Mị vẫn bay theo tiếng sáo đến với những cuộc chơi xuân.

=> Sức sống trong Mị chưa phải đã tắt hẳn, nó như đống tro tàn nhưng vẫn còn hơi ấm, chỉ cần ngọn gió thổi qua, sẽ bùng cháy lên mãnh liệt.

* Sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của Mị trong đêm đông cắt dây trói cho A Phủ:

– Nguyên nhân: Mị trông thấy dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Nó khiến Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Mị nhớ lại kí ức đau khổ – lần mình bị trói đứng, thật đau khổ! Từ thương mình mà đồng cảm, thương cho người.

– Sự thức tỉnh ý thức:

+ Nhận ra dấu hiệu về cái chết, phán đoán “chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” -> càng thương hơn và so sánh“người kia việc gì mà phải chết thế”

+ Lần đầu tiên Mị nhìn rõ kẻ thù của mình cũng như những kiếp người đau khổ như mình: “Chúng nó thật độc ác”

+ Nghĩ đến tình huống cha con Pá Tra bảo là Mị cởi trói cho A Phủ, bắt Mị đứng trói thay đến chết trên cái cọc ấy nhưng Mị cũng không sợ -> tình thương vượt lên sự sợ hãi, lấn át cả nỗi thương thân.

– Cắt dây trói cho A Phủ -> hành động tự phát, xuất phát từ tình thương nhưng cũng chính là Mị đang cắt dây trói cho chính mình, chiến thắng cường quyền, thần quyền.

– Sau đó, Mị “hốt hoảng”, “vụt chạy” đuổi theo A Phủ, nói “A Phủ cho tôi đi!… Ở đây thì chết mất!” -> bắt đầu hành trình từ “thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui” ở mảnh đất Phiềng Sa.

=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh, là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu.

* Qua việc xây dựng tình huống đặc sắc và miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Mị, Tô Hoài đã đặt vấn đề khát vọng tự do, hạnh phúc chân chính của người phụ nữ miền núi và con đường giải phóng họ phải đi từ tự phát đến tự giác, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2.2 Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”:

a/ Người vợ nhặt hiện lên như một nạn nhân tiêu biểu của nạn đói khủng khiếp năm 1945.

– Nhân vật không có tên riêng, không có lai lịch… chỉ là một thân phận bọt bèo trôi dạt giữa dòng đời.

– Cái đói đã hủy hoại cả vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nữ tính của một người phụ nữ, khiến thị trở nên liều lĩnh, trơ trẽn đến mức sẵn sàng theo không người ta về.

b/ Song đằng sau hành động liều lĩnh đó là một khát vọng sống mãnh liệt:

– Người vợ nhặt theo Tràng về nhà không chỉ vì cái đói dồn đuổi mà còn xuất phát từ ước mơ được sống trong một gia đình ấm cúng, từ sự cảm động trước một tấm lòng hào hiệp hiếm có trong nạn đói. Vì vậy trên đường về nhà cùng Tràng thị tỏ ra e thẹn, ngượng ngập và ý tứ hơn. Khi nhìn thấy ngôi nhà lụp xụp rách nát, người phụ nữ ấy vẫn ở lại để cùng chia sẻ cuộc đời đói khổ với Tràng chứ không bỏ đi.

– Hôm sau, thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu.: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”.

– Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.

– Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm”.

* Đặt thị vào một tình huống đặc biệt éo le, đi sâu khai thác tâm lí nhân vật cùng với khắc họa nhân vật bằng lời nói, cử chỉ, hành động, nhà văn Kim Lân đã cho ta thấy lòng ham sống, khát vọng sống và ý thức vươn lên giành lấy sự sống vô cùng mãnh liệt của thị.

2.3 Điểm tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm:

– Sự tương đồng:

+ Cùng thể hiện vẻ đẹp tâm hồn con người. Những nhân vật phụ nữ của Tô Hoài, Kim Lân được các nhà văn quan sát, miêu tả trong xu thế hiện thực, vận động đi lên nên số phận các nhân vật này đã đi từ bóng tối đến ánh sáng, “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”.

+ Cả 2 tác giả đều có tài năng xây dựng tình huống và miêu tả tâm lí nhân vật.

– Sự khác biệt:

Do cái nhìn khám phá riêng biệt độc đáo của từng tác giả trước hiện thực cuộc sống nên mỗi nhân vật cũng có những biểu hiện khác nhau về số phận và vẻ đẹp tâm hồn thật đa dạng, phong phú và hấp dẫn. Mị là nạn nhân của chế độ phong kiến miền núi hà khắc mà cụ thể là cường quyền và thần quyền; vợ Tràng bị cái đói, cái chết đe doạ cướp đi sự sống. Nhưng họ không mất đi hy vọng vào tương lai và luôn luôn tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt.

2.4 Đánh giá :

Tô Hoài và Kim Lân xứng đáng là những cây bút tài hoa của nền văn học Việt Nam, đặc biệt trong việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và khám phá những vẻ đẹp trong tâm hồn họ. Ở hai cây bút ấy cũng luôn dạt dào tấm lòng nhân ái, yêu thương, trân trọng con người.

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀISỞ GD & ĐT HƯNG YÊN LẦN II

Câu 2. (4,0 điểm):

Bàn về kết thúc đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (SGK Ngữ văn 12, tập 2) có ý kiến cho rằng: Hành động cắt dây trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột không thể sự đoán trước nhưng là kết thúc tự nhiên, tất yếu.

Bằng hiểu biết về tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

Hành động cắt dây trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột không thể sự đoán trước nhưng là kết thúc tự nhiên, tất yếu.

1 Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

“Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung, in trong tập truyện Tây Bắc là kết quả của chuyến đi Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc 1952. Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sống mãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến.

– Bàn về kết hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị có ý kiến cho rằng đó là hành động thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán; lại có người khẳng định đó là một kết thúc tự nhiên, tất yếu.

2 Phân tích, chứng minh: a Giải thích ý kiến:

– Ý kiến thứ nhất: đánh giá kết thúc của truyện là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với logic diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

b Phân tích, chứng minh:

* Ý kiến thứ nhất:

– Trong tác phẩm, Mị và A Phủ cùng là nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra, song họ không có quan hệ tình cảm gì cụ thể, thậm chí là Mị đã gần như tê liệt hoàn toàn về ý thức, sống “lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.

– Ngay cả khi A Phủ bị trói mấy ngày, Mị vẫn thản nhiên ngồi thổi lửa, hơ tay, không mảy may bận tâm.

– Không ai có thể ngờ rằng người con dâu bất hạnh và câm lặng ấy lại đột ngột cắt nút dây mây cởi trói cho A Phủ rồi chạy trốn theo anh. Đây là hành động hoàn toàn không hề có sự chuẩn bị, tính toán từ trước.

* Ý kiến thứ hai:

– Đặt trong sự phát triển tính cách của hình tượng Mị thì đây lại là một hành động tự nhiên, tất yếu. Bởi lẽ Mị là một cô gái ham sống, yêu đời, yêu tự do, khát hạnh phúc. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt ở Mị dù có bị vùi dập đến kiệt cùng vẫn không lụi tắt. Đêm tình mùa xuân là minh chứng rõ nét cho sức sống ấy [nhận ra mình còn trẻ, muốn đi chơi,…].

– Mặt khác, Mị vốn là cô gái giàu tình thương, vị tha, biết nghĩ, biết hi sinh cho người khác. Hành động của Mị là kết quả tất yếu của sự bóc lột, đàn áp tàn nhẫn của cha con thống lí nói riêng, tầng lớp phong kiến miền núi cao Tây Bắc nói chung đối với những người lao động nghèo.

– Hành động ấy chứng tỏ sức phản kháng mãnh liệt, khả năng hướng về cách mạng một cách tự nhiên của người dân Tây Bắc.

3 Bình luận, đánh giá chung:

– Cả 2 ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

  1. TỐ HỮU HÀ HUY TẬP

Câu 2 (4,0 điểm)

“Sức thu hút của thơ Tố Hữu với những thế hệ người đọc mấy chục năm qua chủ yếu là ở (…) tính dân tộc đậm đà”. (Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập 2, NXB Giáo dục, 2008, tr 100)

Cảm nhận của anh/chị về tính dân tộc trong đoạn trích Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu (Ngữ văn 12, Tập một). Từ đó, anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ?

“Sức thu hút của thơ Tố Hữu với những thế hệ người đọc mấy chục năm qua chủ yếu là ở (…) tính dân tộc đậm đà”.

1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, là lá cờ đầu của nền thơ ca Cách mạng Việt Nam..

– Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Tác phẩm vừa là bản tình ca về tình cảm cách mạng – giữa đoàn cán bộ miền xuôi với nhân dân Việt Bắc, vừa là bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà vẻ vang của dân tộc. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện rõ nét phong cách thơ Tố Hữu: tính dân tộc đậm đà.

– Đoạn thơ trên mang đậm tính dân tộc, biểu hiện cả ở nội dung và hình thức nghệ thuật thơ.

2 Tính dân tộc trong tác phẩm văn học:

– Tính dân tộc là một trong những phẩm chất tư tưởng – thẩm mĩ độc đáo của tác phẩm văn học thể hiện sự gắn bó giữa tác phẩm văn học với bản sắc thái văn hóa, giá trị tinh thần dân tộc. Mỗi dân tộc trên thế giới đều có cuộc sống, cách cảm thụ cuộc sống và hệ giá trị riêng do truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, tâm lý và ngôn ngữ tạo thành. Sự biểu hiện tập trung các phương diện ấy vào nội dung, hình thức của tác phẩm làm nên tính dân tộc của văn học.

– Nhìn chung, tính dân tộc của tác phẩm văn học thường thể hiện trên hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật, bởi nội dung mang tính dân tộc thể hiện ở cảnh sắc thái thiên nhiên, nhịp điệu đời sống và tính cách dân tộc phải được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật phù hợp là các thể loại và phương tiện ngôn ngữ mà dân tộc ấy ưu chuộng.

3 Tính dân tộc trong đoạn trích “Việt Bắc”: a Nội dung:

– Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc về thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm thiết tha, gắn bó sâu sắc của tác giả.

+ Bức tranh tứ bình đẹp đẽ về thiên nhiên 4 mùa và con người Việt Bắc.

+ Bức tranh đời sống sinh hoạt ở Việt Bắc: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng…đều đều suối xa”.

– Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu đậm của thời đại mới. Những tình cảm ấy tiếp nối mạch nguồn yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống dân tộc ta.

+ Tâm trạng lưu luyến, bịn rịn lúc chia tay thể hiện qua hàng loạt câu hỏi tu từ “Mình về có nhớ…” và điệp từ “nhớ“.

+ Nghĩa tình cách mạng thể hiện qua sự chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau vượt qua những ngày gian khó “Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.

+ Sự đồng lòng quyết tâm đánh giặc, tạo nên hình tượng đất nước đứng lên.

b Nghệ thuật:

– Thể thơ lục bát được tác giả sử dụng nhuần nhuyễn với những câu thơ lúc hùng tráng, lúc tha thiết, sâu lắng, nhẹ nhàng.

– Kết cấu và ngôn ngữ: Cặp đại từ nhân xưng “ta”- “mình” và cấu trúc lời hỏi, lời đối đáp được sử dụng xuyên suốt trong toàn bài thơ gần với hình thức đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao- dân ca.

– Hình ảnh: Nhiều hình ảnh mang đậm tính dân tộc (núi, nguồn…), hình ảnh mang tính giai cấp được sử dụng một cách tự nhiên và sáng tạo.

– Nhạc điệu: Nhiều từ ngữ được lặp lại nhiều lần (nhớ, ta, mình…) tạo âm điệu nhịp nhàng, tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng không đơn điệu (lúc hùng tráng, lúc trang nghiêm).

– Chất liệu văn học và văn hóa dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình.

c Đánh giá:

– Tính dân tộc làm cho “Việt Bắc” mang vẻ đẹp nhuần nhị của thơ ca truyền thống, vì vậy có sức hấp dẫn, thu hút đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt, đặc biệt trong kháng chiến.

– Tính dân tộc là một nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

4 Suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc:

– Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm của tất cả chúng ta, nhất là những người trẻ tuổi.

– Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp và trong thời kì hội nhập quốc tế, chúng ta hòa nhập chứ không hòa tan.

– Lên án những hành vi, những biểu hiện của sự lai căng nhố nhăng, làm mất đi bản sắc riêng của văn hóa dân tộc.

  1. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÕNG SÔNG HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG HÀ NỘI LẦN 2

Câu 4: (4 điểm)

Trong tác phẩm kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường có đoạn viết:

… Từ đấy, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trăng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một nhánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp của Bu đa- pét, sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố phường với những cây đa, cây dừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh.

Tôi đã đến Lê – nin- grát, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tich. Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Lê – nin- grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại; ôi tôi muốn hóa làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thủy tinh để đi ra biển. Tôi cuống quýt vẫy tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clit, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi; chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng…

Hãy phân tích để thấy được tác giả không chỉ miêu tả vẻ đẹp của sông Hương mà còn gửi gắm trong đó tình yêu tha thiết đối với quê hương xứ sở.

Vẻ đẹp của sông Hương và tình yêu quê hương xứ sở của Hoàng Phủ Ngọc

Tường qua đoạn trích trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

1 Giới thiệu chung:

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, cũng là một trí thức giàu lòng yêu nước. Ông có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí xuất sắc, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, viết tại Huế ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng tên.

– Đoạn trích trên không chỉ miêu tả nổi bật vẻ đẹp của sông Hương trong lòng Huế, sau một thủy trình dài từ rừng già và ngoại vi thành phố mà còn gửi gắm trong đó tình yêu tha  thiết với quê hương xứ sở của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

2 Phân tích:

a Vẻ đẹp của sông Hương trong lòng thành phố Huế:

* Nếu ở giữa rừng già, sông Hương mhư “cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại”; ra khỏi rừng nó trở thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”; trong không gian châu thổ vùng Châu Hoá, sông Hương mang vẻ đẹp của “người gái đẹp” bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài thì khi bắt đầu đi vào thành phố, Sông Hương được so sánh với người tình “vui tươi và duyên dáng”:

– Tâm trạng vui tươi của dòng sông từ khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ đến đây càng rõ hơn khi đã nhận ra những dấu hiệu của thành phố.

– Người gái đẹp sông Hương làm dáng lần cuối cùng trước khi chảy vào giữa lòng thành phố thân yêu, trước khi đến với người tình nhân đích thực: “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến” khiến “dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.

* Trong lòng thành phố, sông Hương được so sánh với “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”:

– Nhà văn đã rất tinh tế khi nhận ra đặc điểm riêng của sông Hương là lưu tốc rất chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”, nhất là khi so sánh với con sông Nê-va băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua để ra bể Ban-tích.

– Đặc điểm ấy được nhà văn lí giải từ nhiều góc nhìn khác nhau:

+ Từ đặc điểm địa lí tự nhiên: “những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước”

+ Từ lí lẽ của trái tim thì “điệu chảy lặng lờ”, ngập ngừng muốn đi muốn ở” của sông Hương là do tình cảm dành riêng cho Huế, do quá yêu thành phố của mình, do muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa thành phố thân thương trước khi phải rời xa.

+ Sông Hương như một người tình dịu dàng, duyên dáng, thủy chung.

b Tình yêu quê hương xứ sở của nhà văn:

– Thể hiện một cách trực tiếp qua cái nhìn đầy âu yếm, nâng niu của nhà văn đối với sông Hương. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không giấu nổi nỗi thương nhớ dòng sông ngay cả khi đứng trước Nê-va cuộn chảy. Ông tha thiết gọi trong nỗi nhớ: “sông Hương của tôi” và “quý điệu chảy lặng lờ của nó” biết bao nhiêu!

– Thể hiện gián tiếp qua sự am hiểu tường tận về dòng sông. Không chỉ tiếp cận nó ở góc độ địa lí mà Hoàng Phủ Ngọc Tường còn cảm nhận nó như một con người mà ở đó, ông đã nhận ra, thấu hiểu những nét tính cách khác nhau và cả sự thay đổi tính cách của sông Hương ở mỗi đoạn thủy trình.

c Những đặc sắc nghệ thuật:

-Tác giả đã sáng tạo nên những trang văn đẹp, giàu hình ảnh, được tạo bởi kho từ vựng phong phú, tinh tế và uyển chuyển, mượt mà.

– Các câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, giọng văn đầy cảm xúc, sử dụng thành công các biện pháp nhân hoá, so sánh, liên tưởng mang đến cho người đọc nhiều bất ngờ, thú vị.

– Kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp kể và tả làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông.

3 Đánh giá:

– Bài bút kí nói chung và đoạn trích nói riêng là kết tinh và tổng hòa đẹp đẽ tình yêu say đắm đối với dòng sông, với quê hương xứ sở và tài năng của một cây bút giàu trí tuệ và xúc cảm.

– Hình tượng sông Hương trong bài bút kí in đậm dấu ấn phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường. Và nó cũng là dòng sông mang đậm tính cách, tâm hồn của con người xứ Huế.

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU HÀM LONG BẮC NINH

Câu 2: (4 điểm)

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau:

“ – Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông hóa nguồn?

– Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

 (Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD 2008, tr 109)

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ:

2.1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Đoạn thơ trên nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, là lời đối đáp của kẻ ở, người đi, bộc lộ tình cảm lưu luyến, bâng khuâng trong giờ phút chia tay. Đoạn thơ mang đậm tính dân tộc.

2.2 Cảm nhận:

a Khổ 1: Lời người ở lại:

– Người ở lại – người tiễn đưa cất tiếng nói trước, bộc lộ tình cảm lưu luyến, không muốn xa rời.

– Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ.

– Cách xưng hô “mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ”.

– Người Việt Bắc hỏi, gợi ra những kỉ niệm:

+ “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, “thiết tha mặn nồng” bởi đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi suốt “15 năm năm ấy”.

+ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”: Tái hiện không gian Việt Bắc – nơi đã nuôi giấu cán bộ miền xuôi thuở kháng chiến gian khó. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng.

b Khổ 2:

– Lời người về xuôi:

– “Tiếng ai” – chỉ tiếng hát của người ở lại.

– Từ láy “tha thiết” là sự luyến láy lại lời ướm hỏi của người Việt Bắc diễn tả sự đồng điệu nhớ nhung, lưu luyến. Các từ láy liên tiếp “Bâng khuâng, bồn chồn” giàu giá trị gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm hụt hẫng, bịn rịn, luyến tiếc, vương vấn, nhớ thương… đan xen cùng một lúc.

– Hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ nghệ thuật đặc sắc. Hai chữ “phân li” đã cổ điển hóa cuộc chia tay này, làm cho thời khắc tháng 10/ 1954 (các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô) vốn đầy màu sắc chính trị trở thành chuyện muôn đời của thi ca.

– Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm. Nhịp ngắt phá cách 3/3/2 (thông thường thơ lục bát sử dụng nhịp chẵn để tạo nên sự nhịp nhàng, hài hòa) không chỉ tăng tính nhạc mà còn góp phần thể hiện sự ngập ngừng, nghẹn ngào trong giây phút chia tay.

– Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…

2.3 Đánh giá:

– Qua đoạn thơ, ta thấu hiểu và trân trọng nghĩa tình cách mạng của những con người Việt Bắc và những người cán bộ Cách mạng miền xuôi. Đó chính là nguồn sức mạnh đặc biệt giúp Cách mạng của ta giành thắng lợi dù phải trải qua muôn vàn gian khó.

– Đoạn thơ mang đậm phong cách thơ Tố Hữu: đậm đà tính dân tộc.

  1. TÂY TIẾN – QUANG DŨNG SỞ GIAO DỤC ĐÀO TẠO BẮC NINH LẦN 1

Câu 2 (4.0 điểm)

Cảm nhận anh (chị) về hai đoạn thơ sau:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

 (Trích Tây Tiến – Quang Dũng Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Trong bài Việt Bắc Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

(Trích Việt Bắc –Tố Hữu Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

2 Phân tích (3 đ)

a Đoạn 1:

* Vẻ đẹp vừa bi thương vừa hào hùng của đoàn quân Tây Tiến:

– Cái bi thương của người lính được gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

+ Sở dĩ người lính Tây Tiến đầu trọc danh xanh là do hậu quả của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính.

+ Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấn đau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung.

– Cái hào hùng:

+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất mạnh mẽ của người lính. “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh vui đùa với khó khăn gian khổ của mình.

+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh” . Chữ “đoàn binh”chứ không phải là đoàn quân đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng, Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ. “Mắt trừng” là đôi mắt dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

* Họ cũng là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào hoa:0,5 điểm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

– “ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội, về một dáng kiều thơm trong mộng.

Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thể là phố cũ, trường xưa,… hay chính xác hơn là nhớ về bóng dáng của những người bạn gái Hà Nội yêu kiều, diễm lệ. Đó chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để họ vững vàng tay súng, sẵn sàng cống hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.

* Nghệ thuật:

– Bút pháp hiện thực hài hoà với cảm hứng lãng mạn, nhiều biện pháp tu từ đặc sắc: tả thực, đối lập, ẩn dụ làm nổi bật chân dung người lính Tây Tiến vừa lẫm liệt oai hùng vừa lãng mạn, hào hoa.

b Đoạn 2:

* Vẻ đẹp hào hùng của đoàn quân:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

– Các từ láy “rầm rập”, “điệp điệp” và “trùng trùng” và hình ảnh so sánh “… như là đất rung” vừa gợi lên sự đông đảo, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của đoàn quân ra trận. Mỗi bước đi của đoàn quân ấy mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quân thù.

* Vẻ đẹp lãng mạn:

“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

Đây có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân, cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi. Họ là những con người có lí tưởng cao cả, đẹp đẽ, sẵn sàng cống hiến vì sự nhiệp chung. Ý thơ khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trong thơ Chính Hữu.

* Nghệ thuật: chất lãng mạn hài hòa chất hiện thực (ánh sao, đầu súng bạn cùng mũ nan), thể thơ lục bát đậm đà tính dân tộc, âm hưởng thơ hào hùng.

c So sánh:

* Tương đồng:

– Cả hai đoạn đều tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến, góp phần hoàn thiện chân dung người lính Việt Nam, quaân đội Việt Nam buổi đầu kháng chiến chống Pháp: gian khổ nhưng anh dũng, hiên ngang, chiến đấu dũng cảm, quên mình vì Tổ quốc nhưng tinh thần vẫn lạc quan, tâm hồn vẫn lãng mạn, hào hoa.

– Qua hai đoạn thơ khắc sâu tình cảm của hai tác giả đối với thiên nhiên và con người trong kháng chiến ở Tây Bắc, Việt Bắc.

* Khác biệt:

– Tây Tiến mở đầu – Việt Bắc kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Hình ảnh người lính trong Tây Tiến được tô đậm ở vẻ đẹp tâm hồn vừa đậm chất tráng sĩ kiêu hùng, lãng mạn hào hoa vừa đậm chất hiện thực của buổi đầu cuộc kháng chiến còn nhiều thiếu thốn, gian khổ, thể hiện qua thể thơ thất ngôn mang âm hưởng vừa cổ điển vừa hiện đại.

– Hình ảnh đoàn quân trong Việt Bắc được nhấn mạnh ở sức mạnh vật chất và tinh thần, biểu tượng cho sức mạnh tổng hợp quân dân trong cuộc chiến toàn dân, toàn diện, dốc toàn lực lượng cho trận chiến, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, qua thể thơ lục bát đậm chất hùng ca.

* Lí giải sự tương đồng và khác biệt:

– Tương đồng: Cả hai bài thơ đều ra đời trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đều là đỉnh cao thơ ca giai đoạn này. Quang Dũng và Tố Hữu đều là những nhà thơ lớn.

– Khác biệt: Mỗi nhà thơ có một phong cách riêng trong sáng tác; mỗi tác phẩm văn học là sự khám phá về nội dung và hình thức nghệ thuật; Văn học lặp lại người khác là cái chết cho nên hai đoạn thơ có sự khác biệt là đương nhiên.

3 Đánh giá chung về hai đoạn thơ: (0.5đ)

– Xây dựng hình tượng tập thể anh hùng, hai đoạn thơ góp phần thể hiện đặc điểm của thơ ca cách mạng là khuynh hướng sử thi vẻ đẹp lãng mạn.

– Cùng thể hiện lòng yêu nuớc, đề cao lí tưởng sống cao đẹp của con người.

– Hai đoạn thơ góp phần khẳng định giá trị là bản anh hùng ca cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI HÀN THUYÊN BẮC NINH

Câu 2. (4,0 điểm)

Bàn về kết thúc đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, có ý kiến cho rằng: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán; lại có người khẳng định: Đó là một kết thúc tự nhiên, tất yếu.

Bằng hiểu biết về tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, anh, chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Bàn về kết thúc đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, có ý kiến cho rằng: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán; lại có người khẳng định: Đó là một kết thúc tự nhiên, tất yếu.

1 Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

“Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung, in trong tập truyện Tây Bắc là kết quả của chuyến đi Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc 1952. Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sống mãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến.

– Bàn về kết hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị có ý kiến cho rằng đó là hành động thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán; lại có người khẳng định đó là một kết thúc tự nhiên, tất yếu.

2 Phân tích, chứng minh:

a Giải thích ý kiến:

– Ý kiến thứ nhất: đánh giá kết thúc của truyện là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với logic diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

b Phân tích, chứng minh:

* Ý kiến thứ nhất:

– Trong tác phẩm, Mị và A Phủ cùng là nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra, song họ không có quan hệ tình cảm gì cụ thể, thậm chí là Mị đã gần như tê liệt hoàn toàn về ý thức, sống “lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.

– Ngay cả khi A Phủ bị trói mấy ngày, Mị vẫn thản nhiên ngồi thổi lửa, hơ tay, không mảy may bận tâm.

– Không ai có thể ngờ rằng người con dâu bất hạnh và câm lặng ấy lại đột ngột cắt nút dây mây cởi trói cho A Phủ rồi chạy trốn theo anh. Đây là hành động hoàn toàn không hề có sự chuẩn bị, tính toán từ trước.

* Ý kiến thứ hai:

– Đặt trong sự phát triển tính cách của hình tượng Mị thì đây lại là một hành động tự nhiên, tất yếu. Bởi lẽ Mị là một cô gái ham sống, yêu đời, yêu tự do, khát hạnh phúc. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt ở Mị dù có bị vùi dập đến kiệt cùng vẫn không lụi tắt. Đêm tình mùa xuân là minh chứng rõ nét cho sức sống ấy [nhận ra mình còn trẻ, muốn đi chơi,…].

– Mặt khác, Mị vốn là cô gái giàu tình thương, vị tha, biết nghĩ, biết hi sinh cho người khác. Hành động của Mị là kết quả tất yếu của sự bóc lột, đàn áp tàn nhẫn của cha con thống lí nói riêng, tầng lớp phong kiến miền núi cao Tây Bắc nói chung đối với những người lao động nghèo.

– Hành động ấy chứng tỏ sức phản kháng mãnh liệt, khả năng hướng về cách mạng một cách tự nhiên của người dân Tây Bắc.

3 Bình luận, đánh giá chung:

Cả 2 ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của Tô Hoài.

Đồng thời, ta càng trân trọng hơn tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU HẬU LỘC THANH HÓA LẦN4

Câu 2. (4,0 điểm):

Sự kết hợp giữa tính dân tộc và tính hiện đại trong đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

 (Trích Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.111)

Sự kết hợp giữa tính dân tộc và tính hiện đại trong đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

2.1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Đoạn thơ trên mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng có tính hiện đại.

2.2 Sự kết hợp giữa tính dân tộc và tính hiện đại trong đoạn thơ:

a Tính dân tộc:

*Về hình thức:

– Thể thơ lục bát: vốn là một trong những thể thơ mang tính dân tộc sâu sắc.

– Lối kết cấu đối đáp quen thuộc trong ca dao.

– Ngôn ngữ thơ: giàu tính dân tộc (sử dụng cặp đại từ mình – ta).

– Nhịp điệu: quen thuộc của ca dao góp phần tạo nên giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết.

* Về nội dung:

– Đề tài: nằm trong đề tài viết về một cuộc chia tay, tiễn biệt mang tính truyền thống.

– Chủ đề: bức tranh tứ bình về bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) với bút pháp chấm phá, các nét vẽ đơn sơ phù hợp với văn hoá phương Đông.

– Cảm hứng: tình yêu thiên nhiên đất nước, con người qua nỗi nhớ.

b Tính hiện đại:

* Về hình thức:

Lối kết cấu: được vận dụng một cách sáng tạo. Ta (người đi) là những cán bộ kháng chiến, mình (người ở lại) là người dân Việt Bắc.

– Thể thơ lục bát: mang màu sắc hiện đại trong điệp khúc nhịp 2/4 ở một số câu lục gắn với điệp từ “nhớ” đem đến cho người đọc những xúc cảm thẩm mĩ thú vị .

– Ngôn ngữ thơ: cặp đại từ mình – ta sử dụng sáng tạo: đóng vai trò như một thủ pháp nghệ thuật độc đáo thể hiện sự phân thân của tác giả – cái tôi trữ tình, đại từ mình dùng ở ngôi thứ hai kết hợp với đại từ ta (điệp ba lần) diễn tả chiều sâu nỗi niềm của người đi trong nỗi nhớ da diết cảnh và người.

– Hình ảnh thơ: con người là hình ảnh trung tâm của bức tranh thiên nhiên.

* Về nội dung:

– Đề tài: cuộc chia tay mang sự kiện thời sự có tính lịch sử.

– Chủ đề: bức tranh tứ bình về bốn mùa được tác giả bắt đầu bằng mùa đông đến mùa xuân, mùa hạ và mùa thu phù hợp với tiến trình phát triển của cách mạng dân tộc.

c Sự kết hơp giữa tính dân tộc và hiện đại:

– Tính dân tộc và tính hiện đại trong đoạn thơ được Tố Hữu kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn đến tự nhiên. Bức tranh tuyệt đẹp về thiên nhiên, con người Việt Bắc (đặc biệt tám câu thơ cuối cứ câu lục nói về cảnh thì câu bát nói về người) ấy thể hiện sâu sắc tình cảm yêu thương, gắn bó của người đi với mảnh đất chiến khu. Người đọc như nhập vào giai điệu riêng vừa thân thuộc vừa mới mẻ để nhận biết và càng thêm tự hào, có ý thức bảo tồn một thể thơ mang bản sắc văn hoá dân tộc độc đáo.

2.3 Đánh giá:

– Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: vừa đậm đà tính dân tộc vừa mang hơi thở của thời đại.

– Qua đoạn thơ, người đọc có thể hiểu rõ hơn đóng góp đầy ý nghĩa của thơ Tố Hữu đối với sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc và nền văn học nước nhà.

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI HỒNG LĨNH HÀ TĨNH

Câu 2. (4,0 điểm)

« Thường khi đến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn. Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại thức sưởi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.

Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ…Mị phảng phất nghĩ như vậy.

Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…

Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị vẫn tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.

Mị đứng lặng trong bóng tối.

Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

– A Phủ cho tôi đi.

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

– Ở đây thì chết mất.

A Phủ chợt hiểu.

Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.

 A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi.”

 (Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

2.1 Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

– “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung. Nhân vật Mị được tác giả tập trung xây dựng, khắc họa, trở thành điển hình cho số phận cay đắng, tủi cực của người lao động miền núi Tây Bắc thời kì trước cách mạng tháng Tám và quá trình họ tự đấu tranh, giải phóng mình.

– Đoạn trích nằm ở gần cuối tác phẩm, thể hiện sự trỗi dậy của nhân vật Mị, thoát khỏi cường quyền và thần quyền.

2.2 Cảm nhận về nhân vật Mị trong đoạn trích:

* Thân phận của Mị:

– Mị là cô con dâu gạt nợ, bị bóc lột sức lao động và đánh đạp, hành hạ rất tàn tệ. Nhiều lúc Mị nghĩ “mình không bằng con trâu, con ngựa”.

* Sự áp bức, đày đoạ, giam hãm của bọn thực dân, chúa đất đã làm cho Mị trở nên chai lì, vô cảm:

– Bao đêm, chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, “Mị vẫn thản nhiên ngồi thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.

– Gần sáng dậy ngồi bên bếp lửa đã trở thành thói quen của Mị, là người bạn duy nhất của Mị, ngay cả khi bị A Sử đánh, hôm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.

* Mị đã hồi sinh, giải thoát cho A Phủ cũng là cắt dây trói cho cuộc đời mình:

– Nguyên nhân: Mị trông thấy dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Nó khiến Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Mị nhớ lại kí ức đau khổ – lần mình bị trói đứng, thật đau khổ! Từ thương mình mà đồng cảm, thương cho người.

– Sự thức tỉnh ý thức:

+ Nhận ra dấu hiệu về cái chết, phán đoán “chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” -> càng thương hơn và so sánh“người kia việc gì mà phải chết thế”

+ Lần đầu tiên Mị nhìn rõ kẻ thù của mình cũng như những kiếp người đau khổ như mình: “Chúng nó thật độc ác”

+ Nghĩ đến tình huống cha con Pá Tra bảo là Mị cởi trói cho A Phủ, bắt Mị đứng trói thay đến chết trên cái cọc ấy nhưng Mị cũng không sợ -> tình thương vượt lên sự sợ hãi, lấn át cả nỗi thương thân.

– Cắt dây trói cho A Phủ -> hành động tự phát, xuất phát từ tình thương nhưng cũng chính là Mị đang cắt dây trói cho chính mình, chiến thắng cường quyền, thần quyền.

– Sau đó, Mị “hốt hoảng”, “vụt chạy” đuổi theo A Phủ, nói “A Phủ cho tôi đi!… Ở đây thì chết mất!” -> bắt đầu hành trình từ “thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui” ở mảnh đất Phiềng Sa.

=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh, là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu.

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Miêu tả tâm lí nhân vật logic, tinh tế, chân thực.

– Giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vị dân tộc…

3 Bình luận về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ:

– Nhà văn đã bộc lộ niềm hương cảm, xót xa trước những thân phận người dân Tây Bắc bị bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày đoạ.

– Tố cáo bọn thực dân, chúa đất đã vùi dập con người.

– Nâng niu, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

– Đồng cảm với những khát vọng chính đáng của con người.

– Chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài là ở chỗ nhà văn tin vào khả năng cải tạo hoàn cảnh của con người.

=> Tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài đã góp phần làm sâu sắc thêm chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam.

4 Đánh giá:

– Khẳng định lại sự hồi sinh của nhân vật Mị và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ và sức sống lâu bền của tác phẩm.

– Khẳng định tài năng, tấm lòng, nhân cách của nhà văn Tô Hoài.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG HỢP THÀNH HÀ NỘI

Câu 2 (4,0 điểm)

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ hà nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc đọc hành

(Trích Tây Tiến, Ngữ văn 12, NXB Giáo dục)

Cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh người lính Tây Tiến trong đoạn thơ trên. Từ đó bình luận ngắn gọn về quan điểm của nhà thơ Quang Dũng đối với lý tưởng sống của họ trong bài thơ Tây Tiến.

2 Cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh người lính Tây Tiến…

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí.

– “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

– Đoạn trích là bức tượng đài về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp vừa bi tráng vừa lãng mạn.

2.2 Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến:

* Vẻ đẹp vừa bi thương vừa hào hùng của đoàn quân Tây Tiến:

– Cái bi thương của người lính được gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

+ Sở dĩ người lính Tây Tiến đầu trọc danh xanh là do hậu quả của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính.

+ Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấn đau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung.

– Cái hào hùng:

+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất mạnh mẽ của người lính. “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh vui đùa với khó khăn gian khổ của mình.

+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh” . Chữ “đoàn binh”chứ không phải là đoàn quân đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng, Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ. “Mắt trừng” là đôi mắt dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

– Cái chết được nhắc đến qua cái nhìn đậm chất lãng mạn, cách thể hiện giàu chất sử thi. Ấn tượng hãi hùng, nặng nề về cái chết được thay thế bằng ấn tượng tự hào, nhẹ nhóm, thư thái, thanh thản. “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Với những người lính Tây Tiến, khi ngã xuống là trở về với vòng tay bao bọc, chở che bao dung của đất mẹ.

– Câu thơ tiến đưa thấm đẫm tinh thần bi tráng. “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Dòng sông Mã trở thành con ngựa chiến mã gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm kinh động cả chốn rừng thiêng. Lời thơ như làm sống lại không khí chiến trận trong những bài anh hùng ca thời cổ -> cảm giác tiếc thương, tự hào, kiêu hãnh chứ không chìm trong buồn đau, chán nản, bi quan.

* Họ cũng là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào hoa:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

“ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội, về một dáng kiều thơm trong mộng.

Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thể là phố cũ, trường xưa,… hay chính xác hơn là nhớ về bóng dáng của những người bạn gái Hà Nội yêu kiều, diễm lệ. Đó chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để họ vững vàng tay súng, sẵn sàng cống hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc, đúng như tinh thần “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

* Nghệ thuật khắc họa hình tượng:

– Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường; sử dụng thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan, kích thích trí tưởng tượng, liên tưởng của người đọc.

– Hình ảnh giàu sức biểu cảm, ngôn ngữ chọn lọc vừa góc cạnh vừa tinh tế… Đánh giá thành công của đoạn thơ: Góp thêm những hình ảnh chân thực và đẹp đẽ về những người lính, làm phong phú đề tài người lính. Đoạn thơ tiêu biêu cho bút pháp tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.

2.3 Quan điểm của nhà thơ Quang Dũng về lí tưởng sống của họ trong bài thơ:

– Lí tưởng sống của những người lính Tây Tiến là sống, chiến đấu quên mình vì Tổ quốc. Người lính hạnh phúc khi được để lại một phần máu xương mình vì hòa bình, độc lập, tự do của đất nước. Cũng như nhà thơ Thanh Thảo từng viết:

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi

Thì còn chi Tổ quốc?

Nhưng người lính Việt Nam chiến đấu không phải vì độc chiếm, tranh giành lãnh thổ mà chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ từng con phố, nóc nhà. Họ chiến đấu vì những người họ yêu thương “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Đó là sức mạnh, là động lực lớn lao của chính nghĩa. Để rồi khi “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

– Từng sống và chiến đấu như thế, từng là một phần của đoàn quân Tây Tiến nên nhà thơ thấu hiểu và trân trọng sự dũng cảm, can trường, ý chí, nghị lực phi thường của đồng chí, đồng đội “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Những câu thơ khi hào hùng, khi thấm đẫm xót xa, cùng cách nói giảm nói tránh “áo bào thay chiếu anh về đất” đã cho ta thấy tình cảm chân thành, sâu sắc của nhà thơ khi nhớ về đồng đội.

2.4 Đánh giá:

– Đây là đoạn thơ đặc sắc nhất trong bài.

– Khẳng định tác phẩm Tây Tiến xứng đáng là “đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa” của nền thơ ca kháng chiến Việt Nam và sức hấp dẫn của ngòi bút Quang Dũng.

  1. RỪNG XÀ NU NGUYỄN TRUNG THÀNH HƯNG NHÂN THÁI BÌNH

Câu 2: (4,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: “Ở Tnú không có vấn đề tìm đường, nhận đường như nhân vật A Phủ. Câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại”

 Anh/ chị hãy so sánh hi nhân vật A Phủ (Vợ chông A Phủ – Tô Hoài) và Tnú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành) để thấy được những đặc điểm mới mẻ ấy ở Tnú.

2 Ở Tnú không có vấn đề tìm đường, nhận đường như nhân vật A Phủ. Câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại”

2.1 Giới thiệu chung:

Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hiện đại hàng đầu của nền văn học Việt Nam. Ông thành công ở nhiều thể loại, đề tài. Sáng tác của ông thể hiện vốn hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là phong tục và sinh hoạt đời thường. “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn đặc sắc, góp phần làm nên tên tuổi của Tô Hoài, in trong tập truyện “Tây Bắc”.

– Nguyễn Trung Thành là văn gắn bó sâu sắc với Tây Nguyên, thường viết về những sự tích anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp của thời đại. “Rừng xà nu” được viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ ác liệt, được xem như một bi “Hịch tướng sĩ” thời chống Mĩ ca ngợi vẻ đẹp kiên cường, bất khuất, bất diệt của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung; tác phẩm còn khái quát được chân lí thời đại.

– Tìm hiểu về nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” và Tnu’ trong “Rừng xà nu” ta sẽ tìm thấy ở họ nhiều nét tương đồng và cả những đặc điểm riêng đầy hấp dẫn.

2.2 So sánh:

a/ Giống nhau:

* Đều sinh ra từ những vùng cao xa xôi, hẻo lánh:

– A Phủ sinh ra tại vùng núi Tây Bắc.

– Tnú sinh tại vùng đất Tây Nguyên đầy nắng và gió.

* Đều mồ côi:

– Cha mẹ A Phủ mất trong dịch đậu mùa khi đó cậu chừng 10 tuổi. Lần lần đi làm thuê cho nhà người.

– Tnú cũng mồ côi từ nhỏ được dân làng STrá nuôi dưỡng.

* Lớn lên đều là những chàng trai khỏe mạnh, cường tráng:

– A Phủ được ví như con trâu tốt trong làng.

– Tnú được ví như cây xà nu cường tráng bất chấp đạn bom.

* Cả hai đều có phẩm chất dũng mãnh, căm thù cái ác, sự bất công và đi theo cách mạng:

A Phủ:

+ Chống lại A Sử – con quan khi hắn phá cuộc chơi → không sợ cường quyền.

+ Sau khi được Mị cắt dây cởi trói, chạy đến vùng Phiềng Sa, được người cán bộ A Châu giác ngộ, anh đã là du kích hoạt động rất tích cực.

– Tnú:

+ Gan góc quả cảm ngay từ nhỏ (Chi tiết: Nuôi giấu cán bộ, nuốt thư khi bị bắt)

+ Chỉ huy dân làng mài vũ khí, chuẩn bị lực lượng chiến đấu.

+ Mặc dù chịu nhiều đau thương: vợ con mất, bàn tay bị đốt nhưng anh vẫn đi lực lượng cầm vũ khí chiến đấu.

b/ Khác nhau:

* A Phủ:

– Là nạn nhân của những tập tục phong kiến lạc hậu, sống kiếp sống nô lệ ngựa trâu cho nhà thống lí.

– Tính cách của A Phủ rất đặc biệt:

+ Gan góc, có ý thức phản kháng mỗi khi không chịu nổi điều gì (chi tiết: đánh A Sử; để hổ bắt mất một con bò, anh không van xin, không cầu cứu, đêm cúi xuống nhay đứt hai vòng dây trói; khi được Mị cứu, anh quật sức chạy thoát)

+ Tuy nhiên do bị đọa đày triền miên, A Phủ cũng rơi vào tình trạng chấp nhận, cam chịu(chi tiết: tập tễnh đi giết lợn phục dịch những kẻ vừa hành hạ mình; một mình ro ng ruổi ngoài rừng mà không chạy trốn; nghe lời thống lí tự đi lấy cọc, đóng cọc, lấy dây để hắn trói mình) → thói quen cam chịu, cam phận của người nông dân trên các vùng núi cao, khi ánh sáng của Đảng chưa vươn tới. Họ sống như trong đêm tối không biết đường ra, không ai chỉ đường vạch lối. Đến khi cái chết cận kề, họ mới biết dựa vào nhau để giành giật lấy sự sống.

=> Tô Hoài rất biện chứng trong hai mặt đối lập của nhân vật và chỉ ra cho người đọc thấy đó là bước tìm đường, nhận đường của A Phủ để sau này sang Phiềng Sa gặp A Châu (cán bộ Đảng), anh được giác ngộ và sẵn sàng cầm súng trở thành du kích quay về giải phóng quê hương.

* Tnú:

– Khác với A Phủ, câu chuyện về cuộc đời của Tnú được mở ra từ chính câu chuyện về A Phủ được khép lại.

+ Tnú mồ côi nhưng được sống trong vòng tay yêu thương đùm bọc của dân làng Xô Man.

+ Được gần cán bộ cách mạng là anh Quyết, được dạy chữ để sau này tiếp nối làm cán bộ, lãnh đạo phong trào cách mạng ở quê hương

-> Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ.

=> Tnú có những điều kiện mà các nhân vật anh hùng miền sơn cước trước đó chưa có, hay chỉ có khi đã trải qua vô vàn đau khổ, gian truân. Vì thế, ở Tnú đã có những điều kiện thuận lợi và phẩm chất mới mẻ, vượt xa với A Phủ.

– Tnú có một bi kịch đau đớn nhưng vượt lên hoàn cảnh đau thương, anh lên đường vào lực lượng vũ trang tiếp tục chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.

2.3 Đánh giá:

– Tnú có nét chung và có bước phát triển mới mẻ hơn so với A Phủ.

– Cả 2 đều là những người con ưu tú của Tổ Quốc, mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.

=> Ý kiến trên là đúng, chính xác, phản ánh sự vận động, phát triển của văn học giai đoạn sau bao giờ cũng kế thừa và phát triển thành quả giai đoạn trước. Lí giải sự khác nhau là do hoàn cảnh ra đời của tác phẩm khác nhau. Nét đặc sắc, riêng biệt này thể hiện tài năng của người nghệ sĩ và phong cách riêng của người nghệ sĩ, sự phát triển vận động của hình tượng văn học.

  1. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN SỞ GIÁO DỤC HƯNG YÊN

Câu 2. (4,0 điểm)

…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chi ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […]. Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tia, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã cầm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy cái luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sống thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tỉu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Thế là hết thác….

 (Trích Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr 189 – 190)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật ông lái đò trong đoạn trích trên. Từ đó bình luận ngắn gọn về suy nghĩ, tình cảm của nhà văn Nguyễn Tuân đối với con người lao động Việt Nam trong tùy bút Người lái đò sông Đà.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, một phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật nhất là sự tài hoa uyên bác. Ông có sở trường ở thể tùy bút.

– “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc, kết tinh nhiều mặt phong cách Nguyễn Tuân, được in trong tập Sông Đà năm 1960.Tác phẩm viết về vẻ đẹp và tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

– Đoạn trích trên miêu tả một cuộc vượt thác leo nghềnh ngoạn mục của người lái đò để chiến thắng trùng vi thạch trận. Qua đó, thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với con người lao động Việt Nam.

2.2 Cảm nhận ông lái đò :

– Thiên nhiên dữ dội, sông Đà hiểm nguy là thử thách lớn với ông lái đò :

+ Trùng vi thạch trận thứ nhất: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”…Sóng thác đánh đòn hiểm độc nhất, luồng nước bóp chặ hạ bộ người lái đò; khiến ông bị thương, mặt méo bệch… Mặt sông tích tắc lòa sáng lên, tiếng hỗn chiến của đá nước thác…

+ Trùng vi thạch trận thứ hai: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…

+ Trùng vi thạch trận thứ ba: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.

– Ông lái đò tài trí , khôn ngoan, linh hoạt, luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông hiểu biết tường tận về tính nết của con sông, “ nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả con thác hiểm trở”. Ông “ nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”, “ thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở” , biết rõ từng cửa tử, cửa sinh, trên thạch trận sông Đà.

– Ông là con người dũng cảm, say mê sông nước, say mê những cảm giác mạnh. Ông vừa bình tĩnh, vừa ung dung, linh hoạt, quả cảm đối đầu với khó khăn, hiểm nguy trong chuyến vượt thác. Tả xung hữu đột trước, trùng vi thạch trận của sông Đà, kiên cường nên chịu nỗi đau thể xác do cuộc vật lộn với sóng thác gây nên chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo, vô cùng chuẩn xác, mạch lạc ( tránh, đè, sấn, lái miết một đường chèo, phóng thẳng..)

– Bằng cách tạo nên tình huống đầy thử thách, sử dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình, hoàn toàn phù hợp với đối tượng, tác giả đã khắc họa được sự từng trải, mưu mẹo, gan dạ của ông lái đò. Nguyễn Tuân tô đậm nét tài hoa , nghệ sĩ ở ông lái đò. Đây là cách viết phù hợp quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người , phù hợp với cái nhìn rộng mở của ông về phẩm chất tài hoa của người nghệ sĩ.

2.3 Suy nghĩ, tình cảm của nhà văn Nguyễn Tuân đối với conngười lao động Việt Nam :

– Ông lái đò là một hình tượng đẹp về người lao động mới . Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm : người anh hùng không chỉ trong chiến đấu mà còn có trong cả cuộc sống lao động bình thường. Ông lái đò chính là một người anh hùng như thế.

– Tác giả trân trọng, ngợi ca, ngưỡng mộ những con người bình thường, công việc bình thường, tôn kính công sức lao động con người thầm lặng đang góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước.

– Nguyễn Tuân tìm thấy vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những con người bình thường của cuộc sống khác với các sáng tác trước.

2.4 Đánh giá chung:

– Bằng ngòi bút tài hoa uyên bác, cái nhìn cảnh vật và con người thiên về phương diện tài hoa nghệ sĩ , Nguyễn Tuân đã ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người lao động Tây Bắc của Tổ Quốc.

– Tác phẩm như bài ca lao động của con người đang góp sức mình dựng xây đất nước…

  1. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN KIM THÀNH HẢI DƯƠNG

Câu 2 (4,0 điểm)

Phân tích hình tượng con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” để làm nổi bật nét đặc sắc phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.

2.1 Vài nét về tác giả, tác phẩm:

“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa”(Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu”.

“Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong “ Tùy bút sông Đà”. Trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng con sông Đà vừa hung bạo, dữ dội, là “kẻ thù số một” của con người, vừa là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa – trữ tình, thơ mộng, làm say đắm lòng người.

2.2 Phân tích hình tượng sông Đà:

a Sông Đà hung bạo, dữ dội:

– Vách đá đá bờ sông dựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chặt lấy lòng sông hẹp. Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách:

+ “Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời

+ “Con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ can nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ bên này qua bên kia vách…

-> So sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ và lạ lùng.

– Gió trên sông Đà: “Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …” -> bằng lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp, gợi hình ảnh con sông Đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người.

Những hút nước ở quãng Tà Mường Vát: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “chỗ giếng nước sâu ặc ặc lên …” những cái hút nước lôi tuột bè gỗ xuống hoặc hút những chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác

-> Lối so sánh độc đáo khiến con sông Đà không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần và uy hiếp con người.

– Âm thanh thác nước sông Đà:

+ Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”, “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…” -> Sự liên tưởng vô cùng phong phú, âm thanh của thác nước sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả không khác gì âm thanh của một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Lấy lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân quả là đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật.

– Trùng vi đá:

+ Trùng vi thạch trận thứ nhất: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”…

+ Trùng vi thạch trận thứ hai: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…

+ Trùng vi thạch trận thứ ba: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.

=> Nhận xét: Với trí tưởng tượng phong phú, những câu văn tài hoa, uyên bác , vận dụng ngôn ngữ của nhiều ngành khác nhau như võ thuật, thể thao, quân sự,…, Nguyễn Tuân đã tái hiện trước mắt người đọc một Sông Đà hung bạo, độc ác không khác gì “kẻ thù số một của con người”.

b Sông Đà trữ tình, thơ mộng:

– Khái quát dòng sông:

+ Sông Đà là bức tranh thủy mặc vương vấn lòng người.

+ Từ trên tàu bay nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo …” – lối so sánh tài hoa, tạo mĩ cảm cảm đặc biệt.

– Màu sắc dòng sông thay đổi theo mùa:

+ “Mùa xuân xanh màu ngọc bích”, khác với sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh hến”.

+ Mùa thu nước sông “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa …

-> Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ.

– Sông Đà gợi không khí huyền thoại thơ mộng – vẻ đẹp cổ thi:

+ Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ vô cùng gợi cảm, bình yên và mang đậm chất thơ: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu “ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” …

+ Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa… lặng tờ “như từ Lí, đời Trần, đời Lê”.

=> Nhận xét: Cảnh sông Đà đẹp, thơ mộng, hữu tình và đầy sức sống, làm mê đắm lòng người.

  1. Đặc sắc phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước:

– Khám phá, phát hiện sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ.

– Vận dụng kiến thức phong phú, nhất là ngôn từ ở các ngành quân sự, võ thuật, điện ảnh,… để miêu tả con sông ở nhiều góc độ.

– Sử dụng thể văn tùy bút phóng khoáng, thể hiện sự tài hoa, uyên bác của nhà văn:

+ Sông Đà được khắc họa bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, cùng hệ thống từ vựng phong phú, giàu có.

+ Sử dụng nhiều câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ.

3 Đánh giá:

– Hai đặc điểm trên tưởng chừng như đối lập mà hài hòa, thống nhất trong cùng đối tượng. Sông Đà được nhìn nhận như một con người, có tính cách cụ thể, sinh động.

– Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha với thiên nhiên đất nước. Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có. Ông xứng đáng là một cây tùy bút tài hoa bậc nhất của nền văn học Việt Nam.

  1. SÓNG – XUÂN QUỲNH KINH MÔN HẢI DƯƠNG

Câu 2 (4 điểm)

Từ hình tượng sóng trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, anh/chị cảm nhận được gì về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu?

2.1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– “Sóng” là bài thơ tình đặc sắc được Xuân Quỳnh sáng tác nhân chuyến đi thực tế về vùng biển Diêm Điền.

– Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người nhưng cũng chất chứa nhiều day dứt, lo âu.

2.2 Phân tích:

a Cảm nhận về hình tượng “Sóng”:

– Đó là hình tượng của thiên nhiên và cũng là ẩn dụ cho tâm hồn và khát vọng của người phụ nữ đang yêu.

– Sóng mang nhiều cung bậc cũng như tâm hồn em đan xen nhiều cảm xúc khác nhau.

– Sóng là đối tượng để em suy ngẫm về tình yêu, đi tìm lời giải đáp về cội nguồn của tình yêu nhưng không thể được.

– Sóng hòa vào nỗi nhớ của em da diết, khắc khoải, bỏng cháy.

– Sóng chung thủy với bờ cũng như em chỉ hướng về một phương duy nhất là anh.

– Khát vọng hóa thân vào sóng để sống mãi trong biển lớn tình yêu.

b Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ qua hình tượng “Sóng”:

– Nét đẹp truyền thống: đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, dễ thương, chung thủy.

– Nét đẹp hiện đại:

+ Sự chủ động, táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn tin vào sức mạnh của tình yêu.

+ Người phụ nữ ấy thủy chung nhưng không còn nhẫn nhục cam chịu nữa. Nếu “không hiểu nỗi mình” thì sông dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để “ tìm ra tận bể”, đến cái cao rộng bao dung. “ Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc, với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều minh chứng thử thách mang đậm dấu ấn trách nhiệm” ( Phạm Đình Ân ).

2.3 Đánh giá:

Khẳng định vẻ đẹp của hình tượng sóng, qua đó thể hiện những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu, thể hiện rõ những quan niệm mang tính mới mẻ, hiện đại, thậm chí táo bạo, chân thực, mãnh liệt, nồng nàn, đắm say của Xuân Quỳnh về tình yêu.

  1. KRONG ANA GIA LAI LẦN 1

Câu 2 ( 4,0 điểm )

Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.

2.1 Giới thiệu chung:

Khái quát về tác giả, tác phẩm:

+ Kim Lân là cây bút truyện ngắn tài hoa. Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam.

+ “Vợ nhặt” là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, được rút từ tập “Con chó xấu xí”. Truyện là bài ca về tình người, về lòng lạc quan và niềm khát sống mãnh liệt của những con người sống trong tận cùng của đói khổ.

Cảm nhận chung về nhân vật bà cụ Tứ: Là người phụ nữ nông dân nghèo khổ nhưng có rất nhiều phẩm chất đáng quý.

2.2 NÊU VÀ PHÂN TÍCH ĐƯỢC VẺ ĐẸP CỦA HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT BÀ CỤ TỨ:

 a Bà cụ Tứ là một người mẹ nông dân nghèo khổ:

– Dáng hình : “lọng khọng”, “gầy gò”.

– Cảnh ngộ: bà lão nghèo khổ, già nua lại cô đơn vì chồng và con gái út đã chết, đứa con trai đã lớn tuổi nhưng vì nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư nên không lấy được vợ.

– Cuộc sống nghèo khó: căn nhà rúm ró trên mảnh vườn nhỏ, sống qua ngày bằng những bữa ăn khốn khó, khi thì lùm rau chuối thái rối, khi thì nồi cháo cám, không có nổi vài ba mâm cơm cúng tổ tiên khi có nàng dâu mới.

=> Cuộc đời bà cụ Tứ thật đáng thương: nghèo, góa bụa, hiền lành và thầm lặng.

b Bà cụ Tứ có nhiều phẩm chất đáng quý:

* Vẻ đẹp ở tấm lòng nhân hậu, bao dung:

Dù người mẹ già ấy có thân phận, hoàn cảnh sống nghèo khó nhưng trong lòng vẫn luôn chan chứa tình yêu thương dành cho các con, có những ứng xử chân thành, đầy tình nghĩa đối với cả con trai và con dâu:

– Vượt qua những nghi lễ thông thường, bà cụ đồng ý cho người đàn bà xa lạ làm con dâu mình và còn thấy thương xót, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người đàn bà ấy.

– Bà nói chuyện với con dâu nhẹ nhàng, từ tốn, nhìn con dâu với tình cảm xít thương trào dâng: “Chúng mày lấy nhua lúc này u thương quá”. -Bà vui mừng vì các con mình đx yên bề gia thất ” Các con…mừng lắm”

* Vẻ đẹp ở tâm hồn giàu niềm tin và hi vọng:

Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con:

– Trong ý nghĩ: bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”

– Trong lời nói: Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này: ” Tràng ạ, khi nào…đàn gà cho mà xem”.

– Trong hành động:

+ Cùng con dâu thu dọn nhà cửa, quét dọn sân vườn cho sạch sẽ.

+ Nấu một nồi cháo cám bổ sung vào bữa ăn ngày đói như để ăn mừng nhân ngày con trai lấy được vợ.

* Vẻ đẹp ở nội tâm với những nét tâm lí chân thực, phong phú, giàu sức lay động:

– Khi ai oán xót xa (trách mình không làm tròn bổn phận người mẹ, không lo được cho con), khi buồn tủi lo lắng (hiện thực cuộc sống nghèo khổ), khi vui mừng phấn chấn rạng rỡ (nghĩ về tương lai)…

2.3 NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA NHÂN VẬT:

– Nhân vật được đặt trong tình huống truyện độc đáo, diễn biến tâm lí được miêu tả tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị …

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHÂN VẬT:

– Bà cụ Tứ là nhân vật điển hình về những người ông dân nghèo khổ. Song đây là người mẹ từng trải, hiểu biết, nhân hậu, bao dung, lạc quan.

– Nhân vật này góp phần vào việc thể hiện tình cảm nhân đạo của tác phẩm. Nhà văn đã giúp người đọc thấu hiểu: dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu con người vẫn giữ được phẩm chất đẹp đẽ và luôn hướng về ánh sáng, sự sống, không ngừng khao khát sống.

  1. VIỆT BẮC TỐ HỮU KỲ ANH HÀ TĨNH

Câu 2. (4,0 điểm):

 Bàn về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, trng 114, có viết: “Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng”

Anh/chị hãy chọn một vế trong nhận định và làm sáng tỏ.

1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ luôn theo sát những chặng đường cách mạng của dân tộc. Dù viết về đề tài gì thơ Tố Hữu cũng đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức..

– Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với người dân Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Trích dẫn ý kiến: “Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng”.

2 Giải thích nhận định:

“khúc hùng ca”: Là khúc ca hào hùng, thể hiện vẻ đẹp hùng tráng.

“khúc tình ca”: Là khúc ca ân tình thể hiện tình cảm yêu thương thắm thiết giữa cán bộ miền xuôi với nhân dân Việt Bắc.

=> “Việt Bắc” vừa là bản hùng ca ca ngợi cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc vừa là bản tình ca ca ngợi ân tình cách mạng của những con người kháng chiến thủy chung, nghĩa tình. Nhận định đã thâu tóm được nét đặc sắc về nội dung tư tưởng của bài thơ Việt Bắc và đặc điểm phong cách thơ Tố Hữu: Thơ trữ tình – chính trị.

3 Phân tích, chứng minh:

a Thí sinh chỉ chọn 1 trong 2 vế để làm sáng tỏ. Gợi ý:

 Vế 1: “Việt Bắc” là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến mười lăm năm gian khổ của dân tộc:

– Những ngày đầu kháng chiến gian khổ, thiếu thốn. Cách mạng về khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc.

– Bức tranh Việt Bắc ra quân giữa một không gian núi rừng rộng lớn:

+ Những đoàn người tấp nập: “Quân đi điệp điệp trùng trùng/ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”. Hình ảnh, âm thanh hào hùng, sôi nổi dồn dập, náo nức.

+ Lời thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ của một sử thi hiện đại, khẳng định sức mạnh to lớn của dân tộc.

– Những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh, với tên đất, tên núi: Phủ Thông, Đèo Giàng, Điện Biên,…bởi xuất phát từ:

+ Lòng căm thù giặc.

+ Tình nghĩa thủy chung của con người kháng chiến; khối đại đoàn kết toàn dân.

+ Sự lãnh đạo sáng suốt của Đàng và Bác Hồ

– Bài thơ đã khẳng định Việt Bắc là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Vế 2: “Việt Bắc là bài ca nghĩa tình cách mạng:

“Việt Bắc” được kết cấu theo cấu tứ đối đáp giao duyên của ca dao:

+ Hai nhân vật mình – ta; ta – mình.

+ Là lời đối đáp giữa người đi và kẻ ở: nhắc lại những kỉ niệm, hồi ức đẹp trong suốt 15 năm gắn bó.

– Điệp từ nhớ và các câu hỏi tu từ “có nhớ…” lặp lại nhiều lần, liên tiếp tô đậm tình cảm gắn bó thủy chung son sắt giữa “mình” và “ta”.

– Qua nỗi nhớ, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp:

+ Thiên nhiên Việt Bắc vừa thực, vừa thơ mộng: Có ánh trăng, sương sớm, núi, rừng, sông, suối,…với những cái tên quen thuộc: Tân Trào, Hồng Thái, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê,…

+ Bức tranh tứ bình: Bốn mùa đông, xuân, hạ, thu tràn đầy ánh sáng, màu sắc, âm thanh và sức sống.

+ Người dân Việt Bắc bình dị, cần cù trong lao động, thủy chung“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng/ Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

– Nghĩa tình của nhân dân với cán bộ cách mạng còn là sự đồng cam cộng khổ cùng chung niềm vui và gánh vác những nhiệm vụ nặng nề: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng/ Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”.

 b Nghệ thuật biểu hiện:

– Sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống.

– Sử dụng thể thơ lục bát có âm hưởng trữ tình vang vọng, tha thiết, êm ái như lời ru; kiểu kết cấu đối đáp “mình – ta” mang đậm sắc thái dân gian, tính dân tộc đậm đà.

– Giọng thơ ngọt ngào đậm chất trữ tình

– Kết hợp các biện pháp tu từ nghệ thuật: Liệt kê, so sánh, ẩn dụ, điệp, câu hỏi tu từ,…

4 Đánh giá:

– Khẳng định ý kiến trên xác đáng và sâu sắc, bởi nó thâu tóm được giá trị nội dung tư tưởng của bài thơ cũng như khái quát được phong cách thơ Tố Hữu.

– Việt Bắc như lời nhắn nhủ của Tố Hữu: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam.

+ Khúc hùng ca là khúc ca hào hùng, ngợi ca cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà oanh liệt của dân tộc.

  1. VỢ NHẶT KIM LÂN SỞ GIÁO DỤC LẠNG SƠN

Câu 2. (4,0 điểm):

 Có ý kiến cho rằng:

Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân là người mẹ thương con vô bờ, người đã truyền cho các con niềm tin vào cuộc sống và tương lai.

Anh/chị hãy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân để làm sáng tỏ nhận định trên.

1 Giới thiệu chung:

“Vợ nhặt” là tác phẩm thể hiện đậm nét tình người và khát vọng sống mãnh liệt của con người trong những năm đói kém, bần cùng nhất của xã hội Việt Nam.

– Thông điệp của truyện thể hiện rất rõ qua nhân vật bà cụ Tứ. Trích nhận định.

2 Giải thích ý kiến:

Bà cụ Tứ là đại diện cho phẩm chất của những người mẹ Việt Nam truyền thống.

– Ở bà luôn chan chứa tình yêu thương con vô bờ bến (ngay cả khi Thị về làm dâu, bà mẹ ấy cũng thương Thị như thương chính cuộc đời của mình).

– Bà cụ Tứ còn là bà mẹ nghèo giàu đức hy sinh, là người biết truyền cho các con vào cuộc sống và tương lai.

3 Phân tích, chứng minh:

a Khái quát:

– Sự xuất hiện bà cụ Tứ trong tác phẩm: ở giữa câu chuyện khi Kim Lân đã miêu tả về cái nghèo đói đến thê lương của xóm ngụ cư và khi anh cu Tràng dẫn Thị về nhà.

– Hoàn cảnh, số phận: nghèo khổ, bất hạnh (sống phận mẹ góa con côi ở xóm ngụ cư, con trai lại nhặt được vợ trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp).

b Bà là người mẹ thương con vô bờ:

Dù người mẹ già ấy có thân phận, hoàn cảnh sống nghèo khó nhưng trong lòng vẫn luôn chan chứa tình yêu thương dành cho các con, có những ứng xử chân thành, đầy tình nghĩa đối với cả con trai và con dâu:

– Bà tủi phận mình vì người ta dựng vợ gả chồng cho con lúc ăn nên làm ra, còn con mình thì lấy vợ trong lúc đói kém, chết chóc đang bủa vây. Bà cũng hiểu ra cái điều: “có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình . Mà con mình mới có vợ được”. Cái cảm giác buồn tủi ấy đã biến thành giọt lệ:“Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà đã rỉ xuống hai dòng nước mắt”. Đó là dòng nước mắt xót xa, buồn tủi, thương cảm, đã chảy xuống bởi sự ám ảnh của cái đói, cái chết.

– Vượt qua những nghi lễ thông thường, bà cụ đồng ý cho người đàn bà xa lạ làm con dâu mình và còn thấy thương xót, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người đàn bà ấy.

– Bà nói chuyện với con dâu nhẹ nhàng, từ tốn, nhìn con dâu với tình cảm xót thương trào dâng: “Chúng mày lấy nhua lúc này u thương quá“.

– Bà vui mừng vì các con mình được yên bề gia thất ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng“.

– Ân cần dặn dò, chỉ bảo các con yêu thương, hòa thuận với nhau, chăm chỉ làm ăn.

=> Bà là người mẹ thấu hiểu lẽ đời và rất mực thương con.

c Cụ Tứ là người mẹ biết truyền cho các con niềm tin vào cuộc sống và tương lai:

Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con:

– Trong ý nghĩ: bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”

– Trong lời nói: Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này: “Tràng ạ, khi nào… đàn gà cho mà xem”.

– Trong hành động:

+ Cùng con dâu thu dọn nhà cửa, quét dọn sân vườn cho sạch sẽ.

+ Nấu một nồi cháo cám bổ sung vào bữa ăn ngày đói như để ăn mừng nhân ngày con trai lấy được vợ.

=> Tinh thần lạc quan của bà cụ Tứ là nguồn sức mạnh truyền lửa, truyền niềm tin và khát vọng sống cho các con để cùng hướng về một tương lại tươi sáng hơn.

4 Bình luận, đánh giá:

– Nhân vật được đặt trong tình huống truyện độc đáo, diễn biến tâm lí được miêu tả tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị …

– Bà cụ Tứ là nhân vật điển hình về những người ông dân nghèo khổ. Song đây là người mẹ từng trải, hiểu biết, nhân hậu, bao dung, lạc quan.

– Nhân vật này góp phần vào việc thể hiện tình cảm nhân đạo của tác phẩm. Nhà văn đã giúp người đọc thấu hiểu: dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu con người vẫn giữ được phẩm chất đẹp đẽ và luôn hướng về ánh sáng, sự sống, không ngừng khao khát sống.

  1. VỢ NHẶT KIM LÂN SỞ GIÁO DỤC THANH HÓA

Câu 2: (4đ)

Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật bà cụ Tứ ( Vợ nhặt – Kim Lân ) và người đàn bà hàng chài ( Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu ).

1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là cây bút truyện ngắn tài hoa. Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. “Vợ nhặt” là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, được rút từ tập “Con chó xấu xí”. Truyện là bài ca về tình người, về lòng lạc quan và niềm khát sống mãnh liệt của những con người sống trong tận cùng của đói khổ.

– Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời kì đổi mới. Nếu ở giai đoạn kháng chiến chống Mĩ sáng tác của ông mang cảm hứng sử thi, lãng mạn thì từ những năm 80 của thế kỉ XX, ông chuyển dần sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường. “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu ở thời kì sau, viết về một lần giáp mặt của một người nghệ sĩ với đầy nghịch lý của một gia đình làng chài qua đó thể hiện nỗi lòng xót thương nỗi âu lo và những trăn trở đối với con người, đặc biệt là người đàn bà hàng chài.

– Nhân vật bà cụ Tứ ( Vợ nhặt – Kim Lân) và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) vừa có nhiều nét tương đồng vừa có sức hấp dẫn riêng.

2 Cảm nhận về các nhân vật:

a/ Nhân vật bà cụ Tứ:

* Một người mẹ nông dân nghèo khổ:

– Dáng hình : “lọng khọng”, “gầy gò”.

– Cảnh ngộ: bà lão nghèo khổ, già nua lại cô đơn vì chồng và con gái út đã chết, đứa con trai đã lớn tuổi nhưng vì nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư nên không lấy được vợ.

– Cuộc sống nghèo khó: căn nhà rúm ró trên mảnh vườn nhỏ, sống qua ngày bằng những bữa ăn khốn khó, khi thì lùm rau chuối thái rối, khi thì nồi cháo cám, không có nổi vài ba mâm cơm cúng tổ tiên khi có nàng dâu mới.

=> Cuộc đời bà cụ Tứ thật đáng thương: nghèo, góa bụa, hiền lành và thầm lặng.

* Vẻ đẹp ở tấm lòng nhân hậu, bao dung:

Dù người mẹ già ấy có thân phận, hoàn cảnh sống nghèo khó nhưng trong lòng vẫn luôn chan chứa tình yêu thương dành cho các con, có những ứng xử chân thành, đầy tình nghĩa đối với cả con trai và con dâu:

– Vượt qua những nghi lễ thông thường, bà cụ đồng ý cho người đàn bà xa lạ làm con dâu mình và còn thấy thương xót, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người đàn bà ấy.

– Bà nói chuyện với con dâu nhẹ nhàng, từ tốn, nhìn con dâu với tình cảm xít thương trào dâng: “Chúng mày lấy nhua lúc này u thương quá”.

-Bà vui mừng vì các con mình đx yên bề gia thất ” Các con…mừng lắm” …

* Vẻ đẹp ở tâm hồn giàu niềm tin và hi vọng:

Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con:

– Trong ý nghĩ: bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”

– Trong lời nói: Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này: ” Tràng ạ, khi nào…đàn gà cho mà xem”.

– Trong hành động:

+ Cùng con dâu thu dọn nhà cửa, quét dọn sân vườn cho sạch sẽ.

+ Nấu một nồi cháo cám bổ sung vào bữa ăn ngày đói như để ăn mừng nhân ngày con trai lấy được vợ.

* Vẻ đẹp ở nội tâm với những nét tâm lí chân thực, phong phú, giàu sức lay động:

– Khi ai oán xót xa (trách mình không làm tròn bổn phận người mẹ, không lo được cho con), khi buồn tủi lo lắng (hiện thực cuộc sống nghèo khổ), khi vui mừng phấn chấn rạng rỡ (nghĩ về tương lai)…

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Nhân vật được đặt trong tình huống truyện độc đáo, diễn biến tâm lí được miêu tả tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị …

b/ Nhân vật người đàn bà hàng chài:

* Người đàn bà với nỗi khổ sở chất chồng:

– Nghèo khó, lam lũ, cực nhọc: ngoại hình tiều tụy, gương mặt mệt mỏi…

– Là nạn nhân của tấn bi kịch gia đình: Những trận đòn chồng vô lí, cách chị nhẫn nhục chịu đựng, nỗi sợ hãi khi nhìn con đánh lại cha. Sau trận đòn, sau nỗi sợ lại theo gã đàn ông trở về con thuyền….

* Người mẹ có trái tim bao la, giàu tình thương và đức hi sinh:

– Rất mực yêu thương con: tận tâm bảo bọc, che chở, cố tránh cho con khỏi bị tổn thương…

– Chấp nhận chung sống vời người đàn ông vũ phu chứ quyết không chịu bỏ cũng vì muốn những đứa trẻ luôn có bố “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”

– Hạnh phúc bình dị là khi nhìn những đưa con được ăn no.

* Người đàn bà thấu hiểu lẽ đời, có tấm lòng bao dung, độ lượng:

– Chịu đựng tất cả những cơn giận vô cớ của người chồng: cam chịu, nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không chạy trốn, chỉ ôm lấy đứa con, van vỉ nó, ngăn cản sự phản kháng của nó…

– Hiểu được nguồn gốc cơn giận của chồng: “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh” -> cái nghèo đói, khốn khổ đã biến một người đàn ông hiền lành, chất phác xưa thành một người chồng nát rượu, vũ phu, độc ác.

– Chị hiểu lòng tốt của Đẩu và Phùng nhưng hơn ai hết chị hiểu nỗi cơ cực của cuộc sống lênh đênh trên biển, vì thể phụ nữ trên biển cần một người đàn ông để dựa.

– Chị lại nhận lỗi về mình “giá tôi đẻ ít đi…” -> sự dằn vặt, nỗi khổ về tinh thần của chị.

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Búp pháp điển hình hóa nhân vật, đặt nhân vật vào những tình huống độc đáo của cuộc sống.

So sánh:

* Giống nhau:

– Cả hai nhân vật đều có số phận bất hạnh, khổ đau, đều được đặt vào những tình huống éo le.

– Cả hai đều là người phụ nữ hết lòng yêu thương con, hi sinh tần tảo cả đời vì con.

– Họ đều là những người phụ nữ bao dung, thấu hiểu lẽ đời.

=> Họ tỏa sáng phẩm chất người phụ nữ Việt Nam mọi thời đại.

* Khác nhau:

– Nếu người đàn bà hàng chài là nạn nhân của bạo lực gia đình, là mảng tối, khuất lấp của thân phận, tính cách con người sau chiến tranh thì bà cụ Tứ là nạn nhân của nạn đói đầu năm 1945 do Nhật Pháp gây ra.

– Lí giải: do đặc điểm hoàn cảnh lịch sử, xã hội.

4 Đánh giá:

– Khẳng định vẻ đẹp của các nhân vật, từ đó thấy được tư tưởng nhân đạo của các tác giả.

  1. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH NGUYỄN THỊ LÝ TỰ TRỌNG QUẢNG NAM

Câu 2 ( 5 điểm )

Từ nhân vật Việt trong đoạn trích từ tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi (theo SGK Ngữ văn 12, tập 2), nêu suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc trong thời điểm hiện nay.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước, gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ.

– “Những đứa con trong gia đình” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, viết về một gia đình nông dân Nam Bộ giàu truyền thống yêu nước, căm thù giặc, gắn bó với đất nước và cách mạng.

– Truyện đã khắc họa thành công nhân vật Việt – một đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ, một tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam noi theo.

2.2 Phân tích nhân vật Việt:

– Là đứa con trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Nam Bộ.

– Việt có nét riêng dễ mến lộc ngộc, vô tư của cậu con trai mới lớn:

+ Phó mặc tất cả cho chị, ừ à khi nghe chị bàn việc nhà

+ Ngủ quên lúc nào không biết, đi bộ đội vẫn giữ chiếc ná thun, bị thương không sợ chết nhưng lại sợ ma…

+ Luôn tranh phần hơn chị

+ Cách thương chị cũng rất trẻ con: sợ mất chị trước những lời tán đùa của các anh

– Nhưng sự trẻ con vô tư vẫn không ngăn cản Việt trở thành một dũng sĩ giệt Mĩ. Ngược lại, chính nó càng làm cho phẩm chất anh hùng của Việt ngày thêm độc đáo. Thù nhà, nợ nước đã nuôi dưỡng Việt trở thành một chiến sĩ giải phóng gan góc, có ý chí chiến đấu dũng cảm, kiên cường :

+ Khi còn nhỏ dám xông thẳng vào đá thằng giặc vừa giết hại cha mình.

+ Khi chưa đủ tuổi tòng quân, Việt nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má.

+ Khi xung trân, Việt chiến đấu rất dũng cảm.

+ Khi bị thương, lạc đồng đội, Việt vẫn trong tư thế chờ tiêu diệt giặc.

– Việt là người rất giàu tình cảm, gắn bó với gia đình : hình ảnh những người thân trong gia đình lúc nào cũng ở trong tâm trí. Trong hoàn cảnh bi đát nhất, Việt luôn nghĩ về người thân để tìm điểm tựa cho tâm hồn, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để anh vượt qua khó khăn trở ngại.

– Với nghệ thuật trần thuật độc đáo, đặc biệt là để cho nhân vật tự bộc lộ mình bằng ngôn ngữ nửa trực tiếp, Nguyễn Thi đã xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét tâm lí chân thực, với những hành động, suy nghĩ, lời nói không chỉ mang tính cá biệt, sinh động mà còn thể hiên những nét chung của “những người con trong gia đình” yêu nước, căm thù giặc và bất khuất kiên cường trong chiến đấu. Đó là cũng là nhân vật tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

3 Trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc trong thời điểm hiện nay:

– Chúng ta đã giành được độc lập hơn 40 năm nay nhưng chủ quyền của dân tộc hiện nay vẫn bị đe dọa, nhất là trên khu vực biển Đông.

– Mỗi công dân Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng cần nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc.

– Liên hệ bản thân:

+ Ra sức học tập, rèn luyện cả về thể chất, tinh thần, ý chí để xây dựng đất nước vững mạnh.

+ Nâng cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch.

+ Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc gọi tên.

  1. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN LỤC NGẠN BẮC GIANG

Câu 2: (NGHỊ LUẬN VĂN HỌC – 4đ)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) “ Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây tời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuốn cuận mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mưa mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng sông xanh màu ngọc bích , chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gấm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về » (…)

 (Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập 1 NXB GD,2009 )

(…) “ Từ Tuấn về đây sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Tràn để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sũng như thành quách với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm mịn như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi.

Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố; “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)

(Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phú Ngọc, Ngữ Văn 12 Tập 1 NXB GD,2009)

2 Nghị luận văn học

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, một phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật nhất là sự tài hoa uyên bác. Ông có sở trường ở thể tùy bút. “Người lái đò sông Đà” là một tùy bút đặc sắc kết tinh nhiều mặt phong cách Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp và tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành tựu về thể kí. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tùy bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông Hương với bề dày lịch sử văn hóa Huế, rất tiêu biểu cho phong cách ông.

2.2 Cảm nhận 2 đoạn trích:

a/ Đoạn 1:

– Nội dung:

+ Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp đầy chất tạo hình của sông Đà với hình dáng thơ mộng , đường nét mềm mại, ẩn hiện màu sắc dòng nước ẩn hiện, biến đổi tương phản theo mùa, gây ấn tượng mạnh. Sông Đà có lúc thơ mộng, êm đềm. Sau mùa lũ, cái mùa mà nước sông đục ngầu, sẽ đến mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích quý phái chứ không xanh “màu xanh canh hến” của sông Gâm , sông Lô. Bằng thực tế quan sát, nhà văn bác bỏ tên gọi của người Pháp áp đặt cho sông Đà là “dòng sông Đen”. Với nhà văn, dù thế nào đi nữa, dù sông Đà có dễ thay đổi tính nết, dòng sông này vẫn luôn gợi cảm, là cố nhân đối với ông.

+ Hiện diện trong đoạn văn là một cái tôi Nguyễn Tuân đắm say, nồng nhiệt, tinh tế độc đáo trong tiếp cận cảnh sắc thiên nhiên , tinh tế và độc đáo trong cảm nhận cái đẹp.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh, ngôn từ mới lạ, câu văn căng tràn, trùng điệp mà vẫn nhịp nhàng về âm thanh và nhịp điệu.

+ Cách so sánh, nhân hóa, lối tạo hình giàu tính mĩ thuật , phối hợp với nhiều góc nhìn theo kiểu điện ảnh, táo bạo mà kì thú.

b/ Đoạn 2:

– Nội dung:

+ Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp sông Hương theo thủy trình của nó, với những vẻ đẹp uyển chuyển, linh hoạt của dòng chảy. Vẻ biến ảo của màu sắc, vẻ uy nghi trầm mặc của cảnh quan. Dòng sông mềm mại, uốn lượn thơ mộng, như một tấm lụa . Mảng màu sắc đa dạng phong phú của con sông Đà tạo nên vẻ đẹp huyền bí của con sông.

+ Toát lên tình yêu quê hương xứ sở sâu nặng , đằm thắm, một cách cảm nhận bình dị , tinh tế của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh chân thực và gợi cảm, câu văn kéo dài mà khúc chiết, thanh điệu hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng.

+ Lối so sánh gần gũi, xác thực, tài hoa, sử dụng nhuần nhuyễn các địa danh và cách nói của người Huế.

2.3 So sánh:

Sự tương đồng:

+ Cùng miêu tả vẻ đẹp phong phú và biến ảo của dòng nước.

+ Cùng bộc lộ tình yêu mãnh liệt với thiên nhiên xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào, cùng bao quát sông nước trên nền tảng khoáng đạt, cảm nhận sự thơ mộng và vẻ huyền ảo của dòng sông.

+ Cùng được viết bằng một thứ văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu.

Sự khác biệt:

+ Đoạn văn của Nguyễn Tuân trội về cảm xúc nồng nàn, cảm giác sắc cạnh, liên tưởng phóng túng tự do, so sánh táo bạo, cảnh sắc được bao quát từ nhiều góc nhìn khác nhau, theo nhiều mùa trong năm.

+ Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường trội về cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với suy tư , cảnh sắc được bao quát từ một góc nhìn mà nương theo thủy trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước qua từng chặng, từng buổi.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN LƯƠNG ĐẮC BẰNG THANH HÓA

Câu 2: (4,0 điểm)

“Vợ nhặt” – câu chuyện bi đát về tình cảnh túng quẫn trong nạn đói hay câu chuyện về niềm tin, niềm lạc quan vượt lên cái đói, cái chết để được sống và hạnh phúc?

 Bằng những hiểu biết về truyện ngắn “Vợ nhặt”. hãy bày tỏ suy nghĩ của anh/chị?

2 “Vợ nhặt” – câu chuyện bi đát về tình cảnh túng quẫn trong nạn đói hay câu chuyện về niềm tin, niềm lạc quan vượt lên cái đói, cái chết để được sống và hạnh phúc?

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Đây là truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo.

– Trích dẫn ý kiến.

Phân tích:

a/ Tác phẩm là câu chuyện bi đát về tình cảnh túng quẫn trong nạn đói:

– Cái đói hiện hình ở khắp mọi nơi, người ta cảm nhận được nó bằng hình ảnh, âm thanh, mùi vị:

+ Hình ảnh: bóng người xanh xám như bóng ma, lũ trẻ ngồi ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích.

+ Âm thanh: tiếng quạ kêu cứ gào lên từng hồi thê thiết, càng khiến bức tranh ngày đói trở nên ảm đạm.

+ Bao trùm lên tất cả là mùi thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

=> Tất cả gợi lên bầu không khí chết choc của cõi âm, cõi địa ngục.

– Cái đói lan tràn đến từng gia đình, đe dọa từng sinh mạng khiến miếng ăn trở thành vấn đề cấp thiết. Cái đói làm cho giá trị con người trở nên rẻ rúng đến thảm hại. Nó biến người phụ nữ trở nên trơ trẽn và liều lĩnh dám theo không người đàn ông lạ. Tràng “nhặt” được vợ như nhặt bất cứ cái rơm cọng rác nào ngoài đường chỉ bằng một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Họ đến với nhau thành vợ chồng trong câu chuyện bi đát, không định trước là nạn đói chứ không phải do tình yêu, do mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau. Họ đến với nhau chỉ để nương tựa vào nhau, chống chọi cơn bão của nạn đói khủng khiếp.

– Cái đói trong gia đình Tràng: không có nổi mâm cơm cúng tổ tiên, mời hàng xóm; đêm tân hôn diễn ra trong tiếng khóc tỉ tê nhà hàng xóm; bữa ăn đón dâu mới chỉ có một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo cám.

=> Nhà văn Kim Lân đã phản ánh chân thực tình trạng khốn cùng của người nông dân trong nạn đói năm 1945; qua đó, tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật đẩy nhân dân ta vào tình cảnh khốn cùng.

b/ Nhưng đằng sau đó vẫn là câu chuyện về niềm tin, niềm lạc quan vượt lên cái đói, cái chết để được sống và hạnh phúc:

Theo lời nhà văn Kim Lân : “Khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta khổ cực và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng với ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống, vẫn hi vọng ở tương lai , vẫn muốn sống, sống cho ra người”. Điều đó thể hiện rõ nét qua diễn biến tâm trạng của các nhân vật.

* Nhân vật Tràng:

– Là dân nghèo, xóm ngụ cư, đói và xấu khiến anh không lấy được vợ. Thế mà bỗng chốc lại có người theo không về. Lúc đầu cũng “chợn” nghĩ nhưng sau thì “chậc, kệ!”, đó chính là khát vọng hạnh phúc vẫn âm ỉ trong con người bất hạnh này.

– Mua cho vợ cái thúng con, hai hào dầu để thắp sáng=> thể hiện sự trân trọng, đồng cảm với người vợ mới.

– Gặp mẹ, niềm hạnh phúc dâng trào, giới thiệu với mẹ về con dâu, niềm khao khát hạnh phúc biến anh chàng vụng về có những cảm xúc hết sức tinh tế.

– Sáng hôm sau, anh thấy êm ái, lửng lơ như đi từ giấc mơ đi ra, những cảnh vật ngày nào cũng thấy bỗng trở nên thân thiết lạ và thấm thía cảm động. Anh cũng có thêm ý thức trách nhiệm lo cho gia đình.

– Trong bữa cơm ngày đói, giữa miếng cháo cám đắng chát nghẹn bứ ở cổ, Tràng nghĩ đến hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc trên đê Sộp.

=> Dù bị đẩy đến hoàn cảnh tận cùng, Tràng vẫn khao khát hướng tới tương lai, khao khát hạnh phúc.

* Nhân vật bà cụ Tứ:

– Ngỡ ngàng khi có nàng dâu mới, song ngay lập tức, bà hiểu ra cơ sự và chấp nhận, mừng cho mối duyên của các con mình: “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”, “chúng mày đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”.

– An ủi, động viên các con, vun vén cho đôi trẻ, hướng các con vào tương lai tươi sáng: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời, ” này Tràng ạ…. chả mấy chốc mà có cả đàn gà cho mà xem”.

– Buổi sáng hôm sau, ba dậy sớm, cùng con dâu dọn dẹp cửa nhà cho sạch sẽ, khang trang; cùng các con quây quần bên bữa sáng nghèo nàn, ảm đạm, háo hức khoe nồi “chè khoán” mặn chát…

=> Đó là một người mẹ thấu hiểu lẽ đời, giàu tình yêu thương, lòng bao dung và lạc quan trong cuộc sống.

– Nhân vật Thị – người vợ nhặt:

+ Thị là nạn nhân của cái đói. Cái đói làm thị xấu đi cả về nhân hình và nhân tính (dẫn chứng: khi gặp Tràng, ăn bánh đúc), chấp nhận liều lĩnh về làm vợ một người còn chưa biết gì về anh ta -> Hành động chạy trốn cái đói, đồng thời đi tìm sự sống, đi tìm hạnh phúc cho mình.

+ Khi đứng trước ngôi nhà rúm ró của mẹ con Tràng, thị “nén tiếng thở dài” chấp nhận hiện thực, nương nhờ vào nhau để tìm kiếm hạnh phúc. Lúc này, thị lại trở nên hiền lành, e thẹn, nữ tính.

+ Ngày hôm sau, thị dậy sớm dọn dẹp cửa nhà, kể chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho người nghèo,… ->khao khát hạnh phúc kín đáo.

=> Tóm lại, Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt là những con người dù bị đẩy xuống đáy cùng của cuộc sống thì vẫn giữ được những phẩm chất rất “người”, vẫn khao khát hạnh phúc, biết yêu thương, sẻ chia và không ngừng hi vọng vào ngày mai tươi sáng.

* Kết thúc tác phẩm, hình ảnh “ lá cờ đỏ bay phấp phới”… như dự báo một tương lai lạc quan hơn: cách mạng về, cuộc sống mới sẽ mở ra; những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình.

c/ Nghệ thuật truyện:

– Xây dựng tình huống éo le, bất ngờ, cảm động.

– Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.

– Ngôn ngữ giản dị.

Đánh giá chung:

– Ý kiến trên đã khái quát rất đúng, toàn diện, sâu sắc về giá trị tác phẩm: cả giá trị hiện thực và nhân đạo .

– Khẳng định sức hấp dẫn của ngòi bút Kim Lân và tấm lòng yêu thương, trân trọng con người sâu sắc của nhà văn.

  1. SÓNG XUÂN QUỲNH LÝ THƯỜNG KIỆT YÊN BÁI

Câu 2. (4,0 đim)

Kết thúc bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, nhân vật trữ tình khao khát:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

 Để ngàn năm còn vỗ

 Trên cơ sở phân tích những điều đã được bộc bạch trong bài thơ, anh/ chị hãy làm sáng tỏ cội nguồn của niềm khát khao đó.

Về bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

2.1 Giới thiệu chung:

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), lúc đó Xuân Quỳnh mới 25 tuổi trẻ trung, yêu đời. Đây là một bài thơ đặc sắc, viết rất hay về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.

– Khổ cuối của bài là khát vọng lớn lao được dâng hiến hết mình cho tình yêu.

2.2 Phân tích cụ thể các vấn đề:

Trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình, tình yêu làm nên giá trị cuộc đời; tình yêu tạo nên những cung bậc phong phú của mỗi đời người: Dữ dội và dịu êm, Ồn ào và lặng lẽ. Nhờ tình yêu, con người có khát vọng tìm ra biển lớn , có ý thức xác định cái riêng giữa cái chung: Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể…

– Nhờ tình yêu, trái tim tuổi trẻ ý thức được mình đang tồn tại, đang không ngừng “bồi hồi” “nghĩ” “nhớ” (Bồi hồi trong ngực trẻ; Em nghĩ về anh, em; Lòng em nhớ đến anh). Có tình yêu là có thắc mắc (Từ nơi nào sóng lên); có tình yêu con người trở nên mạnh mẽ, vượt lên mọi thách thức (Con nào chẳng tới bờ, Dù muôn vời cách trở)

– Tình yêu cũng làm cho nhân vật ý thức đuợc sự hữu hạn của đời người (Cuộc đời tuy dài thế, Năm tháng vẫn qua đi), chính tình yêu đã đem lại cho con người sự nhạy cảm khác thường, cảm nhận được về lẽ tồn tại trong không gian và thời gian…

– Tình yêu làm cho cuộc đời của mỗi con người trở nên đáng sống, nhưng quỹ thời gian của mỗi người không phải là vô tận. Tình yêu tuy gắn với mỗi đời người cụ thể nhưng tình yêu còn là một giá trị vĩnh hằng. Do đó, mỗi người cần phải làm gì để sống mãi với tình yêu? Đây chính là cội nguồn của khát vọng: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Khát vọng được tan thành trăm con sóng nhỏ chỉ là cách nói thể hiện ước muốn được dâng hiến cuộc đời cho tình yêu. Với một tình yêu bất tử, sự tồn tại mong manh của mỗi đời người không còn đáng sợ.

3 Đánh giá chung:

– Sóng được viết ra từ những xao động yêu đương của một trái tim tuổi trẻ. Đối diện với muôn ngàn con sóng thật của đại dương, con sóng lòng vỗ lên bao tâm trạng, dự cảm , lo âu và trên hết là khát vọng để Sóng trở thành một ẩn dụ đẹp về tình yêu.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG – LÝ THƯỜNG KIỆT BÌNH THUẬN LẦN 2

Câu 2 ( 4,0 điểm )

 Trình bày cảm nhận của anh ( chị) về đoạn thơ sau:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

( Trích Tây Tiến – Quang Dũng)

2 Cảm nhận về một đoạn trong bài thơ “Tây Tiến”.

2.1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là hồn thơ lãng mạn, hào hoa, yêu tha thiết quê hương đất nước. Tác giả có khuynh hướng khai thác vẻ đẹp bi tráng, hào hùng.

– “Tây Tiến” được viết tại làng Phù Lưu Chanh vào năm 1948, được coi là “đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa” của nền thơ ca kháng chiến chống Pháp.

– Đoạn thơ là khổ 4 của bài, đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến: hào hùng và hào hoa.

2.2 Trình bày cảm nhận:

a Bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc họa qua các khía cạnh:

– Ngoại hình của người lính Tây Tiến khắc họa bằng nét vẽ chân dung rất gân guốc, lạ hóa “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp. Gợi sự khắc nghiệt của đời sống chiến trường. Hiện thực được khúc xạ qua bút pháp lãng mạn của Quang Dũng.

– Họ có sức mạnh phi thường: Tương phản giữa ngoại hình và nội tâm ý chí. “Dữ oai hùm”: dữ dằn oai phong như hổ- ẩn dụ nói về khí phách mạnh mẽ của đoàn quân. “Mắt trừng”: cực tả cái phẫn nộ sục sôi của nội tâm hướng về nhiệm vụ chiến đấu. Đoàn quân Tây Tiến có sức mạnh bên trong khiến quân thù khiếp sợ.

– Vẻ đẹp hào hoa: Bên cạnh cái gian khổ vẫn có một khoảng trời tâm tưởng đi về trong mộng ước của người lính. “Mộng qua biên giới”: Mộng tiêu diệt kẻ thù. “Dáng kiều thơm” trở thành động lực giúp người lính vượt qua khó khăn gian khổ, cũng là niềm tin giúp họ vượt qua bom đạn để trở về.

– Vẻ đẹp lí tưởng, khát vọng: “Đời xanh” cách nói ẩn dụ, tuổi trẻ bao ước mơ khát vọng còn đang ở phía trước nhưng có gì quý giá hơn Tổ quốc thân yêu. Vượt lên trên tất cả là khát vọng được ra đi, được xả thân dâng hiến cho Tổ quốc.

– Sự hi sinh cao cả:

+ Tái hiện thực khốc liệt của đời sống chiến trường. Từ láy “ rải rác” gợi cảm giác rất nhiều người lính đã ngã xuống. Những từ Hán Việt biên cương, viễn xứ” trang trọng cổ kính gợi cảm giác thiêng liêng và tấm lòng trân trọng của nhà thơ trước sự ra đi của đồng đội.

+ Hình ảnh “áo bào thay chiếu”: Là cách nói sang trọng hóa sự hi sinh của người lính. “Về đất” là cách nói tránh về sự hi sinh. Sự hi sinh đó đã thấu động đất trời “ Sông Mã…”

b Nghệ thuật:

– Bút pháp hiện thực hài hoà với cảm hứng lãng mạn, nhiều biện pháp tu từ đặc sắc: tả thực, đối lập, ẩn dụ làm nổi bật chân dung người lính Tây Tiến vừa lẫm liệt oai hùng vừa lãng mạn, hào hoa.

2.3 Đánh giá chung:

– Đây là đoạn thơ hay nhất, tiêu biểu nhất trong toàn bài, khắc họa chân thực, sinh động hình tượng người lính Tây Tiến.

– Khẳng định sức hấp dẫn của bài thơ.

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU MỸ ĐỨC HÀ NỘI

Câu 2. (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ sau trong bài “ Việt Bắc” – Tố Hữu:

“ Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ sau trong bài “ Việt Bắc” – Tố Hữu:

1 Giới thiệu chung

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức.. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Nổi bật trong đoạn trích là những câu thơ khắc họa bức tranh tứ bình của núi rừng Việt Bắc – một bức tranh thiên nhiên phong phú, rực rỡ, tươi thắm tượng trưng cho vẻ đẹp của bốn mùa, gắn liền với hình ảnh con người lao động bình dị mà cao đẹp (Trích dẫn đoạn thơ).

2 Trình bày cảm nhận:

Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ tha thiết của tác giả về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc.

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

Câu hỏi tu từ với cách xưng hô “mình – ta” ngọt ngào là lời ướm hỏi, cách tạo cớ để giãi bày nỗi nhớ rất khéo léo. Người về nhớ “hoa cùng người”, nhớ về những gì đẹp nhất của núi rừng Việt Bắc. “Hoa” là hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Tương xứng với hoa là vẻ đẹp con người Việt Bắc – hoa của đất. Cách nói của nhà thơ thật tế nhị và duyên dáng.

a Vẻ đẹp của thiên nhiên:

Bức tranh tứ bình – bốn mùa của núi rừng Việt Bắc. Bằng bút pháp hội họa tài hoa, tác giả làm bật lên vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng VB bốn mùa Xuân – Hạ – thu –Đông. Cảnh vật sinh động, tươi tắn sắc màu:

* Bức tranh mùa đông:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Mùa đông xuất hiện bằng màu sắc – màu xanh bạt ngàn, mênh mông trải khắp rừng già tạo cho thiên nhiên Việt Bắc một vẻ thâm u, trầm mặc. Màu xanh ấy như làm tăng thêm cái rét buốt của rừng đông. Bằng bút pháp chấm phá, trên cái nền màu lạnh ấy, Tố Hữu đã điểm thêm một gam màu nóng của “hoa chuối đỏ tươi” khiến cảnh rừng Việt Bắc trở nên ấp áp, tươi sáng hơn. Thấp thoáng đây đó là những đốm nắng vàng nhạt, chỉ đủ sức ánh lên ở lưỡi dao đi rừng của người Việt Bắc

=> Cảnh có sự hòa sắc tuyệt đẹp.

* Bức tranh mùa xuân:

“Ngày xuân mơ nở trăng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Mùa xuân tràn ngập màu trắng của hoa mơ gợi sự dịu dàng, tinh khiết, thanh cao và đầy chất thơ của tạo vật. Hai tiếng “trắng rừng” như làm cho khắp núi rừng bừng sang hẳn lên. Đây là hình ảnh giàu tính hiện thực nhưng thấp thoáng ý nghĩa tượng trưng : nó như gợi lên nét đẹp trong sáng trong tâm hồn của con người Việt Bắc. Có thể nói, màu trắng của hoa mơ là màu sắc đặc trưng của núi rừng nơi đây.

* Bức tranh mùa hè:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

 Hiện lên trong nỗi nhớ người đi không chỉ có màu sắc, đường nét, ánh sáng mà còn có cả âm thanh ngân vang của tiếng ve: “ve kêu rừng phách…” . Ve kêu gọi hè, hè về là rừng phách chuyển màu .Sống ở Việt Bắc, con người thường hay có cảm xúc bâng khuâng trước những hình ảnh kỳ lạ của rừng phách : trong những ngày cuối xuân, nụ hoa vẫn náu kín trong những kẽ lá. Khi tiếng ve cất lên thì chúng nhất loạt trổ hoa vàng. Cách dùng từ “đổ” thật tinh tế, nhấn mạnh sự mau lẹ đột ngột của quá trình chuyển đổi của cây lá, nó diễn tả sức mạnh của những trận mưa hoa vàng khi gió thổi, ve kêu gọi mùa.

* Bức tranh mùa thu:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

 Đêm thu có ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành khung cảnh huyền ảo. Cảnh tượng này thích hợp với việc bộc lộ tâm tư thầm kín dành cho thời điểm kết thúc những cuộc hát giao duyên . Câu thơ gợi không gian thanh bình, yên ả, báo hiệu sự bắt đầu cuộc sống yên vui. Câu thơ cũng gợi sự hoà hợp giữa thiên nhiên ( rừng thu) với vũ trụ ( trăng) với cuộc sống thanh bình yên vui trong sự hoà hợp của những tấm lòng nhân ái giữa người đi và người ở lại.

b Vẻ đẹp của con người:

Bức tứ bình về vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn con người

– Đó là những con người khỏe khoắn, tự tin, làm chủ thiên nhiên, núi rừng.

– Con người khéo léo cần mẫn trong công việc.

– Con người chịu thương, chịu khó, nhưng cũng rất duyên dáng dịu dàng

– Con người ân tình và rất mực thủy chung.

=> Nỗi nhớ đằm sâu nhất, gốc rễ của mọi nỗi nhớ là vẻ đẹp con người Việt Bắc.

c Nghệ thuật:

– Bút pháp tả cảnh (giàu chất hội họa, sự phối hợp hài hòa từ đường nét, màu sắc, ánh sáng…) tả người độc đáo tài hoa (con người hiện lên với vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn). Không sử dụng bút pháp ước lệ, tác giả sử dụng bút pháp tả thực đem đến một cảm nhận thực, cảm xúc thực cho người đọc. Sự đan xen giữa cảnh và người khiến bức tranh sinh động, ấm áp, hài hòa.

– Âm hưởng chung của đoạn thơ là nỗi nhớ nhung tha thiết: Điệp từ “nhớ”

– Nhịp thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, êm đềm như khúc hát dân ca. Đoạn thơ giàu tính tạo hình, giàu âm hưởng, cấu trúc hài hòa, cân đối, đậm chất trữ tình

=> Góp phần thể hiện tấm lòng, tình cảm gắn bó, mến yêu của người cán bộ kháng chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc.

3 Đánh giá:

– Đoạn trích là bốn bức họa bằng thơ rất tài tình của Tố Hữu. Cảnh và người hòa quyện, đan xen khiến bức tranh nào cũng thật sinh động, ấm áp.

Đoạn thơ vừa đậm chất dân tộc [thể thơ, giọng tâm tình, tha thiết] vừa mang đậm vẻ đẹp, hơi thở của thời đại [hình ảnh thơ, tình cảm cách mạng trong thơ]. Nghệ thuật điệp – láy đi láy lại từ “nhớ” cùng các câu hỏi tu từ liên tiếp, dồn dập đã diễn tả thành công tình cảm tha thiết, sâu nặng của người về.

– Qua đoạn thơ, ta thấy rõ đặc điểm thơ và vẻ đẹp hồn thơ Tố Hữu, kết tinh trong tình cảm lớn, lẽ sống lớn: tình cảm cách mạng, lẽ sống thủy chung với cách mạng.

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN SỞ GIÁO DỤC NAM ĐỊNH

Câu 2(4đ)

Về truyện ngắn Vợ nhặt của Kim lân, đã có nhận xét: “Dù cuộc sống có bi thảm đến đâu thì con người vẫn giàu yêu thương, khao khát hành phúc và hi vọng vào tương lai.”

Bằng hiểu biết về truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015), anh/chị hãy chia sẻ ý kiến về nhận xét trên.

2 Nghị luận văn học

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân – người “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn”. Có ý kiến cho rằng nếu chọn ra 10 cây bút tiêu biểu nhất của văn học hiện đại Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám thì không có ông nhưng nếu chọn ra 10 truyện ngắn hay nhất thì Kim Lân có đến 2 tác phẩm là “Làng” và “Vợ nhặt”. Trong đó, “Vợ nhặt” là một câu chuyện đầy ám ảnh.

“Vợ nhặt” là tác phẩm thể hiện đậm nét tình người và khát vọng sống mãnh liệt của con người trong những năm đói kém, bần cùng nhất của xã hội Việt Nam.

– Vấn đề cần nghị luận: Tác phẩm làm nổi bật nhận định “Dù cuộc sống có bi thảm đến đâu thì con người vẫn giàu yêu thương, khao khát hành phúc và hi vọng vào tương lai.”

2.2 Giải thích ý kiến:

– Ý kiến nêu ra bối cảnh của câu chuyện: con người bị đẩy vào cuộc sống bi thảm, bế tắc – > khẳng định giá trị hiện thực của tác phẩm.

– “Con người vẫn giàu yêu thương, khao khát hành phúc và hi vọng vào tương lai” -> một thông điệp sống tích cực, một biểu hiện đẹp đẽ của giá trị nhân đạo.

=> Truyện có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

2.3 Phân tích, chứng minh:

  1. Bức tranh cuộc sống bi thảm:

– Cái bi thảm toát ra ngay từ nhan đề tác phẩm. Nhan đề lạ đã nói lên đầy đủ cảnh ngộ, số phận của nhân vật.

– Cái đói, cái chết bủa vây. Bức tranh hiện thực với màu sắc ảm đạm và hình ảnh thê lương hiện lên là một ám ảnh với người đọc.

+ Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ.

+ Người chết như ngả rạ

+ Không buổi sáng nào đi chợ, đi ra đồng không gặp vài ba cái thây nằm còng queo bên đường.

+ Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

– Tràng, người dân ngụ cư, nghèo khổ, lại xấu xí: hai con mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh ra, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cai lưng to rộng như lưng gấu…=> Không lấy được vợ. Trong nạn đói, lại càng không thể lấy vợ.

=> Bức tranh về xóm ngụ cư nghèo trong nạn đói đã khắc họa một cuộc sống thê lương, đau khổ của người dân. Cái đói, cái chết bủa vây, rình rập khắp nơi. Cuộc sống vì thế trở nên rất mong manh. Và thực tế trong lịch sử, nạn đói ấy làm dân ta chết hơn hai triệu người. Hậu quả tàn khốc! –

-> Khắc họa một cuộc sống bi thương như thế, tác giả tố cáo mạnh mẽ Thực dân Pháp, phát xít Nhật đẩy dân ta vào tình cảnh khốn cùng.

  1. Con người vẫn giàu lòng yêu thương, khao khát hạnh phúc và hi vọng vào tương lai:

* Con người giàu lòng yêu thương:

– Lời hát trêu đùa của anh cu Tràng thể hiện khát khao được yêu thương, được có một người vợ chia ngọt sẻ bùi.

– Qua một lời bông đùa mà Tràng có người theo về làm vợ. Thoáng trong một chốc anh đã lo lắng, nhưng sau thì hắn tặc lưỡi một cái “Chậc. Kệ!”. Đó không phải cái tặc lưỡi cho qua mà là một thái dộ chấp nhận, chấp nhận cùng Thị vun vén cho hạnh phúc, cùng yêu thương để vượt qua tao đoạn này.

– Lẽ thường người ta sẽ không trân trọng những gì dễ đạt được, như anh cu Tràng chỉ cần bốn cái bánh đúc đã đủ sính lễ rước nàng về dinh. Anh ta hoàn toàn có quyền khinh miệt người đàn bà ấy, nhưng ngược lại, anh rất quan tâm: mua cho Thị một cái thúng con, quan tâm tới từng cảm nhận của chị trên quãng đường về…

– Bà cụ Tứ “Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Mừng lòng” khác “vui lòng”. Trong hai chữ ấy nói lên tất cả hạnh phúc của người mẹ với con mình và cho cả đứa con dâu.

=> Trong đau khổ, đói khát, người ta không bỏ mặc nhau mà dựa vào nhau, nương tựa cùng nhau vượt qua.

* Khát khao hạnh phúc:

– Hạnh phúc là khái niệm trừu tượng, mỗi người có một cảm nhận khác nhau. Với những người nghèo trong nạn đói, hạnh phúc dường như ngoài tầm tay với nhưng họ luôn khát khao hạnh phúc.

– Thể hiện qua hình ảnh Thị: không phải là người đàn bà chao chát, chỏng lỏn mà người phụ nữ ấy vẫn đầy đủ phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam. Thị hi vọng một cuộc sống hạnh phúc khi về cùng Tràng. Nhìn thấy khung cảnh ngôi nhà, Thị nén một tiếng thở dài. Tiếng thở dài ấy giấu đi để chấp nhận cùng anh chồng mới gây dựng hạnh phúc. Dẫu sao thì có vợ co chồng vẫn hơn bơ vơ nơi đầu đường xó chợ. Chị vun vén cho hạnh phúc: sáng hôm sau dậy múc nước, quét sân. Cuộc sống gia đình chỉ cần như vậy đã đủ bình yên.

– Qua nhân vật Tràng: Buổi sáng sau đầu tiên sau khi có vợ, khát khao về một mái nhà hạnh phúc càng mãnh liệt trong Tràng: “Tràng bỗng thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lung. Hắn sẽ có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng.

– Qua nhân vật bà cụ Tứ: bà cũng dậy sớm cùng con dâu dọn dẹp nhà cửa, nấu bữa ăn sáng đong đầy niềm vui và tình yêu thương.

* Niềm tin vào tương lai:

– Bà cụ Tứ toàn nói chuyện tương lai. “Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng thì tiện quá. Này ngoảng đi ngoảnh lại chả có ngay đàn gà cho mà xem. Tin rằng ai giàu ba họ, ai khó ba đời…

=> Niềm tin cho con người sức mạnh, sức mạnh để bám víu vào cuộc đời vẫn đang đầy đói khát khổ đau này, đê hướng tới tương lai tươi sáng hơn.

– Tương lai đó là ánh sáng cách mạng khi Tràng chợt thấy hình ảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp, đằng trước là lá cờ đỏ. “Sự sống nảy mầm từ cái chết. Hạnh phúc nảy mầm từ những gian khổ, hi sinh. Trên đời không có con đường cùng, chỉ có những ranh giớii, điều quan trọng là ta có biết vượt qua những ranh giới đó không?” (Nguyễn Khải). Câu chuyện làm ánh lên những hi vọng chứa chan, thể hiện tình cảm yêu thương, trân trọng của tác giả dành cho con người.

=> Tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc.

2.4 Tổng kết:

– Ý kiên trên hoàn toàn đúng đắn, đã khái quát được toàn bộ giá trị của tác phẩm.

– Qua đó ta thấy ở nhà văn Kim Lân tình yêu thương, trân trọng con người sâu sắc; tài năng xây dựng tình huống đặc sắc, cảm động.

– Rút ra bài học về cách nhìn nhận và vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG -NÔNG CÔNG THANH HÓA LẦN 1

Câu 2( 4.0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) chính là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Anh/ chị hãy làm rõ nhận định trên.

I Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

– Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài, trong đó nổi bật nhất là thơ ca. Ông được đánh giá là một người tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam. Thơ ông có sự hòa quyện giữa cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Tây Tiến là một bài thơ như thế.

– Nhận xét về bài thơ Tây Tiến có ý kiến cho rằng: Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ Tây chính là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

II Phân tích: 1 Cảm hứng lãng mạn:

1.1 Giải thích:

– Là những cảm xúc mãnh liệt có xu hướng vươn tới vẻ đẹp phi thường. những tác phẩm thể hiện cảm hứng lãng mạn thường sử dụng bút pháp lãng mạn cùng với thủ pháp tương phản, xây dựng những hình tượng phi thường thể hiện trí tưởng tượng phong phú, bay bổng của người nghệ sĩ.

1.2 Biểu hiện:

a Nội dung

– Xuyên suốt cả bài thơ là nỗi nhớ tha thiết khắc khoải của tác giả, một nỗi nhớ dâng trào, tha thiết cho nên cảm xúc đã bùng thổi từ những câu đầu; nỗi nhớ của nhà thơ nhiều khi thổn thức; có lúc nhà thơ phân thân tự hỏi bản thân, hỏi vào nỗi nhớ khắc khoải trong tâm can: “Có nhớ…hoa đong đưa”; đến 4 câu cuối bài, nỗi nhớ đã vượt khỏi không gian.

– Nỗi nhớ của nhà thơ hướng đến nhiều đối tượng, cảnh sắc thiên nhiên, con người Tây Bắc dọc đường hành quân can trường và hào hoa. Nỗi nhớ ấy dâng trào, tràn đầy bài thơ vì thế kỷ niệm hiện lên rất sống động, tươi nguyên như vừa mới xảy ra.

– Cảm xúc lãng mạn còn thể hiện trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, hữu tình

=> Với một hồn thơ lãng mạn, Quang Dũng rất nhạy cảm với phương xa xứ lạ. bài thơ đã vẽ ra một bức tranh núi rừng Tây Bắc xa xôi với những cảnh tượng khó quên, khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc.

– Cảm hứng lãng mạn còn được đẩy cao hơn qua hình tượng người lính kiêu dũng, ngang tàn, đặc biệt là hào hoa, lãng mạn:

+ Say mê cái đẹp thiên nhiên

+ Giấc mơ tình yêu

+ Khát vọng lập công cao cả

+ Tư thế hi sinh trang trọng, mãnh liệt.

b Nghệ thuật:

Sử dụng bút pháp lãng mạn trong đó phát huy chất lãng mạn ở nhiều cấp độ: hình ảnh, thanh điệu bằng trắc giữa ngoại hình và ý chí, giữa hiện thực và tâm hồn. Cùng với thủ pháp phóng đại, tác giả xây dựng những hình tượng mạnh, dữ dội.

2 Tinh thần bi tráng:

2.1 Khái niệm:

Một tác phẩm có tinh thần bi tráng đề cập đến những mất mát đau khổ, gian khổ nhưng không gợi cho người đọc cảm giác bi quan. Cảm xúc, hình tượng trong tác phẩm khỏe khoắn, mạnh mẽ, khơi gợi cho người đọc đến niềm tin, khát vọng về cuộc sống

2.2 Biểu hiện:

– Tác phẩm khắc họa chặng đường gian nan để từ đó tô đậm tư thế ngang tàn, dũng cảm của người lính.

– Người lính phải đối diện với bệnh tật, thiếu thốn song vẫn toát ra vẻ đẹp can trường, gan góc.

– Tác giả không né tránh mất mát, hi sinh khơi gợi ở người đọc niềm xót xa, thương cảm nhưng điều đáng nói là nhà thơ không gợi cho người đọc cảm giác bi lụy mà vẫn ngưỡng mộ, đầy tự hào.

III Đánh giá:

– Cảm hững lãng mạn và tinh thần bi tráng hòa quyện, xuyên thấu vào nhau để tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

– Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ hiện thực gian khổ, mất mát tạo cho cảm xúc, hình tượng thơ vẻ đẹp bi tráng.

– Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng gợi vẻ đẹp một thời, thể hiện gian khổ mà lạc quan.

– Thể hiện tài năng của tác giả.

  1. Đ

    ÀN GUITAR CỦA LOCAR NGÈN HÀ T

    ĨNH

Câu 2 (4,0 điểm):

Về bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng người nghệ sĩ Lorca”. Ý kiến khác lại khẳng định: “Bài thơ là tiếng lòng tri âm của Thanh Thảo với người thầy vĩ đại của mình”.

Bằng hiểu biết về bài thơ, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về hai ý kiến trên.

2 Hai ý kiến về bài “Đàn ghita của Lorca”.

2.1 Giới thiệu chung:

– Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ trẻ những năm cuối kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Thanh Hải luôn phản ánh tâm tư của người trí thức nhiều trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại. Ông luôn nỗ lực tìm kiếm sự đổi mới trong tư duy và hình thức.

– Bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca in trong tập Khối vuông ru-bích là một trong những sáng tác tiêu biểu cho lối viết giàu suy tư , mãnh liệt, phóng túng, tự do, màu sắc tượng trưng siêu thực . có ý kiến cho rằng: “Bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng người nghệ sĩ Lorca”. Ý kiến khác lại khẳng định: “Bài thơ là tiếng lòng tri âm của Thanh Thảo với người thầy vĩ đại của mình”.

2.2 Phân tích, bình luận:

a/ Bài thơ đã xây dựng thành công hình tƣợng ngƣời nghệ sĩ Lor- ca:

Giới thiệu về Lor- ca: Là một trong số những nhà thơ và soạn kịch nổi tiếng nhất của Tây Ban Nha nhưng có cuộc đời bất hạnh. Hình tượng Lor- ca là hình tượng trung tâm của bài thơ. Tác giả Thanh Thảo muốn phục hiện cái chết bi tráng, oan nghiệt của Lor- ca , đồng thời ca ngợi sự bất tử của người nghệ sĩ qua tiếng đàn ghi ta mà sinh thời Lor- ca đã ước nguyện “ Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”.

*Lorca là một nghệ sĩ đại diện cho tinh thần tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật:

– Hình tượng Lorca được đặt trong khung cảnh văn hóa Tây Ban Nha – một nền chính trị độc tài và một nền nghệ thuật già nua (tiếng đàn, áo choàng, vầng trăng, yên ngựa)

– Lorca với áo choàng đỏ gắt như một võ sĩ trên chiến trường đấu tranh cho tự do, dân chủ, cho nghệ thuật cách tân.

– Lorca dũng cảm tiên phong nhưng cũng manh, đơn độc (3 dòng cuối khổ thơ 1)

* Cuộc đời đau khổ, bất hạnh, đầy bi phẫn của Lorca:

– Thanh Thảo đã ghi lại những giây phút bi phẫn nhất trong cuộc đời Lorca khi ông bị phát xít giết hại và ném xác xuống giếng để phi tang (khổ 2)

-> Những giây phút bi phẫn trong cuộc đời Lorca đã được diễn tả bằng những hoán dụ, ẩn dụ, nghệ thuật so sánh, tô đậm một cái chết oan khuất, bi phẫn do thế lực bạo tàn gây ra trong bối cảnh hiện thực đẫm máu của Tây Ban Nha.

– Nhà thơ đã miêu tả tiếng đàn để gián tiếp nói lên thân phận người nghệ sĩ (khổ 3). Một chuỗi những hình ảnh so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, tượng trưng. Đây là sản phẩm của tư duy thơ tượng trưng đã giúp tác giả miêu tả thành công cái chết bi phẫn của Lorca cũng như thân phận đau đớn của người nghệ sĩ. Ở khổ thơ này, số phận đau thương của Lorca đã được thể hiện lên tới đỉnh điểm và người viết những dòng thơ này cũng đang trong trạng thái căm phẫn , sôi trào. Bút pháp tương giao đã thể hiện rất rõ tình yêu quê hương, xứ sở, tình yêu lứa đôi, yêu cuộc sống của Lorca và nỗi bất hạnh của ông. Ta cũng thấy những đau đớn nuối tiếc của Thanh Thảo trước cái chết của Lorca.

* Sức sống bất diệt của Lorca:

– Câu thơ “không ai chôn cất tiếng đàn” viết theo lối tượng trưng diễn tả tình thế bi thảm của Lorca, không ai dám chôn cất một nghười bị hành hình, song cũng chính nó khẳng định sức sống kì diệu của tiếng đàn nói riêng, của những sáng tạo nghệ thuật nói chung mà Lorca để lại. Người nghệ sĩ tạo nên tiếng đàn có thể bị vùi dập, bị giết hại nhưng nghệ thuật thì không thể bị hủy diệt.

– Sắc thái khẳng định này càng rõ hơn trong hình ảnh so sánh “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”

– Hình ảnh “Giọt nước mắt vầng trăng/Long lanh trong đáy giếng” gợi nhiều liên tưởng.

– Tác giả đã miêu tả sự giải thoát, sự giã từ của Lorca về cõi bất tử bằng sự thấu hiểu, sự cảm thông (khổ 5 và 6, trọng tâm là khổ 6).

b/ Bài thơ là tiếng lòng tri âm của Thanh Thảo với người thầy vĩ đại:

– Tiếng nói tri âm là đề tài phổ biến trong văn chương. Tiếng nói tri âm thường dành cho những người đương thời, hoặc bậc tiền bối.Ví dụ : Độc tiểu Thanh Kí ( Nguyễn Du), Kính gửi cụ Nguyễn Du ( Tố Hữu ), Khóc Dương Khuê ( Nguyễn Khuyến)…

– Tiếng nói tri âm thể hiện sự ngưỡng mộ, kính trọng, ngợi ca hướng tới giá trị của con người đồng điệu .

– Biểu hiện:

+ Là sự cảm thông hướng tới điều bất hạnh , nỗi khổ, cảm phục tài năng Lor- ca , sức sống mãnh liệt của thơ Lor- ca. Cảm thương số phận bất hạnh bi kịch hành trình oan khuất.

+ Sự tri âm về hình thức được thể hiện ở việc tác giả thường dùng những thể loại mà bậc tiền nhân sử dụng, thi liệu quen thuộc mà các bậc tiền nhân hay dùng tạo nhịp cầu giao cảm, sự đồng điệu.

– Sở dĩ, có sự tri âm sâu sắc bởi Thanh Thảo nói: “Dĩ nhiên, Lor- ca là một nhà thơ mà tôi hết sức ngưỡng mộ ,cả về thi ca lẫn cuộc đời cái chết của ông đều gây cho tôi nhiều cảm xúc và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ Lor- ca đã dẫn dắt tôi khi viết bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca mà tôi coi như là một khúc tưởng niệm Ông.”

2.3 Bàn luận hai ý kiến trên :

– Hai ý kiến đều đúng và không mâu thuẫn mà nó bổ sung cho nhau, một bên nhấn mạnh vào giá trị hiện thực mà tác phẩm phản ánh. Còn ý kiến kia thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm, sự đồng cảm, sẻ chia của tác giả dành cho người thầy vĩ đại của mình. Nói như Bùi Hiển: “Ở nước nào cũng thế thôi, sự sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết. Sự sẻ chia, thông cảm đó là tiếng nói tri âm trong văn nghệ. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” ra đời như một khúc tưởng niệm , khúc tri âm của Thanh Thảo với nhà thiên tài Tây Ban Nha – Lor- ca.

– Qua hình tượng Lor- ca và tiếng đàn ghi ta, tác giả diễn tả cái chết bi tráng đột ngột của người nghệ sĩ đấu tranh cho tự do và cách tân nghệ thuật. Đồng thời, bày tỏ nỗi tiếc thương vô hạn , sự đồng cảm sâu sắc và niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp của Lor- ca.

2.4 Đánh giá chung:

– Tác phẩm khép lại để lại bao suy nghĩ cho người đọc: Một Lor- ca đơn độc, kiêu hãnh, Lor- ca bi thương hùng tráng. Lor- ca mất đi, không còn người đấu tranh cho sự cách tân nghệ thuật nhưng nghệ thuật của Lor- ca không chết.

– Tác phẩm không chỉ là tiếng nói tri âm , không chỉ là lời tôn vinh cao nhất mà Thanh Thảo dành kính tặng cho Lor- ca; thể hiện sự ngưỡng mộ; đồng cảm với bậc tài hoa, oan khuất. Hơn thế, thi phẩm còn gửi vào đó một triết lí về sức sống của nghệ thuật : nghĩa là có thể bị vùi dập nhưng những gì là nghệ thuật chân chính vẫn luôn bất diệt, bất tử.

 

  1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP HỒ CHÍ MINH NGÔ SĨ LIÊN BẮC GIANG

Câu 2 (4,0 điểm)

Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Hãy phân tích để làm sáng tỏ điều đó.

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được: trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)

2 Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.

1 Giới thiệu chung:

– Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực.

– Ở thể loại văn chính luận, Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945.

– Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.

2 Phân tích, chứng minh nhận định:

* Nhiệm vụ của phần mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài. Nguyên lí của “Tuyên ngôn Độc lập” là khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc. Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà lại dựa vào hai bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Mĩ năm 1776 và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp” năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây chính là nghệ thuật “Lấy gậy ông đập lưng ông”.

* Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của những dân tộc ấy. Cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết:

– Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ để “khoá miệng” bọn đế quốc Pháp, Mĩ đang âm mưu xâm lược và can thiệp vào nước ta (sự thật lịch sử đã chứng tỏ điều này).

– Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm dấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.

* Đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và thực sự, cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp (1791).

– Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ, Bác viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ý kiến “Suy rộng ra”ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau TK XX.

3 Đánh giá:

– Khẳng định ý kiến trên hoàn toàn đúng.

– Khẳng định giá trị của bản Tuyên ngôn: “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện lịch sử vô giá mà còn là một tác phẩm văn học vô giá.

 

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU NGÔ SĨ LIÊN BẮC GIANG LẦN 2

Câu 2 (4,0 điểm):

Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người qua đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

 (Trích Việt Bắc – Tố Hữu – SGK Ngữ Văn 12 tập 1)

Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người qua đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

2.1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức.. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Nổi bật trong đoạn trích là những câu thơ khắc họa bức tranh tứ bình của núi rừng Việt Bắc – một bức tranh thiên nhiên phong phú, rực rỡ, tươi thắm tượng trưng cho vẻ đẹp của bốn mùa, gắn liền với hình ảnh con người lao động bình dị mà cao đẹp (Trích dẫn đoạn thơ).

 2.2 Trình bày cảm nhận:

Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ tha thiết của tác giả về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc.

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

Câu hỏi tu từ với cách xưng hô “mình – ta” ngọt ngào là lời ướm hỏi, cách tạo cớ để giãi bày nỗi nhớ rất khéo léo. Người về nhớ “hoa cùng người”, nhớ về những gì đẹp nhất của núi rừng Việt Bắc. “Hoa” là hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Tương xứng với hoa là vẻ đẹp con người Việt Bắc – hoa của đất. Cách nói của nhà thơ thật tế nhị và duyên dáng.

a Vẻ đẹp của thiên nhiên:

Bức tranh tứ bình- bốn mùa của núi rừng Việt Bắc. Bằng bút pháp hội họa tài hoa, tác giả làm bật lên vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng VB bốn mùa Xuân – Hạ – thu –Đông. Cảnh vật sinh động, tươi tắn sắc màu:

* Bức tranh mùa đông:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Mùa đông xuất hiện bằng màu sắc – màu xanh bạt ngàn, mênh mông trải khắp rừng già tạo cho thiên nhiên Việt Bắc một vẻ thâm u, trầm mặc. Màu xanh ấy như làm tăng thêm cái rét buốt của rừng đông. Bằng bút pháp chấm phá, trên cái nền màu lạnh ấy, Tố Hữu đã điểm thêm một gam màu nóng của “hoa chuối đỏ tươi” khiến cảnh rừng Việt Bắc trở nên ấp áp, tươi sáng hơn. Thấp thoáng đây đó là những đốm nắng vàng nhạt, chỉ đủ sức ánh lên ở lưỡi dao đi rừng của người Việt Bắc => Cảnh có sự hòa sắc tuyệt đẹp.

* Bức tranh mùa xuân:

“Ngày xuân mơ nở trăng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Mùa xuân tràn ngập màu trắng của hoa mơ gợi sự dịu dàng, tinh khiết, thanh cao và đầy chất thơ của tạo vật. Hai tiếng “trắng rừng” như làm cho khắp núi rừng bừng sang hẳn lên. Đây là hình ảnh giàu tính hiện thực nhưng thấp thoáng ý nghĩa tượng trưng : nó như gợi lên nét đẹp trong sáng trong tâm hồn của con người Việt Bắc. Có thể nói, màu trắng của hoa mơ là màu sắc đặc trưng của núi rừng nơi đây.

* Bức tranh mùa hè:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Hiện lên trong nỗi nhớ người đi không chỉ có màu sắc, đường nét, ánh sáng mà còn có cả âm thanh ngân vang của tiếng ve: “ve kêu rừng phách…” . Ve kêu gọi hè, hè về là rừng phách chuyển màu .Sống ở Việt Bắc, con người thường hay có cảm xúc bâng khuâng trước những hình ảnh kỳ lạ của rừng phách : trong những ngày cuối xuân, nụ hoa vẫn náu kín trong những kẽ lá. Khi tiếng ve cất lên thì chúng nhất loạt trổ hoa vàng. Cách dùng từ “đổ” thật tinh tế, nhấn mạnh sự mau lẹ đột ngột của quá trình chuyển đổi của cây lá, nó diễn tả sức mạnh của những trận mưa hoa vàng khi gió thổi, ve kêu gọi mùa.

* Bức tranh mùa thu:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Đêm thu có ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành khung cảnh huyền ảo. Cảnh tượng này thích hợp với việc bộc lộ tâm tư thầm kín dành cho thời điểm kết thúc những cuộc hát giao duyên . Câu thơ gợi không gian thanh bình, yên ả, báo hiệu sự bắt đầu cuộc sống yên vui. Câu thơ cũng gợi sự hoà hợp giữa thiên nhiên ( rừng thu) với vũ trụ ( trăng) với cuộc sống thanh bình yên vui trong sự hoà hợp của những tấm lòng nhân ái giữa người đi và người ở lại.

b Vẻ đẹp của con người:

Bức tứ bình về vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn con người

– Đó là những con người khỏe khoắn, tự tin, làm chủ thiên nhiên, núi rừng.

– Con người khéo léo cần mẫn trong công việc.

– Con người chịu thương, chịu khó, nhưng cũng rất duyên dáng dịu dàng

– Con người ân tình và rất mực thủy chung.

=> Nỗi nhớ đằm sâu nhất, gốc rễ của mọi nỗi nhớ là vẻ đẹp con người Việt Bắc.

c Nghệ thuật:

– Bút pháp tả cảnh (giàu chất hội họa, sự phối hợp hài hòa từ đường nét, màu sắc, ánh sáng…) tả người độc đáo tài hoa (con người hiện lên với vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn). Không sử dụng bút pháp ước lệ, tác giả sử dụng bút pháp tả thực đem đến một cảm nhận thực, cảm xúc thực cho người đọc. Sự đan xen giữa cảnh và người khiến bức tranh sinh động, ấm áp, hài hòa.

– Âm hưởng chung của đoạn thơ là nỗi nhớ nhung tha thiết: Điệp từ “nhớ”

– Nhịp thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, êm đềm như khúc hát dân ca. Đoạn thơ giàu tính tạo hình, giàu âm hưởng, cấu trúc hài hòa, cân đối, đậm chất trữ tình

=> Góp phần thể hiện tấm lòng, tình cảm gắn bó, mến yêu của người cán bộ kháng chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc.

2.3 Đánh giá:

– Đoạn trích là bốn bức họa bằng thơ rất tài tình của Tố Hữu. Cảnh và người hòa quyện, đan xen khiến bức tranh nào cũng thật sinh động, ấm áp. Đoạn thơ vừa đậm chất dân tộc [thể thơ, giọng tâm tình, tha thiết] vừa mang đậm vẻ đẹp, hơi thở của thời đại [hình ảnh thơ, tình cảm cách mạng trong thơ]. Nghệ thuật điệp – láy đi láy lại từ “nhớ” cùng các câu hỏi tu từ liên tiếp, dồn dập đã diễn tả thành công tình cảm tha thiết, sâu nặng của người về.

– Qua đoạn thơ, ta thấy rõ đặc điểm thơ và vẻ đẹp hồn thơ Tố Hữu, kết tinh trong tình cảm lớn, lẽ sống lớn: tình cảm cách mạng, lẽ sống thủy chung với cách mạng.

 

  1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH NGỌC TẢO HÀ NỘI

Câu 2: (4.0 điểm)

Phân tích nghệ thuật lập luận trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của tác giả Hồ Chí Minh. Phân tích nghệ thuật lập luận trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của tác giả Hồ Chí Minh.

2.1 Giới thiệu chung:

– Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực.

“Tuyên ngôn độc lập” viết năm 1945, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, ngay sau khi người từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Bản Tuyên ngôn đã được đọc sáng ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước toàn thể quốc dân đồng bào để khẳng định với quốc tế và nhân dân trong nước thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, tuyên bố nền độc lập, chủ quyền của nước ta và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Tác phẩm thể hiện nghệ thuật lập luận vô cùng chặt chẽ, sắc sảo của Người, xứng đáng là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại.

2.2 Phân tích:

Để đạt được những mục đích đặt ra trong bản Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã xây dựng cấu trúc bản Tuyên ngôn với các vấn đề lớn là:

– Cơ sở pháp lí của bản Tuyên ngôn: quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do của con người, của dân tộc.

– Cơ sở thực tiễn: là bản án chung thẩm kết tội chủ nghĩa Thực dân Pháp; khẳng định vai trò chính trị của nhân dân ViệtNam và mặt trận Việt Minh.

– Cuối cùng là lời tuyên bố độc lập: khẳng định nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, quyết tâm giữ vững nền độc lập tự do ấy.

a Lập luận chứng minh cho cơ sở pháp lý của bản Tuyên ngôn:

– Hồ Chí Minh đã đưa ra những cơ sở pháp lý cho bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam:

+ Lời văn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng…”

+ Lời văn trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

– Hai lời trích dẫn nhấn mạnh vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân- đó là những chân lý lớn của nhân loại, không ai có thể bác bỏ được. Hơn nữa đây là lời tuyên ngôn của chính hai nước lớn cho nên lời trích có hiệu quả cao: chặn đứng âm mưu tái chiếm nước ta của đối phương bằng cách dùng “gậy ông đập lưng ông”, bọn Thực dân và Đế quốc không thể vi phạm, không thể phản bội lời thề của tổ tiên họ, đồng thời cũng khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc khi đặt ba cuộc Cách mạng, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau.

– Từ việc trích tuyên ngôn của nước Mĩ, Bác đã dùng phương pháp suy luận trực tiếp “suy rộng ra” để khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền hưởng tự do, bình đẳng như tất cả mọi dân tộc khác. Sau lời khẳng định đó, Người trích dẫn thêm bản tuyên ngôn của Pháp để nhấn mạnh, khẳng định dân tộc Việt Nam có đủ tư cách hưởng độc lập, tự do, bình đẳng. Từ những luận cứ như thế sẽ dẫn đến kết luận tất yếu “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

=> Đoạn mở đầu lập luận chặt chẽ, thể hiện tính chất khéo léo, kiên quyết và đầy sáng tạo.

b Lập luận chứng minh cho cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn:

Hồ Chí Minh đã lập luận bác bỏ những luận điệu “khai hóa”, “bảo hộ” Việt Nam của bọn thực dân Pháp:

Để bác bỏ luận điệu Pháp có công khai hóa nước ViệtNam, Bác dùng những dẫn chứng trên hai phương diện: chính trị và kinh tế

+ Pháp rêu rao “khai hóa tự do” cho Việt Nam nhưng “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”

+ Pháp rêu rao “khai hóa bình đẳng” cho Việt Nam nhưng“lập ra ba chế độ khác nhau ở Bắc, Trung, Nam để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”.

+ Pháp rêu rao “khai hóa bác ái” cho Việt Nam nhưng“chúng thi hành những luật pháp dã man”.

Để bác bỏ luận điệu Pháp có công bảo hộ, Tuyên ngôn dùng sự thật lịch sử để thuyết phục:

+ “Năm 1940, Nhật đến Đông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”.

+ Năm 1945, Nhật hất cẳng Pháp “Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng”

+ Khẳng định “Trong 5 năm Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

– Để bác bỏ luận điệu Pháp ủng hộ Đồng minh, Bác đưa ra sự so sánh bằng sự thật lịch sử:

+ Pháp hai lần bán nước ta cho Nhật.

+ Việt Minh kêu gọi Pháp liên minh chống Nhật thì Pháp lại“thẳng tay khủng bố Việt Minh”.

– Những lập luận về lập trường chính nghĩa của nhân dân ta:

+ Nhân dân ta đã đứng về phe Đồng Minh chống Phát xít.

+ Nhân dân ta đã làm nên cuộc cách mạng dân tộc dân chủ: tiên phong chống Nhật, giành lấy đất nước từ tay Nhật, để lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị”.

+ Quyền độc lập của dân tộc Việt Nam phù hợp với nguyên tắc dân chủ, bình đẳng của Đồng Minh ở hội nghị Tê- hê- răng và Cựu Kim Sơn.

=> Đoạn này, với sự lập luận chặt chẽ, logic theo quan hệ nhân quả, dẫn chứng xác thực và đầy sức thuyết phục để làm nổi bật cở sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn.

c Lời tuyên ngôn:

– Khẳng định “Nước Việt Nam có quyền” và “Sự thật đã trở thành một nước độc lập”. Đây là lời khẳng định và là lời tuyên bố công khai.

– Bày tỏ quyết tâm “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”, thể hiện quyết tâm, kêu gọi đồng bào cả nước chung sức giữ gìn độc lập, tự do vừa giành được.

=> Lời tuyên ngôn với những lời lẽ thuyết phục dựa trên cơ sở pháp lý và thực tiễn của bản Tuyên ngôn.

2.4 Đánh giá:

– Tóm lại, “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh không những là văn kiện lịch sử vô giá mà còn là một áng văn chính luận mẫu mực, tiếp nối những áng thiên cổ hùng văn trong quá khứ. Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay chính là sự phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự do đã được khẳng định từ trong bản Tuyên ngôn ấy.

– Với những phẩm chất tiêu biểu của áng văn chính luận nêu trên, “Tuyên ngôn độc lập” là bản án đanh thép chống bạo tàn, có giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc khi đề cập đến quyền con người, quyền dân tộc, đấu tranh vì quyền con người, quyền dân tộc.

 

  1. ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM NGUYỄN HUỆ PHÚ YÊN

Câu 2: (4,0 điểm)

…Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

 Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

 Đất Nước có từ ngày đó…

Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm …

 (Trích Đất Nước – Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm)

Cảm nhận về đoạn thơ trên và làm sáng tỏ ý kiến: việc vận dụng chất liệu văn hóa dân gian của Nguyễn Khoa Điềm không chỉ đơn thuần là hình thức biểu hiện mà còn góp phần khẳng định tư tưởng Đất Nước của nhân dân.

Cảm nhận về đoạn trích trong “Đất nước”.

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị

– Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miềnNam vùng tạm chiếm về non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc.

– Đoạn trích trên thuộc phần đầu của chương V, là cái nhìn mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước.

2 Cảm nhận đoạn thơ:

Tác giả đã cảm nhận về đất nước qua các phương diện : Phương diện hình thành và phát triển với chiều sâu văn hóa , không gian địa lí, thời gian lịch sử.

– Đất nước đã có từ lâu đời “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, “Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể”.

– Đất nước phát triển gắn liền với:

+ Những câu chuyện cổ tích, ca dao

+ Truyền thống văn hoá, quá trình hình thành phong tục tập quán (ăn trầu, bới tóc..)

+ Cuộc sống lao động vất vả để chinh phục thiên nhiên và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ( hạt gạo, cái cột, cái kèo; cây tre,…)

+ Những con người sống ân nghĩa, thuỷ chung.

– Trong không gian địa lý bao la, tất cả đều trở nên gần gũi thiêng liêng. Gần gũi và thân thương như con đường rợp bóng hàng cây mà hằng ngày anh đi học, gần gũi như dòng nước trong xanh, mát lành nơi em tắm, gần gũi như cây đa, giếng nước, mái đình nơi ta hò hẹn

-> Giọng thơ trầm lắng, trang nghiêm vừa tâm tình tha thiết qua những chất liệu văn hoá dân gian quen thuộc, hình ảnh thơ gần gũi, gợi được chiều sâu của không gian, thời gian lịch sử với những thăng trầm của dân tộc, cấu trúc thơ tăng tiến (đã có và bắt đầu và lớn lên…)… từ đó khẳng định Đất nước không xa xôi, trừu tượng mà luôn hiện hữu trong những gì gần gũi, thiêng liêng nhất của cuộc sống, tâm hồn mỗi người.

3 Làm sáng tỏ ý kiến:

– Hình thức biểu hiện: Vận dụng chất liệu văn hóa dân gian.

+ Hình ảnh Đất Nước vừa hiện lên vừa giản dị gần gũi, vừa thiêng liêng sâu lắng,gắn liền với câu chuyện cổ tích …

+ Phong tục người Việt ( Hình ảnh người phụ nvới mái tóc bới sau đầu)

+ Lối sống trọn nghĩa, trọn tình,thuỷ chung “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

+ Cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao động ( “Cái kèo, cái cột thành tên” , ”Hạt gạo phải một nắng hai sương xay ,giã ,giần ,sàng” …)

+ Tâm hồn, tình cảm của con người Việt Nam( Nước … nhớ thầm)

– Đất Nước hiện lên gắn liền với những phong tục tập quán với lối sống, nếp nghĩ qua kho tàng văn học dân gian, qua bản sắc văn hoá… chứa đựng mơ ước, khát vọng, quan niệm về vẻ đẹp phẩm chất của tâm hồn dân tộc. Gương mặt Đất Nước hiên lên thật sống động, lung linh: trong cuộc sống, trong lao động và trong chiến đấu

-> góp phần khẳng định Đất Nước của nhân dân.

4 Đánh giá chung:

Tác giả vận dụng khéo léo chất liệu văn hóa dân. Nhà thơ luôn viết hoa hai từ Đất Nước tạo nên sự thành kính, thiêng liêng… . Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng . Qua đoạn thơ, nhà thơ đã mang đến cho người đọc vẻ đẹp của một Đất Nước giàu văn hóa cổ truyền. Đất Nước của truyền thống, phong tục tươi đẹp mang đậm dấu ấn của tư tưởng Đất Nước của nhân dân.

 

  1. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH NGUYỄN THI NGUYỄN TRÃI HẢI PHÒNG

Câu 2: Nghị luận văn học (4đ)

Hãy trình bày cảm nhận của em về nhân vật Việt trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của nhà văn Nguyễn Thi.

2 Hãy trình bày cảm nhận của em về nhân vật Việt trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của nhà văn Nguyễn Thi.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước, gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ.

– “Những đứa con trong gia đình” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, viết về một gia đình nông dân Nam Bộ giàu truyền thống yêu nước, căm thù giặc, gắn bó với đất nước và cách mạng.

– Truyện đã khắc họa thành công nhân vật Việt – một đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ, một tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam noi theo.

2.2 Cảm nhận:

– Là đứa con trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Nam Bộ.

– Việt có nét riêng dễ mến lộc ngộc, vô tư của cậu con trai mới lớn:

+ Phó mặc tất cả cho chị, ừ à khi nghe chị bàn việc nhà

+ Ngủ quên lúc nào không biết, đi bộ đội vẫn giữ chiếc ná thun, bị thương không sợ chết nhưng lại sợ ma…

+ Luôn tranh phần hơn chị

+ Cách thương chị cũng rất trẻ con: sợ mất chị trước những lời tán đùa của các anh

– Nhưng sự trẻ con vô tư vẫn không ngăn cản Việt trở thành một dũng sĩ giệt Mĩ. Ngược lại, chính nó càng làm cho phẩm chất anh hùng của Việt ngày thêm độc đáo. Thù nhà, nợ nước đã nuôi dưỡng Việt trở thành một chiến sĩ giải phóng gan góc, có ý chí chiến đấu dũng cảm, kiên cường :

+ Khi còn nhỏ dám xông thẳng vào đá thằng giặc vừa giết hại cha mình.

+ Khi chưa đủ tuổi tòng quân, Việt nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má.

+ Khi xung trân, Việt chiến đấu rất dũng cảm.

+ Khi bị thương, lạc đồng đội, Việt vẫn trong tư thế chờ tiêu diệt giặc.

– Việt là người rất giàu tình cảm, gắn bó với gia đình : hình ảnh những người thân trong gia đình lúc nào cũng ở trong tâm trí. Trong hoàn cảnh bi đát nhất, Việt luôn nghĩ về người thân để tìm điểm tựa cho tâm hồn, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để anh vượt qua khó khăn trở ngại.

– Với nghệ thuật trần thuật độc đáo, đặc biệt là để cho nhân vật tự bộc lộ mình bằng ngôn ngữ nửa trực tiếp, Nguyễn Thi đã xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét tâm lí chân thực, với những hành động, suy nghĩ, lời nói không chỉ mang tính cá biệt, sinh động mà còn thể hiên những nét chung của “những người con trong gia đình” yêu nước, căm thù giặc và bất khuất kiên cường trong chiến đấu.

2.3 Tổng kết:

– Việt là nhân vật tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

– Thế hệ trẻ hôm nay cần noi gương các thế hệ đi trước, ra sức học tập, rèn luyện để gìn giữ, bảo vệ nước nhà và phát triển đất nước.

  1. NGƯỜI LÁI ĐÕ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN NGUYỄN XUÂN NGUYỄN THANH HÓA

Câu 2: Nghị luận văn học (4đ)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) “ Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây tời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuốn cuận mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mưa mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng sông xanh màu ngọc bích , chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gấm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về. (…)

 (Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập 1 NXB GD,t2009, tr 157)

(…) “ Từ Tuấn về đây sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Tràn để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sũng như thành quách với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm mịn như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố; “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)’

 (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phú Ngọc, Ngữ Văn 12 Tập 1 NXB GD,2009, tr 179)

2 Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn…

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, một phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật nhất là sự tài hoa uyên bác. Ông có sở trường ở thể tùy bút. “Người lái đò sông Đà” là một tùy bút đặc sắc kết tinh nhiều mặt phong cách Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp và tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành tựu về thể kí. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tùy bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông Hương với bề dày lịch sử văn hóa Huế, rất tiêu biểu cho phong cách ông.

2.2 Cảm nhận 2 đoạn trích:

 a/ Đoạn 1:

– Nội dung:

+ Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp đầy chất tạo hình của sông Đà với hình dáng thơ mộng , đường nét mềm mại, ẩn hiện màu sắc dòng nước ẩn hiện, biến đổi tương phản theo mùa, gây ấn tượng mạnh. Sông Đà có lúc thơ mộng, êm đềm. Sau mùa lũ, cái mùa mà nước sông đục ngầu, sẽ đến mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích quý phái chứ không xanh “màu xanh canh hến” của sông Gâm , sông Lô. Bằng thực tế quan sát, nhà văn bác bỏ tên gọi của người Pháp áp đặt cho sông Đà là “dòng sông Đen”. Với nhà văn, dù thế nào đi nữa, dù sông Đà có dễ thay đổi tính nết, dòng sông này vẫn luôn gợi cảm, là cố nhân đối với ông.

+ Hiện diện trong đoạn văn là một cái tôi Nguyễn Tuân đắm say, nồng nhiệt, tinh tế độc đáo trong tiếp cận cảnh sắc thiên nhiên , tinh tế và độc đáo trong cảm nhận cái đẹp.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh, ngôn từ mới lạ, câu văn căng tràn, trùng điệp mà vẫn nhịp nhàng về âm thanh và nhịp điệu.

+ Cách so sánh, nhân hóa, lối tạo hình giàu tính mĩ thuật , phối hợp với nhiều góc nhìn theo kiểu điện ảnh, táo bạo mà kì thú.

b/ Đoạn 2:

– Nội dung:

+ Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp sông Hương theo thủy trình của nó, với những vẻ đẹp uyển chuyển, linh hoạt của dòng chảy. Vẻ biến ảo của màu sắc, vẻ uy nghi trầm mặc của cảnh quan. Dòng sông mềm mại, uốn lượn thơ mộng, như một tấm lụa . Mảng màu sắc đa dạng phong phú của con sông Đà tạo nên vẻ đẹp huyền bí của con sông.

+ Toát lên tình yêu quê hương xứ sở sâu nặng , đằm thắm, một cách cảm nhận bình dị , tinh tế của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh chân thực và gợi cảm, câu văn kéo dài mà khúc chiết, thanh điệu hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng.

+ Lối so sánh gần gũi, xác thực, tài hoa, sử dụng nhuần nhuyễn các địa danh và cách nói của người Huế.

2.3 So sánh:

Sự tương đồng:

+ Cùng miêu tả vẻ đẹp phong phú và biến ảo của dòng nước.

+ Cùng bộc lộ tình yêu mãnh liệt với thiên nhiên xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào, cùng bao quát sông nước trên nền tảng khoáng đạt, cảm nhận sự thơ mộng và vẻ huyền ảo của dòng sông.

+ Cùng được viết bằng một thứ văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu.

Sự khác biệt:

+ Đoạn văn của Nguyễn Tuân trội về cảm xúc nồng nàn, cảm giác sắc cạnh, liên tưởng phóng túng tự do, so sánh táo bạo, cảnh sắc được bao quát từ nhiều góc nhìn khác nhau, theo nhiều mùa trong năm.

+ Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường trội về cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với suy tư , cảnh sắc được bao quát từ một góc nhìn mà nương theo thủy trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước qua từng chặng, từng buổi.

Lí giải sự khác nhau đó: do đặc điểm của hai con sông.

 

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ TÔ HOÀI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

Câu 2 (4đ)

Phân tích diễn biến tâm lý và hành động của Mị trong đêm đông cởi trói cho A Phủ. Từ đó, anh/chị hãy trình bày ngắn gọn suy nghĩ về gía trị nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài).

2 Phân tích diễn biến tâm lý và hành động của Mị trong đêm đông cởi trói cho A Phủ. Từ đó, anh/chị hãy trình bày ngắn gọn suy nghĩ về giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài).

2.1 Giới thiệu chung:

– Tô Hoài là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật.

– “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung. Nhân vật Mị được tác giả tập trung xây dựng, khắc họa, trở thành điển hình cho số phận cay đắng, tủi cực của người lao động miền núi Tây Bắc thời kì trước cách mạng tháng Tám và quá trình họ tự đấu tranh, giải phóng mình.

– Đoạn trích nằm ở gần cuối tác phẩm, thể hiện sự trỗi dậy của nhân vật Mị, thoát khỏi cường quyền và thần quyền.

2.2 Phân tích:

a/ Thân phận của Mị:

– Mị là cô con dâu gạt nợ, bị bóc lột sức lao động và đánh đạp, hành hạ rất tàn tệ. Nhiều lúc Mị nghĩ “mình không bằng con trâu, con ngựa”.

b/ Tình huống tâm trạng:

– A Phủ chăn bò cho nhà thống lí, để hổ bắt mất một con. Thống lí sai người đi vào rừng bẫy hổ còn A Phủ phải chịu phạt, bị trói đứng giữa nhà mấy ngày liền.

– Mị, theo thói quen vẫn ngày ngày hơ tay thổi lửa bên bếp và trông thấy cảnh tượng ấy. Một đêm lạnh giá, Mị đã cắt dây trói giải thoát cho A Phủ và cùng bỏ trốn.

c/ Diễn biến tâm lý, hành động của Mị: * Từ chai lì, vô cảm:

– Bao đêm, chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, “Mị vẫn thản nhiên ngồi thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.

– Gần sáng dậy ngồi bên bếp lửa đã trở thành thói quen của Mị, là người bạn duy nhất của Mị, ngay cả khi bị A Sử đánh, hôm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.

* Đến hồi sinh, giải thoát cho A Phủ cũng là cắt dây trói cho cuộc đời mình:

– Nguyên nhân: Mị trông thấy dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Nó khiến Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Mị nhớ lại kí ức đau khổ – lần mình bị trói đứng, thật đau khổ! Từ thương mình mà đồng cảm, thương cho người.

– Sự thức tỉnh ý thức:

+ Nhận ra dấu hiệu về cái chết, phán đoán “chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” -> càng thương hơn và so sánh“người kia việc gì mà phải chết thế”

+ Lần đầu tiên Mị nhìn rõ kẻ thù của mình cũng như những kiếp người đau khổ như mình: “Chúng nó thật độc ác”

+ Nghĩ đến tình huống cha con Pá Tra bảo là Mị cởi trói cho A Phủ, bắt Mị đứng trói thay đến chết trên cái cọc ấy nhưng Mị cũng không sợ -> tình thương vượt lên sự sợ hãi, lấn át cả nỗi thương thân.

– Cắt dây trói cho A Phủ -> hành động tự phát, xuất phát từ tình thương nhưng cũng chính là Mị đang cắt dây trói cho chính mình, chiến thắng cường quyền, thần quyền.

– Sau đó, Mị “hốt hoảng”, “vụt chạy” đuổi theo A Phủ, nói “A Phủ cho tôi đi!… Ở đây thì chết mất!” -> bắt đầu hành trình từ “thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui” ở mảnh đất Phiềng Sa.

=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh, là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu.

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Miêu tả tâm lí nhân vật logic, tinh tế, chân thực.

– Giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vị dân tộc…

2.3 Bình luận về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ:

– Nhà văn đã bộc lộ niềm thương cảm, xót xa trước những thân phận người dân Tây Bắc bị bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày đoạ.

– Tố cáo bọn thực dân, chúa đất đã vùi dập con người.

– Nâng niu, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

– Đồng cảm với những khát vọng chính đáng của con người.

– Chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài là ở chỗ nhà văn tin vào khả năng cải tạo hoàn cảnh của con người.

=> Tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài đã góp phần làm sâu sắc thêm chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam.

2.4 Đánh giá:

– Khẳng định lại sự hồi sinh của nhân vật Mị và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ và sức sống lâu bền của tác phẩm.

– Khẳng định tài năng, tấm lòng, nhân cách của nhà văn Tô Hoài.

 

  1. VIỆT BẮC – TỐ HỮU PHÚ NHUẬN LẦN 1

Câu 2: (4.0 điểm)

Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi , mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước , nghĩa tình bấy nhiêu….”

(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…

 ( Trích: Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ:

2.1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sử cách mạng dân tộc. Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn hình thức. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn – cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954.

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ. Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác vào cuối năm 1971 (đoạn trích trong SGK chỉ là một phần của chương này). Có thể nói đây là chương hay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của bản trường ca – tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”.

– Trích dẫn 2 đoạn thơ.

2.2 Cảm nhận về hai đoạn thơ:

a Đoạn 1

– Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm nổi bật được tình cảm sâu nặng của Cán bộ cách mạng với người dân Việt Bắc biểu hiện qua:

+ Cách ngắt nhịp 3/3 “ta với mình, mình với ta” làm cho người đọc cảm nhận được nghĩa tình cách mạng: ta với mình tuy hai mà một gắn bó không thể tách rời. Cấu trúc so sánh và tăng tiến “lòng ta….đinh ninh” nhấn mạnh tình cảm sâu nặng của người cán bộ.

+ Câu “Mình đi mình lại nhớ mình” không chỉ là câu hỏi mà còn là lời tâm tình tự nhủ, nhớ Việt Bắc cũng là nhớ về cuộc sống của bản thân mình.

+ Cách so sánh đặc biệt “bao nhiêu… bấy nhiêu” vừa cụ thể hóa tình cảm của người cán bộ, vừa làm câu thơ mang đậm phong vị ca dao.

b Đoạn 2

– Cần làm nổi bật được Đất Nước là những không gian thân quen, gần gũi gắn bó với cuộc sống của mỗi người: là nơi anh đến trường, là nơi em tắm, là nơi gieo mầm cho hạt giống tình yêu, là nơi mang nỗi tâm tư của người con gái.

– Nghệ thuật: Sử dụng nghệ thuật chiết tự, điệp cấu trúc, chất liệu văn học dân gian… 2.3 So sánh hai đoạn thơ:

a Giống nhau:

– Thể hiện tình cảm gắn bó quê hương đất nước.

– Vận dụng sáng tạo chất liệu dân gian (ca dao) để thể hiện ý nghĩa sâu sắc.

– Hình thức thể hiện mang tính chất tình cảm lứa đôi nhưng mục đích hướng đến lại là tình cảm chung – tình cảm đối với quê hương, cách mạng.

– Hình ảnh thơ vừa gần gũi, quen thuộc, vừa có ý nghĩa biểu tượng, giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết.

b Khác nhau:

– “Việt Bắc” ra đời khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa hoàn thành, khung cảnh được tái hiện phù hợp với không khí chia tay lịch sử ngay sau khi chiến thắng, khi Trung ương chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội. Chủ yếu thể hiện tình cảm gắn bó của người Cán bộ với Việt Bắc, đề cao ân tình cách mạng. Hình thức đối thoại đồng thời là lời tự hứa, khẳng định tấm lòng thủy chung của người ra đi. Thơ lục bát, kết cấu đối đáp “mình-ta” khiến đoạn thơ mang đậm tính dân tộc.

– “Đất Nước” ra đời khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang vào giai đoạn khốc liệt. Chủ yếu thể hiện Đất nước là tất cả những gì gần gũi, thân thiết nhất của mỗi con ngườièkhơi gợi lòng yêu nước, góp phần thức tỉnh tuổi trẻ các đô thị tạm chiến miền Nam. Hình thức là lời trò chuyện tâm tình đã thuyết phục người nghe. Thể thơ tự do với âm hưởng trường ca, đầy cảm xúc nhưng vẫn giàu chất trí tuệ.

 

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN PHÚ XUYÊN A

Câu 2: (4,0 điểm)

Tràng nhắc mẹ:

-Kìa nhà tôi nó chào u.

Thấy mẹ vẫn chưa hiểu, hắn lại gần nói tiếp:

-Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…

Chẳng qua nó cũng là cái số cả…

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh đẻ cái mở mặt sau này. Còn minh thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.

Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thì và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?

Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

-Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…

Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:

-Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà báo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.

Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối chùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?…

 -Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.

Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật :

-Kể ra làm được dăm bà mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…

Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.

 (Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai NXB Giáo dục 2008)

Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong đoạn trích trên. Từ hiểu biết về tác phẩm, anh/ chị hãy nêu giá trị nhân đạo của tác phẩm.

2 Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong đoạn trích…

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Đây là truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo.

– Truyện khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống. Ở đoạn trích “Bà lão cúi đầu nín lặng… nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”, Kim Lân đã bộc lộ tài năng miêu tả tâm lí nhân vật rất chân thực, tinh tế.

2.2 Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ :

a/ Hoàn cảnh của nhân vật:

– Chồng mất, con gái mất. Tuổi cao, sức yếu, bà sống với anh con trai làm nghề kéo xe bò thuê ở rìa làng. Nhà nghèo lại là dân ngụ cư nên con bà mãi không lấy được vợ.

– Bỗng một hôm, Tràng – con trai bà đưa một người đàn bà lạ về giới thiệu đó là vợ anh.

b/ Tâm trạng nhân vật:

– Trước hết, bà cụ Tứ cũng thể hiện sự ngạc nhiên trước lời nói của Tràng và sự xuất hiện của cô con dâu mới. Nhưng ngay sau đó, người mẹ thương con hiểu ra mọi chuyện, tự dằn vặt mình, bà cảm thấy tủi cho con vì không giúp gì được cho con, để con phải “ nhặt vợ” trong hoàn cảnh túng đói. Trong tâm trạng bà, sự ngạc nhiên, buồn, vui, lo âu, lẫn lộn. Tất cả đều xuất phát từ lòng thương con.

– Với người con dâu, bà không hề rẻ rúng, mà ngược lại tỏ ra rất gần gũi, chân tình, xóa đi mặc cảm ở chị (Chú ý câu nói chan chứa yêu thương của bà cụ Tứ với con dâu ). Bà thương con trai, thương con dâu , lo cho chúng nó lại lặp lại cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt khi nghĩ đến bữa cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

– Người mẹ gần đất xa trời, với tấm lòng trải đời, tấm lòng xót thương day dứt ấy vẫn bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Bà động viên các con bằng triết lí kinh nghiệm sống ( Ai giàu ba họ, ai khó ba đời….) ; hướng tới ánh sáng niềm tin vào tương lai. Bà uớc mơ thầm kín về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà mình, thu xếp lại nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp, ý nghĩ đời sẽ khác đi , làm ăn có cơ khấm khá lên, bàn tính về tương lai, hi vọng cuộc sống mới.

=> Nhờ có bà cụ Tứ mà câu chuyện nhặt vợ của Tràng được soi chiếu từ một góc mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Với cách sử dụng điểm nhìn của bà cụ Tứ , tâm trạng riêng của người mẹ từng trải , rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về với nhau, tác giả Kim Lân đã thể hiện tài năng xây dựng tâm lí nhân vật, am hiểu con người nông thôn.

2.3 Giá trị nhân đạo của tác phẩm:

– Xót thương cho cuộc đời đau khổ, tủi nhục, thân phận rẻ rúng, bèo bọt, vô giá trị của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

– Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến gây ra nạn đói, đẩy người nông dân đến bờ vực của cái đói, cái chết.

– Phát hiện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người lao động: tình người cao đẹp, khát vọng hạnh phúc gia đình, lạc quan và tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống.

Mở rộng : Theo lời nhà văn Kim Lân, “ Khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói con người ta khổ cực và đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng , vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai. Lúc đói, người ta phải kiếm sống , thậm chí , nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thậm tệ , thê thảm , nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình , gia đình nào về nhà ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng , giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì đó là sự sống , đói nhưmg không làm con người ta đen tối , mất hi vọng mà phải cướp cám mà ăn”.

+ Học sinh có thể liên hệ, mở rộng và so sánh với giá trị nhân đạo mà của các tác giả cùng viết về đề tài người nông dân ( Tắt đèn, Chí Phèo, …)

2.4 Đánh giá chung:

– Tác phẩm thể hiện thành công lớn của Kim Lân. Qua đó, không chỉ thấy cách nhìn đời sâu sắc, mà còn thấy cái tâm của một nhà văn gắn bó sâu sắc với người nông dân.

– Nổi bật nhất trong giá trị nhân đạo đó là niềm tin tưởng sâu sắc vào – con người lao động, bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm mới mẻ hơn so với nhiều tác phẩm cùng viết về đề tài này.

 

  1. NGƯỜI LÁI ĐÕ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN PHÙNG KHẮC KHOAN HÀ NỘI

Câu 2: (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh / chị về vẻ đẹp độc đáo của hai đoạn văn sau:

“Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

Lại như một quãng mặt ghềnh Hát Lóong, dài hàng cây số nước xô đá , đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”

 (Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân )

“Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”

( Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường )

2 Cảm nhận vẻ đẹp của 2 đoạn văn:

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, một phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật nhất là sự tài hoa uyên bác. Ông có sở trường ở thể tùy bút. “Người lái đò sông Đà” là một tùy bút đặc sắc kết tinh nhiều mặt phong cách Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp và tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành tựu về thể kí. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tùy bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông Hương với bề dày lịch sử văn hóa Huế, rất tiêu biểu cho phong cách ông.

– Cả 2 đoạn trích miêu tả những dòng sông đẹp của đất nước Việt Nam, mỗi dòng sông lại có những nét độc đáo riêng.

2.2 Cảm nhận:

a/ Đoạn 1:

– Đoạn văn đã làm nổi bật vẻ đẹp của con sông Đà: hung bạo, dữ dội.

+ Hung bạo ở chỗ đôi bờ xích gần nhau, làm cho lòng sông hẹp như một cái yết hầu thắt giữa hai vách dá dựng đứng hiểm trở. Cái hẹp của lòng sông được tác giả miêu tả bằng nhiều cách(dẫn chứng). So sánh vừa chính xác vừa tinh tế ,vừa bất ngờ vừa lạ lùng khiến ta có cảm giác như Nguyễn Tuân luôn lục lọi đến tận cùng cái kho ấn tượng nay ăm ắp để tìm cho mình một cách nói có thể làm kinh động hồn trí con người.

+ Hung bạo ở cái dữ dằn của gió- nước trên sông Đà: Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè,… Hình ảnh con sông Đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người, sông Đà hung bạo lại trở nên dữ tợn hơn nhiều.

– Nghệ thuật miêu tả:

+ So sánh vừa chính xác vừa tinh tế ,vừa bất ngờ vừa lạ lùng khiến ta có cảm giác như Nguyễn Tuân luôn lục lọi đến tận cùng cái kho ấn tượng nay ăm ắp để tìm cho mình một cách nói có thể làm kinh động hồn trí con người.

+ Bằng lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp.

b/ Đoạn 2:

– Qua đoạn văn, ta thấy một sông Hương vừa mang vẻ nữ tính thơ mộng, vừa có sự hoang sơ bí ẩn.

+ Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn. Khởi nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn, sông Hương mang vẻ đẹp hoang dại, mãnh liệt. Trong mối quan hệ này, sông Hương như một bản trường ca của rừng già với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội…Nhưng có lúc dịu dàng, thơ mộng, say đắm “giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.

+ Với cái nhìn nhân hóa, sông Hương tựa như cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại với một bản lĩnh gan dạ , một tâm hồn tự do và trong sáng. Đó là vẻ hoang sơ, bí hiểm, phóng túng của sông Hương, sức sống nguồn sống mãnh liệt.

+ Sông Hương khi ra khỏi rừng già Trường Sơn, sức mạnh bản năng của cô gái Di- gan đã được chế ngự, để trước khi về đến đồng bằng Châu Hóa, sông Hương mang một vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”, trở thành “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”.

– Nghệ thuật miêu tả: Sử dụng hình thức nhân hóa, so sánh liên tưởng độc đáo, câu văn nhịp nhàng.

2.3 So sánh:

– Giống nhau:

+ Cả hai đoạn văn đều khám phá vẻ đẹp đa dạng của những dòng sông nổi tiếng của đất nước.

+ Miêu tả với bút pháp phóng khoáng, tưởng tượng phong phú, nhân hóa, so sánh hiệu quả, các câu văn dài, nhịp nhàng.

– Khác nhau:

+ Nguyễn Tuân miêu tả con sông Đà trong không gian địa lí miền Tây xa xôi, dữ dội nhất, tiêu biểu cho thiên nhiên miền Tây điểm nhấn qua các ghềnh thác với cách sử dụng các câu văn dài, vế câu trùng điệp, dồn dập , chủ yếu trực tả, cường điệu biểu cảm. Dòng sông làm nền cho cảm hứng ngợi ca con người và lao động.

+ Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả con sông Hương trong thủy trình từ rừng già Trường Sơn đến Thuận An, vừa cá tính mạnh mẽ, man dại, mãnh liệt vừa nữ tính, thơ mộng với cách sử dụng câu văn có sự hô ứng theo cách tổ chức lời thơ, hô ứng nhịp nhàng , tiết tấu dãn ra. Dòng sông mang đã đánh thức ở con người tình yêu quê hương, xứ sở.

2.4 Đánh giá chung:

– Sông Đà như một bức tranh sơn dầu, sông Hương như một bức tranh lụa với nét vẽ mềm mại. Nguyễn Tuân miêu tả con sông Đà để làm nổi bật tiềm năng của nó, thể hiện niềm tự hào về thiên nhiên đất nước hùng vĩ. Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương là cái nôi của một nền văn hóa lớn – văn hóa kinh đô Huế.

– Qua đó, thấy được phong cách nghệ thuật của các tác giả: Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác, khao khát tìm kiếm những cảm giác say mê, mới lạ. Hoàng Phủ Ngọc Tường – tài hoa, uyên bác, giàu tình cảm và trí tưởng tượng lãng mạn, say mê cái đẹp của thiên nhiên xứ Huế. Ở họ có một tâm hồn tinh tế và giàu tình yêu quê hương, đất nước.

 

  1. RỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH QUẢNG NINH LẦN 1

Câu 2 (4 điểm)

“Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.

Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng.

 Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy ở trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!

Tiếng cười giần giật của thằng Dục. Các cụ già chồm dậy, bọn lính gạt ra. Tiếng kêu ré của đồng bào. Tiếng chân ai rầm rập quanh nhà ưng. Ai thế?

Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn. Tiếng “giết”! Tiếng chân người đạp lên trên sàn nhà ưng ào ào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Mết ồ ồ: “Chém! Chém hết!” Cụ Mết, đúng rồi, cụ Mết, đã đứng đấy, lưỡi mác dài trong tay. Thằng Dục nằm dưới lưỡi mác của cụ Mết. Và thanh niên, tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng loáng, những cây rựa mài bằng đá Tnú mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về…”

 (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành, SGK Ngữ văn 12, tập hai, Nxb Giáo dục năm 2010, trang 47)

Anh/ chị hãy cảm nhận đoạn trích trên. Qua hình tượng Tnú, anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay với việc bảo vệ chủ quyền đất nước?

Cảm nhận về đoạn trích trong “Rừng xà nu”.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Trung Thành vốn là một chiến sĩ, một phóng viên. Đề tài sáng tác của ông: mảnh đất Tây Nguyên hoang dại, bí ẩn, cuộc sống chiến đấu anh dũng của nhân dân nơi đây. Phong cách nghệ thuật: đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.

– Truyện ngắn “Rừng xà nu” được viết năm 1965 in trong tập “Trên quê hương những anh hùng điện ngọc” là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

2.2 Cảm nhận đoạn trích:

a Giới thiệu khái quát về Tnú và bối cảnh của đoạn trích:

– T nú là một người con của buôn làng Xô Man, một chiến sĩ Cộng sản.

– Vợ và con Tnu’ bị bọn thằng Dục – tay sai của Mĩ giết hại ngay trước mắt anh. Uất hận sôi trào, Tnu’ xông ra cứu vợ con nhưng không được. Chúng bắt anh, trói rồi ném xuống giữa nhà ưng. Rồi chúng đốt bàn tay Tnu’ bằng dầu xà nu.

b Nội dung đoạn trích:

* Đoạn văn hướng đến khắc họa những đau đớn về thể xác của nhân vật Tnú cũng như ý chí, khí phách cách mạng của con người này:

– Đau đớn của Tnu’: mười đầu ngón tay bốc cháy rất nhanh, mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc…Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi.

-> Tội ác man rợ của kẻ thù. Song chúng cũng không thể nào giết chết tinh thần của anh.

– Tnu’ kiên cường, ý chí sắt đá: “Anh không kêu rên…Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Dù đau đớn tột độ, Tnu’ vẫn giữ vững tinh thần của người chiến sĩ Cộng sản. Và trong giây phút cận kề cái chết, Tnu’ vẫn hô vang “giết” để chống lại kẻ thù.

=> Lát cắt về hình ảnh Tnú qua chi tiết này chính là sự phản chiếu cho nỗi đau và khí phách của dân làng Xô Man trước tội ác của Mĩ Ngụy. * Sự nổi dậy của dân làng Xô Man:

– Bắt đầu từ các cụ già “Các cụ già chồm dậy”. Rồi đến “Tiếng chân ai rầm rập quanh nhà ưng” với nhiều tiếng thét dữ dội. “Tiếng chân người đạp lên trên sàn nhà ưng ào ào”.

Cụ Mết trở thành lãnh tụ của cuộc nổi dậy, hô vang “Chém! Chém hết!” và thằng Dục nằm dưới lưỡi mác của cụ.

Tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng loáng cũng đồng loạt xông lên tiêu diệt kẻ thù.

-> Đó là sự nổi dậy tất yếu, nó là kết quả của tình yêu buôn làng và nỗi căm giận sục sôi. Đồng thời cũng cho ta thấy một thông điệp: phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng.

c Nghệ thuật đoạn trích:

– Ngôn ngữ, tiết tấu nhanh tô đậm tính kịch kết hợp với bút pháp đặc tả, liệt kê, điệp (không thèm kêu van) đã mang đến nhiều ý nghĩa và liên tưởng cho người đọc.

2.3 Trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay với việc bảo vệ chủ quyền đất nước:

– Chúng ta đã giành được độc lập hơn 40 năm nay nhưng chủ quyền của dân tộc hiện nay vẫn bị đe dọa, nhất là trên khu vực biển Đông.

– Mỗi công dân Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng cần nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc.

– Liên hệ bản thân:

+ Ra sức học tập, rèn luyện cả về thể chất, tinh thần, ý chí để xây dựng đất nước vững mạnh.

+ Nâng cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch.

+ Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc gọi tên.

 

  1. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN QUẢNG XƯƠNG LẦN 3

Câu 2: (4,0 điểm)

Về đoạn trích tùy bút: “ Người lái đò Sông Đà ” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: Đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ.

Từ việc phân tích đoạn trích tùy bút, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

2 Về đoạn trích tùy bút: “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: Đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ.

 2.1 Giới thiệu chung:

“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa”(Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu. Ông được mệnh danh là “Người suốt đời đi tìm cái đẹp“.

“Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong tùy bút “Sông Đà”.

– Nêu ý kiến: “Đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ”.

2.2 Giải thích ý kiến:

– Tính thẩm mĩ là một phạm trù của cái đẹp, có khả năng lay động, thức tỉnh con người.

– Nói “Người lái đò sông Đà” là một áng văn giàu tính thẩm mĩ là nói về cái đẹp toát ra từ nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Cụ thể:

2.3 Phân tích:

a/ Về nội dung:

* Hình tượng con sông Đà: Vẻ đẹp hung bạo, dữ dằn của sông Đà:

– Đó là cảnh đá “dựng vách thành”, lòng sông bị thắt lại như cái yết hầu.

– Cảnh nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè

– Những “hút nước” sẵn sàng nhấn chìm, đập tan chiếc thuyền nào lọt vào; những thạch trận, phòng tuyến, luồng thác… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò.

– Âm thanh thác nước sông Đà: Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”, “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…

– Trùng vi đá:

+ Trùng vi thạch trận thứ nhất: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”…

+ Trùng vi thạch trận thứ hai: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…

+ Trùng vi thạch trận thứ ba: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.

=> Nhận xét: Với trí tưởng tượng phong phú, những câu văn tài hoa, uyên bác , vận dụng ngôn ngữ của nhiều ngành khác nhau như võ thuật, thể thao, quân sự,…, Nguyễn Tuân đã tái hiện trước mắt người đọc một Sông Đà hung bạo, độc ác không khác gì “kẻ thù số một của con người”.

Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà:

– Khái quát dòng sông:

+ Sông Đà là bức tranh thủy mặc vương vấn lòng người.

+ Từ trên tàu bay nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo …” – lối so sánh tài hoa, tạo mĩ cảm cảm đặc biệt.

– Màu sắc dòng sông thay đổi theo mùa:

+ “Mùa xuân xanh màu ngọc bích”, khác với sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh hến”.

+ Mùa thu nước sông “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa …

-> Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ. Sông Đà gợi không khí huyền thoại thơ mộng – vẻ đẹp cổ thi:

+ Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ vô cùng gợi cảm, bình yên và mang đậm chất thơ: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu “ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” …

+ Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa… lặng tờ “như từ Lí, đời Trần, đời Lê”.

=> Nhận xét: Cảnh sông Đà đẹp, thơ mộng, hữu tình và đầy sức sống, làm mê đắm lòng người.

* Hình tượng người lái đò: Vẻ đẹp gần gũi, bình dị của một người lao động giữa đời thường

– Đó là một ông lão gần bảy mươi tuổi, “làm nghề chở đò dọc” suốt sông Đà đã mười năm liền và thôi làm đò cũng gần chục năm nay, quê ông ở “ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh” Lai Châu.

– Đó là một người lái đò lão luyện “trên dòng sông Đà, ông xuôi ngược hơn 100 lần rồi, chính tay giữ lái độ 60 lần” trong thời gian hơn mười năm sống trên sông nước.

Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ

– Ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.

+ Vòng vây thứ nhất, sông Đà bày ra nhiều cạm bẫy. Ông lái đò bị sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm. Nhưng bằng tinh thần dũng cảm, ông đã tỉnh táo chỉ huy sáu bơi chèo, chiến thắng trùng vi thạch trận đầy nguy hiểm.

+ Vòng vây thứ hai, sông Đà thay đổi chiến thuật. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, xác định đúng cửa sinh và chiến thắng thằng đá tướng đứng chiến ở cửa giữa.

+ Vòng vây thứ ba, sông Đà tiếp tục thay đổi chiến thuật, bên phải bên trái đều là cửa tử. Ông lái đò phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Thế là hết thác.

– Cách thưởng thức cuộc sống cũng thật tao nhà, như một người nghệ sĩ vậy: “đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, bàn tán chuyện cá anh vũ dầm xanh,…”

  1. Đặc sắc nghệ thuật:

– Cách tiếp cận và khai thác đối tượng từ nhiều phương diện thẩm mĩ, văn hóa: dòng sông được miêu tả như một công trình mĩ thuật thiên tạo tuyệt vời; người lái đò khắc họa với tư chất trí dũng tài hoa, nghệ sĩ.

– Vận dụng kiến thức của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để thể hiện.

– Sử dung ngôn ngữ điêu luyện, hình ảnh mới lạ, độc đáo, giàu chất thơ, chất nhạc, chất họa.

– Sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa…làm cho đối tượng được miêu tả trở nên sống động, hấp dẫn.

=> Tất cả nhằm nổi bật lên vẻ đẹp một dòng sông Đà hùng vĩ, dữ dội và thơ mộng; vẻ đẹp một người lao động trên sông nước rất đỗi bình dị mà mạnh mẽ, lớn lao.

2.4 Tổng kết:

– Khẳng định nhận định trên hoàn toàn đúng đắn. Trước cách mạng, Nguyễn Tuân quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ “Vang bóng một thời” và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng của thời trước còn vương sót lại. Sau cách mạng, ông không đối lập quá khứ với hiện tại và cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại, đặc biệt là phẩm chất tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng. Nguyễn Tuân gọi đó là “Cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí con người Tây Bắc”.

– Khẳng định chất tài hoa trong ngòi bút Nguyễn Tuân và tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm trân trọng con người của nhà văn.

 

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ TÔ HOÀI QUỲNH LƯU NGHỆ AN

Câu 2 (4,0 điểm):

Sự tương đồng và khác biệt giữa nhân vật A Phủ (“Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài) và nhân vật Tnú (“Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

2 Sự tương đồng và khác biệt giữa nhân vật A Phủ (“Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài) và nhân vật Tnú (“Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

2.1 Giới thiệu chung:

Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hiện đại hàng đầu của nền văn học Việt Nam. Ông thành công ở nhiều thể loại, đề tài. Sáng tác của ông thể hiện vốn hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là phong tục và sinh hoạt đời thường. “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn đặc sắc, góp phần làm nên tên tuổi của Tô Hoài, in trong tập truyện “Tây Bắc”.

– Nguyễn Trung Thành là văn gắn bó sâu sắc với Tây Nguyên, thường viết về những sự tích anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp của thời đại. “Rừng xà nu” được viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ ác liệt, được xem như một bi “Hịch tướng sĩ” thời chống Mĩ ca ngợi vẻ đẹp kiên cường, bất khuất, bất diệt của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung; tác phẩm còn khái quát được chân lí thời đại.

– Tìm hiểu về nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” và Tnu’ trong “Rừng xà nu” ta sẽ tìm thấy ở họ nhiều nét tương đồng và cả những đặc điểm riêng đầy hấp dẫn.

2.2 So sánh:

a Giống nhau:

* Đều sinh ra từ những vùng cao xa xôi, hẻo lánh:

– A Phủ sinh ra tại vùng núi Tây Bắc.

– Tnú sinh tại vùng đất Tây Nguyên đầy nắng và gió.

* Đều mồ côi:

– Cha mẹ A Phủ mất trong dịch đậu mùa khi đó cậu chừng 10 tuổi. Lần lần đi làm thuê cho nhà người.

– Tnú cũng mồ côi từ nhỏ được dân làng STrá nuôi dưỡng.

* Lớn lên đều là những chàng trai khỏe mạnh, cường tráng:

– A Phủ được ví như con trâu tốt trong làng.

– Tnú được ví như cây xà nu cường tráng bất chấp đạn bom.

* Cả hai đều có phẩm chất dũng mãnh, căm thù cái ác, sự bất công và đi theo cách mạng:

A Phủ:

+ Chống lại A Sử – con quan khi hắn phá cuộc chơi → không sợ cường quyền.

+ Sau khi được Mị cắt dây cởi trói, chạy đến vùng Phiềng Sa, được người cán bộ A Châu giác ngộ, anh đã là du kích hoạt động rất tích cực.

– Tnú:

+ Gan góc quả cảm ngay từ nhỏ (Chi tiết: Nuôi giấu cán bộ, nuốt thư khi bị bắt)

+ Chỉ huy dân làng mài vũ khí, chuẩn bị lực lượng chiến đấu.

+ Mặc dù chịu nhiều đau thương: vợ con mất, bàn tay bị đốt nhưng anh vẫn đi lực lượng cầm vũ khí chiến đấu.

b Khác nhau:

* A Phủ:

– Là nạn nhân của những tập tục phong kiến lạc hậu, sống kiếp sống nô lệ ngựa trâu cho nhà thống lí.

– Tính cách của A Phủ rất đặc biệt:

+ Gan góc, có ý thức phản kháng mỗi khi không chịu nổi điều gì (chi tiết: đánh A Sử; để hổ bắt mất một con bò, anh không van xin, không cầu cứu, đêm cúi xuống nhay đứt hai vòng dây trói; khi được Mị cứu, anh quật sức chạy thoát)

+ Tuy nhiên do bị đọa đày triền miên, A Phủ cũng rơi vào tình trạng chấp nhận, cam chịu(chi tiết: tập tễnh đi giết lợn phục dịch những kẻ vừa hành hạ mình; một mình ro ng ruổi ngoài rừng mà không chạy trốn; nghe lời thống lí tự đi lấy cọc, đóng cọc, lấy dây để hắn trói mình) → thói quen cam chịu, cam phận của người nông dân trên các vùng núi cao, khi ánh sáng của Đảng chưa vươn tới. Họ sống như trong đêm tối không biết đường ra, không ai chỉ đường vạch lối. Đến khi cái chết cận kề, họ mới biết dựa vào nhau để giành giật lấy sự sống.

=> Tô Hoài rất biện chứng trong hai mặt đối lập của nhân vật và chỉ ra cho người đọc thấy đó là bước tìm đường, nhận đường của A Phủ để sau này sang Phiềng Sa gặp A Châu (cán bộ Đảng), anh được giác ngộ và sẵn sàng cầm súng trở thành du kích quay về giải phóng quê hương.

* Tnú:

– Khác với A Phủ, câu chuyện về cuộc đời của Tnú được mở ra từ chính câu chuyện về A Phủ được khép lại.

+ Tnú mồ côi nhưng được sống trong vòng tay yêu thương đùm bọc của dân làng Xô Man.

+ Được gần cán bộ cách mạng là anh Quyết, được dạy chữ để sau này tiếp nối làm cán bộ, lãnh đạo phong trào cách mạng ở quê hương

-> Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ.

=> Tnú có những điều kiện mà các nhân vật anh hùng miền sơn cước trước đó chưa có, hay chỉ có khi đã trải qua vô vàn đau khổ, gian truân. Vì thế, ở Tnú đã có những điều kiện thuận lợi và phẩm chất mới mẻ, vượt xa với A Phủ.

– Tnú có một bi kịch đau đớn nhưng vượt lên hoàn cảnh đau thương, anh lên đường vào lực lượng vũ trang tiếp tục chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.

2.3 Đánh giá chung:

– Khẳng định tài năng xây dựng, khắc họa nhân vật của 2 nhà văn.

– Từ điểm giống và khác nhau giữa các nhân vật, cần thấy được: Ở Tnú không có vấn đề tìm đường, nhận đường như nhân vật A Phủ, câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại.

 

  1. ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM QUỲNH LƯU NGHỆ AN

Câu 2 (4,0 điểm)

 Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”…

mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

 (Đất Nước – Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.118 )

Bàn về đoạn thơ trên, có ý kiến cho rằng: Trong đoạn thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cố gắng thể hiện hình ảnh Đất nước gần gũi, giản dị. Đó là cách để đi vào lòng người, cũng là cách nhà thơ đi con đường riêng của mình không lặp lại người khác.

Ý kiến của anh (chị).

Trong đoạn thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cố gắng thể hiện hình ảnh Đất  nước gần gũi, giản dị. Đó là cách để đi vào lòng người, cũng là cách nhà thơ đi con đường riêng của mình không lặp lại người khác.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị- Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miềnNam vùng tạm chiếm về non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc.

– Đoạn trích trên thuộc phần đầu của chương V. Trong đoạn thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cố gắng thể hiện hình ảnh Đất nước gần gũi, giản dị. Đó là cách để đi vào lòng người, cũng là cách nhà thơ đi con đường riêng của mình không lặp lại người khác.

2.2 Giải thích ý kiến:

Ý kiến này khẳng định: nhà thơ đã xây dựng hình ảnh một Đất nước giản dị, quen thuộc với tất cả mọi người chứ không phải là một Đất nước kì vĩ, xa xôi. Nội dung đó được thể hiện qua những hình thức nghệ thuật đặc biệt. Đây chính là nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ.

2.3 Phân tích đoạn thơ để làm rõ ý kiến:

– Cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước:

+ Tác giả đã cảm nhận đất nước trong chiều sâu văn hóa – lịch sử và trong cuộc sống đời thường của mỗi con người. Nhà thơ không dùng niên đại và sự kiện lịch sử để nói về đất nước, mà dùng giọng điệu quen thuộc của cổ tích bắt đầu bằng “ngày xửa ngày xưa…”.

+ Sự ra đời của Đất nước gắn với sự ra đời của những truyện cổ tích, của phong tục ăn trầu và tập quán búi tóc sau đầu, của lối sống chung thủy tình nghĩa, của truyền thống chống ngoại xâm kiên cường và bền bỉ, của truyền thống lao động cần cù, của cách ăn cách ở trong sinh hoạt… Nói cách khác, sự ra đời của Đất nước gắn liền với sự hình thành văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của người Việt Nam, gắn với đời sống gia đình. Những gì làm nên Đất nước cũng là những gì làm nên điệu hồn dân tộc, làm nên sự sống của mỗi người. Vì vậy mà Đất nước hiện lên vừa thiêng liêng, tôn kính, lại vừa gần gũi, thân thiết.

– Cái đặc biệt của Nguyễn Khoa Điềm là đã nói về sự ra đời của Đất Nước bằng một cách nói giản dị đến bất ngờ. Đó là:

+ Sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian (dùng những hình ảnh gần gũi trong cuộc hằng ngày, những tình cảm gia đình thân thương, những hình ảnh quen thuộc của ca dao, cổ tích, truyền thuyết…). Tác giả chỉ bắt lấy linh hồn của những câu chuyện, những phong tục…để từ đó đem đến cho người đọc những trường liên tưởng sâu xa. Vì vậy mà Đất nước trong mỗi người đẹp một cách riêng đồng thời Đất Nước hiện lên trong tâm thức người đọc cả một chiều dài văn hóa.

+ Kết hợp chất chính luận và trữ tình. Giọng thơ trữ tình trầm lắng, cảm xúc dồn nén. Nén trong từng câu chữ là vốn sống, vốn văn hóa, tình yêu Đất nước. Ngôn ngữ dung dị.

2.4 Bình luận về ý kiến:

– Đây là một ý kiến chính xác đã khái quát được giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ và thấy được những phát hiện mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về đề tài Đất nước

– Đất nước của Nhân dân, của ca dao thần thoại, của đời thường. Bởi vậy, mỗi nhà thơ khi sáng tạo cần tạo cho mình một lối đi riêng, đó là con đường duy nhất để khẳng định tên tuối của nhà thơ, sức sống của tác phẩm.

 

  1. TÂY TIẾN QUANG DŨNG SẦM SƠN THANH HÓA

Câu 2 (4 điểm):

Về bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có ý kiến cho rằng: “Đó là bài thơ đậm chất lãng mạn. Ý kiến khác thì khẳng định: “Đó là một bài thơ đậm chất bi tráng”.

Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận về các ý kiến trên?

Về bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có ý kiến cho rằng: “Đó là bài thơ đậm chất lãng mạn. Ý kiến khác thì khẳng định: “Đó là một bài thơ đậm chất bi tráng”.

1 Giới thiệu chung:

– Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài song ông được biết đến nhiều nhất với tư cách là một nhà thơ. Ông cũng là một trong những tác giả tiêu biểu cho nền thơ ca kháng chiến Việt Nam.

Tây Tiến (1948) là thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, là bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc. Nhận xét về bài thơ Tây Tiến có ý kiến cho rằng: “Đó là bài thơ đậm chất lãng mạn, ý kiến khác thì khẳng định: “Đó là một bài thơ đậm chất bi tráng”.

 2 Phân tích, chứng minh:

2.1 Giải thích:

– Ý kiến thứ nhất khẳng định “Tây Tiến” đậm chất lãng mạn tức là chưa những cảm xúc mãnh liệt có xu hướng vươn tới vẻ đẹp phi thường bằng việc sử dụng thủ pháp tương phản, xây dựng những hình tượng phi thường để thể hiện trí tưởng tượng phong phú, bay bổng của người nghệ sĩ.

– Ý kiến thứ hai khẳng định tác phẩm dậm chất bi tráng. Một tác phẩm có tinh thần bi tráng đề cập đến những mất mát đau khổ, gian khổ nhưng không gợi cho người đọc cảm giác bi quan. Cảm xúc, hình tượng trong tác phẩm khỏe khoắn, mạnh mẽ, khơi gợi cho người đọc đến niềm tin, khát vọng về cuộc sống.

2.2 Biểu hiện:

a Chất lãng mạn:

– Xuyên suốt cả bài thơ là nỗi nhớ tha thiết khắc khoải của tác giả, một nỗi nhớ dâng trào, tha thiết cho nên cảm xúc đã bùng thổi từ những câu đầu; nỗi nhớ của nhà thơ nhiều khi thổn thức; có lúc nhà thơ phân thân tự hỏi bản thân, hỏi vào nỗi nhớ khắc khoải trong tâm can: “Có nhớ…hoa đong đưa”; đến 4 câu cuối bài, nỗi nhớ đã vượt khỏi không gian.

– Nỗi nhớ của nhà thơ hướng đến nhiều đối tượng, cảnh sắc thiên nhiên, con người Tây Bắc dọc đường hành quân can trường và hào hoa. Nỗi nhớ ấy dâng trào, tràn đầy bài thơ vì thế kỷ niệm hiện lên rất sống động, tươi nguyên như vừa mới xảy ra.

– Cảm xúc lãng mạn còn thể hiện trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, hữu tình

=> Với một hồn thơ lãng mạn, Quang Dũng rất nhạy cảm với phương xa xứ lạ. bài thơ đã vẽ ra một bức tranh núi rừng Tây Bắc xa xôi với những cảnh tượng khó quên, khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc.

– Chất lãng mạn còn được đẩy cao hơn qua hình tượng người lính kiêu dũng, ngang tàn, đặc biệt là hào hoa, lãng mạn:

+ Say mê cái đẹp thiên nhiên

+ Giấc mơ tình yêu

+ Khát vọng lập công cao cả

+ Tư thế hi sinh trang trọng, mãnh liệt.

– Sử dụng bút pháp lãng mạn trong đó phát huy chất lãng mạn ở nhiều cấp độ: hình ảnh, thanh điệu bằng trắc giữa ngoại hình và ý chí, giữa hiện thực và tâm hồn. Cùng với thủ pháp phóng đại, tác giả xây dựng những hình tượng mạnh, dữ dội.

b Chất bi tráng:

– Tác phẩm khắc họa chặng đường gian nan để từ đó tô đậm tư thế ngang tàn, dũng cảm của người lính.

– Quang Dũng không hề che dấu sự gian khổ, khó khăn trên những chặng đường hành quân, những căn bệnh hiểm nghèo và cả những hi sinh mất mát của người lính.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

 Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

 …

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

– Trong gian khổ, mất mát, đau thương, họ vẫn luôn giữ nét trẻ trung, hào hoa, lãng mạn của những chàng trai Hà thành “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

– Những câu thơ khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ. Người lính Tây Tiến không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Đó là dũng khí tinh thần và hành động cao đẹp. Tư thế ra trận, lý tưởng lên đường hào hùng mà bi tráng.

– Họ luôn giữ trọn lời thề chung thủy với cách mạng, với Tây Tiến: “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

=> Tác giả không né tránh mất mát, hi sinh khơi gợi ở người đọc niềm xót xa, thương cảm nhưng điều đáng nói là nhà thơ không gợi cho người đọc cảm giác bi lụy mà vẫn ngưỡng mộ, đầy tự hào.

2.3 Đánh giá:

– Cả hai ý kiến đều đúng nhưng chưa đủ.

– Cảm hững lãng mạn và tinh thần bi tráng hòa quyện, xuyên thấu vào nhau để tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ hiện thực gian khổ, mất mát tạo cho cảm xúc, hình tượng thơ vẻ đẹp bi tráng. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng gợi vẻ đẹp một thời, thể hiện gian khổ mà lạc quan.

– Thể hiện tài năng của tác giả.

 

  1. ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM SÔNG LÔ LẦN 2

Câu 3 (5,0 điểm):

Cảm nhận của anh/chị về chất dân gian trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.

Cảm nhận của anh/chị về chất dân gian trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích:

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị

– Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miềnNam vùng tạm chiếm về non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc.

– Đoạn trích Đất Nước (thuộc phần đầu của chương V) thể hiện một cách cảm nhận mới về Đất Nước. Qua đó, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Tác giả đã sử dụng nhuần nhị, sáng tạo chất dân gian để đem lại sức hấp dẫn riêng cho đoạn trích.

2 Cảm nhận chất dân gian trong đoạn thơ :

a/ Thành công của đoạn trích một phần lớn là ở việc tạo ra một không khí, một giọng điệu, một không gian nghệ thuật riêng đưa ta vào thế giới gần gũi, mĩ lệ và bay bổng của ca dao, truyền thuyết, của văn hóa dân gian nhưng lại mới mẻ qua cách cảm nhận, tư duy hiện đại với hình thức câu thơ tự do. Đó chính là nét đặc sắc thẩm mĩ, thống nhất với tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” của đoạn trích.

b/ Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng và sáng tạo:

– Có phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than, con cúi,…).

– Có ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích. Cách vận dụng của tác giả thường là chỉ gợi ra bằng một vài chữ của câu ca dao hay một hình ảnh, một chi tiết trong truyền thuyết, cổ tích, trừ trường hợp câu dân ca Bình – Trị – Thiên được lấy lại gần nguyên vẹn (“Con chim phượng hoàng… biển khơi“).

c/ Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, có thể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này.

d/ Qua chất liệu văn hóa, văn học dân gian, Nguyễn Khoa Điềm đã làm hiển hiện diện mạo tinh thần của nhân dân với vẻ đẹp tâm hồn, lối sống trọng nghĩa nặng tình, thủy chung, đoàn kết, cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu… Tất cả đã góp phần làm rõ tư tưởng chủ đề của đoạn trích: Đất Nước của Nhân Dân.

3 Đánh giá:

– Thơ Nguyễn Khoa Điềm vốn giàu chất suy tưởng và triết lí, được thể hiện qua câu thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt nên đoạn thơ còn có sự kết hợp hài hòa giữa chất dân gian và chất hiện đại.

– Việc vận dụng chất liệu văn hóa, văn học dân gian đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng.

 

  1. RỪNG XÀ NU NGUYỄN TRUNG THÀNH TÂN YÊN BẮC GIANG LẦN 1

Câu 2. (4 điểm)

Qua nhân vật Tnú (“Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành) và Việt (“Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi), cảm nhận vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

Nghị luận văn học

2.1 Giới thiệu chung:

 -Nguyễn Thi và Nguyễn Trung Thành là hai nhà văn cách mạng nổi bật.

– Tác phẩm: “Rừng xa nu” và Những đứa con trong gia đình viết về những con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ với niềm tự hào, ngợi ca sâu sắc.

– Qua hai nhân vật Tnu và Việt, ta thấy rõ vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

2.2 Cảm nhận về 2 nhân vật:

  1. Nhân vật Tnu’:

– Tnú là đứa con của làng Xôman, nơi từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo vệ cán bộ.

– Tnú rất gắn bó với cách mạng :

+ Từ nhỏ, Tnú là một cậu bé gan góc, dũng cảm, trung thực, được giác ngộ cách mạng.

+ Tnú bị giặc bắt khi làm liên lạc, bọn giặc đã khủng bố, tra khảo anh: “Cộng sản ở đâu”. Tnú đã dõng dạc đặt tay lên bụng trả lời “Cộng sản ở đây này”. Sau câu trả lời ấy lưng Tnú dọc ngang vết dao chém của giặc.

+ Khi trưởng thành: thay anh Quyết lãnh đạo phong trào cách mạng, bàn tay bị cụt đốt nhưng vẫn đi bộ đội, vẫn cầm súng đánh giặc…

+ Vẻ đẹp của nhân vật bộc lộ sáng chói qua đoạn cao trào đầy kịch tính của truyện khi vợ con bị giặc giết, bản thân anh bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay bằng chính nhựa xà nu của quê hương, khơi dậy cao độ lòng căm thù giặc của cả buôn làng.

– Tnú là một con người giàu tình cảm yêu thương: yêu thiết tha bản làng, gắn bó thân thiết với cảnh và người ở quê hương mình; yêu thương vợ con tha thiết, ấp ôm một kỉ niệm đớn đau về cái chết của vơ con…

– Câu chuyện của Tnú được cụ Mết kể lại trong một không khí trang nghiêm của núi rừng. Lối kể như lối kể khan của người Tây Nguyên, lời kể đan xen lời trần thuật ở ngôi thứ ba như sống lại cái không khí linh thiêng hào hùng của những thiên sử thi Tây Nguyên và toát lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời chống Mĩ .

  1. Nhân vật Việt:

– Là đứa con trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Nam Bộ.

– Việt có nét riêng dễ mến lộc ngộc, vô tư của cậu con trai mới lớn, nhưng sự trẻ con vô tư vẫn không ngăn cản Việt trở thành một dũng sĩ giệt Mĩ. Ngược lại, chính nó càng làm cho phẩm chất anh hùng của Việt ngày thêm độc đáo. Thù nhà, nợ nước đã nuôi dưỡng Việt trở thành một chiến sĩ giải phóng gan góc, có ý chí chiến đấu dũng cảm, kiên cường :

+ Khi còn nhỏ dám xông thẳng vào đá thằng giặc vừa giết hại cha mình.

+ Khi chưa đủ tuổi tòng quân, Việt nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má.

+ Khi xung trân, Việt chiến đấu rất dũng cảm.

+ Khi bị thương, lạc đồng đội, Việt vẫn trong tư thế chờ tiêu diệt giặc.

– Việt là người rất giàu tình cảm, gắn bó với gia đình : hình ảnh những người thân trong gia đình lúc nào cũng ở trong tâm trí. Trong hoàn cảnh bi đát nhất, Việt luôn nghĩ về người thân để tìm điểm tựa cho tâm hồn, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để anh vượt qua khó khăn trở ngại.

– Nhân vật được khắc họa sống động, chân thực nhờ nhà văn chọn lối trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể truyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn, lời kể thì theo giọng điệu của nhân vật. Nói cách khác, Nguyễn Thi đã trao ngòi bút của mình cho Việt để qua dòng hồi ức, Việt có thể tự viêt về mình bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng.

2.3 Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ:

– Đều là những người con được sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, của dân tộc.

– Dù phải chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc nhưng ở họ luôn ngời sáng tinh thần chiến đấu, thủy chung với cách mạng và lòng căm thù giặc sâu sắc. Ở họ có sự kết tinh sức mạnh, tình cảm, lí tưởng cao đẹp của con người Việt Nam qua các thế hệ .

2.3 Đánh giá:

– Hai nhân vât trong hai tác phẩm là đại diện tiêu biểu của con người Việt Nam trong thời chống Mĩ, tuy nhiên ở họ vẫn có những nét riêng góp phần thể hiện phong cách độc đáo của mỗi nhà văn :

+ Tnú là nhân vật được kết tinh từ vẻ đẹp tiêu biểu nhất của con người mang đậm dòng máu, tính cách của núi rừng Tây Nguyên với hình ảnh, vóc dáng vạm vỡ chứa trong đó cái mênh mang, trong sạch, hoang dại của núi rừng. Qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành còn gợi ra được số phận và phẩm chất của cả cộng đồng trong cuộc chiến đấu bảo vệ buôn làng thân yêu.

+ Việt đậm chất Nam Bộ ở ngôn ngữ, tính cách sôi nổi, bộc trực, trọng nghĩa. Việt là nhân vật tiêu biểu cho lớp trẻ, nòng cốt của thời đại cách mạng. Qua nhân vật Việt, nhà văn đã ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong mỗi gia đình.

=> Qua đây làm nổi bật những tấm gương cao đẹp, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bồi dưỡng khí phách, tâm hồn cho những thế hệ mai sau.

 

  1. VỢ NHẶT – KIM LÂN TIÊN HƯNG THÁI BÌNH

Câu 2: (4 điểm)

Phân tích đoạn văn sau: Từ đoạn văn anh/ chị hãy bình luận ngắn gọn về tư tưởng nhân đạo mà nhà văn Kim Lân đã gửi gắm trong truyện ngắn “Vợ Nhặt”

… “ Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, nhũng mong con sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì.. Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dong nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.

 Bà lão khẽ thở dài ngưng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà, Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái giai đoạn này thì con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?

Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng , nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng… Tràng thở đánh phảo một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:

Nhà ta nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá … Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau. Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ nó trước đây không?…

Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân. Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi, người đàn bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật:

Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…

Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.”

 (Vợ nhặt – Kim Lân)

Phân tích đoạn trích trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân và bình luận ngắn gọn về tư tưởng nhân đạo mà nhà văn Kim Lân đã gửi gắm trong truyện.

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Truyện khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống. Điều đó được thể hiện rõ nét qua đoạn trích: “Bà lão cúi đầu nín lặng… nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”.

2.2 Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích:

a/ Cuộc đời, số phận: nghèo khổ, bất hạnh (sống phận mẹ góa con côi ở xóm ngụ cư, con trai lại nhặt được vợ trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp).

b/ Tính cách, phẩm chất: giàu tình thương con; nhân hậu; nhạy cảm và từng trải; lạc quan, tin yêu vào cuộc sống.

* Tình thương con và tấm lòng nhân hậu của một người mẹ thấu hiểu lẽ đời:

– Trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, bà cụ Tứ “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình“. Bà hờn tủi cho thân mình đã không làm tròn bổn phận với con. Giọt nước mắt của cụ vừa ai oán, xót xa, buồn tủi vừa thấm đẫm tình yêu thương cụ dành cho con.

– Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng“. Bà thật sự mong muốn các con sẽ hạnh phúc.

– Ân cần dặn dò, chỉ bảo các con yêu thương, hòa thuận với nhau, chăm chỉ làm ăn.

* Niềm lạc quan, tin yêu cuộc sống:

– Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con. Bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.

c/ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo, éo le và cảm động; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và sắc sảo; ngôn ngữ nhân vật có màu sắc riêng; nghệ thuật kể chuyện sinh động, tự nhiên.

2.3 Nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt:

– Xót thương cho cuộc đời đau khổ, tủi nhục, thân phận rẻ rúng, bèo bọt, vô giá trị của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

– Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến gây ra nạn đói, đẩy người nông dân đến bờ vực của cái đói, cái chết.

– Phát hiện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người lao động: tình người cao đẹp, khát vọng hạnh phúc gia đình, lạc quan và tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống.

– Tin tưởng vào sự đổi đời của các nhân vật qua hình ảnh lá cờ Việt Minh và đoàn người đi phá kho thóc của Nhật.

=> Tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc, mới mẻ, tiến bộ.

2.4 Đánh giá:

– Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng nghệ thuật độc đáo, thể hiện được chủ đề, tư tưởng của truyện ngắn.

– Tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Kim Lân đã góp phần đưa tác phẩm Vợ nhặt trở thành một trong những kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam.

 

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI THÁI NGUYÊN

Câu 2(4đ)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích sau: Cảm nhận

“… Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút. Khói thuốc phiện ngào ngạt ruôn ra các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút.

Trong buồng bên cạnh, Mị cũng thức suốt đêm im lặng ngồi xoa thuốc dầu cho chồng. Lúc nào Mị mỏi quá, cựa mình, thì những chỗ lần trói trong người lại đâu ê ẩm. Mị lại gục đầu nằm thiếp đi. Khi đó, A Sử bèn đạp chân vào mặt Mị. Mị choàng thức, lại nhặt nắm lá thuốc, xoa đều đều trên lưng chồng. Ngoài nhà vẫn rên lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiện gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch… ”

( Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài )

2 Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

2.1 Giới thiệu chung:

– Tác giả Tô Hoài: Là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục tập quán của những miền đất ông đã từng đi qua.

– Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn trong tập “Truyện Tây Bắc” – kết quả của chuyến đi Tây Bắc. Tác phẩm viết về số phận đau khổ của người dân dưới chế độ phong kiến miền núi và sức mạnh phản kháng tiềm tàng trong những con người – nạn nhân này.

– Nội dung của đoạn văn trên: Cảnh xử phạt A Phủ và cảnh Mị bị chồng bạc đãi.

2.2 Cảm nhận: a/ Cảnh xử phạt A Phủ:

* Vài nét về A Phủ và lí do A Phủ bị phạt vạ:

– A Phủ có cảnh ngộ đáng thương: mồ côi cha mẹ, bị bắt bán đổi lấy thóc cho người Thái ở dưới cánh đồng. Tính tình gan bướng, A Phủ bỏ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài, đi ở cho nhà người ta.

– Một lần, A Phủ đánh A Sử – con trai thống lí để bảo vệ công lí, bảo vệ cuộc vui của trai làng nên bị đánh, trói, mang về xử tội.

* Cảnh xử phạt:

– Diễn ra tại nhà thống lí Pá Tra, theo phong tục của người miền núi.

– 2 hình ảnh đối lập:

+ Bọn quan chức: nằm hút thuốc phiện, xem A Phủ bị đánh, hút liên tục, “Khói thuốc phiện ngào ngạt ruôn ra các lỗ cửa sổ”.

+ A Phủ: quỳ giữa nhà, bị một bọn người xô đến đánh “Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu”. A Phủ bị đánh liên tục, suốt chiều, suốt đêm.

-> Tạo thành 1 vòng liên hồi, không ngừng nghỉ “Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Chúng ra sức hành hạ, đánh đập A Phủ như một lạc thú, cũng như cái thú hút thuốc phiện vậy. Với “ khát vọng” trả thù những ai dám xúc phạm uy danh của chúng, những ai xúc phạm lợi ích, uy tín của chúng, bọn cường hào không mảy may trước nỗi đau khổ hay thậm chí cái chết của người dân. A Phủ cam chịu, nhẫn nhục, không có cách giải thoát nào khác.

– Nghệ thuật: bút pháp miêu tả chân thực, nghệ thuật tương phản làm rõ bản chất của bọn quan lại và sự thống khổ của A Phủ, phép liệt kê tái hiện không khí căng thẳng đến nghẹt thở của buổi xử phạt.

* Ý nghĩa:

– Vạch trần bộ mặt tàn ác và đời sống trụy lạc của bọn thống trị.

– Phản ánh thân phận nô lệ đau khổ, thấp hèn của người dân lao động miền núi.

b/ Cảnh Mị bị chồng bạc đãi:

* Vài nét về Mị:

– Là một cô gái xinh đẹp, có tài nhưng phải làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra.

– Mị bị bóc lột sức lao động, bị đối xử thậm tệ, không bằng con trâu, con người đến mức chai lì, mất khả năng phản kháng.

* Cảnh Mị bị chồng bạc đãi:

– Diễn ra cùng lúc với việc phải chứng kiến một cuộc phạt vạ kinh hoàng.

– A Sử bị đánh, được đưa về nhà. Mị phải thức suốt đêm im lặng ngồi xoa thuốc dầu cho chồng, khắp người nhức mỏi, ê ẩm vì vừa bị trói ở cột nhà trước đó.

– Mị mệt quá ngủ quên liền bị A Sử đạp chân vào mặt, Mị lại tiếp tục xoa thuốc cho chồng.

– Nghệ thuật : Miêu tả chân thực, tỉ mỉ qua những câu văn dài, đặt trong sự tương đồng với thân phận của A Phủ và đối lập với cha con Pá Tra.

* Ý nghĩa:

– Phản ánh cuộc sống đau khổ cùng cực của Mị ở nhà thống lí Pá Tra.

– Phản ánh bộ mặt độc ác, thô lỗ của A Sử.

2.3 Đánh giá:

– Qua đoạn trích, ta thấy được bức tranh cuộc sống ở miền núi Tây Bắc thời trước cách mạng tháng 8.1945: giai cấp thống trị tàn ác, vô nhân tính, ra sức bóc lột dân nghèo; tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu, người dân lao động thì đau khổ, bế tắc, bị đối xử tàn tệ, không bằng con vật.

=> Khẳng định đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc. Qua đó, ta cũng thấy được tài năng nghệ thuật của Tô Hoài – cây bút truyện ngắn am hiểu sâu sắc về cuộc sống, phong tục và con người vùng cao.

 

  1. ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM THANH HÓA LẦN 1

Câu 2 (4,0 điểm)

 Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…

 (Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.118-122)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ:

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị

– Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miềnNam vùng tạm chiếm về non sông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc.

– Đoạn trích trên thuộc phần đầu của chương V, là cái nhìn mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước.

2 Cảm nhận về đoạn thơ:

* Trong đoạn thơ, Đất Nước được nhìn ở tầm gần và hiện hình qua lời tâm sự của anh em. Bởi thế, “khuôn mặt” đất nước trở nên vô cùng bình dị, thân thiết. Tình cảm dành cho đất nước vô cùng chân thật, được nói ra từ chiêm nghiệm, trải nghiệm của một con người cá nhân nên có khả năng làm lay động thấm thía tâm hồn người đọc.

– Sáu câu đầu của đoạn thơ như muốn trả lời cho câu hỏi: Đất nước là gì? Đất nước ở đâu? Lời đáp thật giản dị nhưng cũng hàm chứa những bất ngờ: Đất nước không tồn tại ở đâu xa mà có trong mỗi một con người; mỗi người đều mang một phần đất nước; tổng thể đất nước sẽ được hình dung trọn vẹn khi anh em biết “cầm tay” nhau, “cầm tay mọi người”…

– Hàm ngôn của các câu thơ thật phong phú: sự tồn tại của đất nước cũng là sự tồn tại của ta và chính sự hiện hữu của tất cả chúng ta làm nên sự hiện hữu của đất nước. Hành động “cầm tay” là một hành động mang tính biểu tượng. Nhờ hành động đó, đất nước mới có được sự “hài hoà nồng thắm”, mới trở nên “vẹn tròn to lớn”.

– Ba câu tiếp theo của đoạn thơ vừa đẩy tới những nhận thức – tình cảm đã được triển khai ở phần trên, vừa đưa ra những ý tưởng có phần “lạ lẫm”: Mai này con ta lớn lên / Con sẽ mang Đất Nước đi xa / Đến những tháng ngày mơ mộng. Thực chất, đây là một cách biểu đạt đầy hình ảnh về vấn đề: chính thế hệ tương lai sẽ đưa đất nước lên một tầm cao mới, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn với nỗ lực vun đắp đầy trách nhiệm cho cộng đồng của rất nhiều thế hệ nối tiếp nhau, mà thế hệ của chúng ta chỉ là một mắt xích trong đó.

– Trong bốn câu thơ cuối, cảm xúc được đẩy tới cao trào. Nhân vật trữ tình thốt lên với niềm xúc động không nén nổi: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình / Phải biết gắn bó và san sẻ / Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở / Làm nên Đất Nước muôn đời… Đoạn thơ có những câu mang sắc thái mệnh lệnh với sự lặp lại cụm từ “phải biết”, nhưng đây là mệnh lệnh của trái tim, của tình cảm gắn bó thiết tha với đất nước. Từ Đất Nước được viết hoa, lặp lại 6 lần là bản thông điệp về trách nhiệm và lòng tự hào của tuổi trẻ đối với đất nước.

3 Đánh giá chung:

– Cách bày tỏ tình yêu nước của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn thơ này thật độc đáo, nhưng quan trọng hơn là vô cùng chân thật. Điều đó đã khiến cho cả đoạn thơ, cũng như toàn bộ chương thơ đã được bao nhiêu người đồng cảm, chia sẻ, xem là tiếng lòng sâu thẳm nhất của chính mình.

– Đọc đoạn thơ, ta vừa được bồi đắp thêm những nhận thức về lịch sử, vừa được thuyết phục về tình cảm để từ đó biết suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm của mình đối với đất nước

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI THỪA THIÊN HUẾ

Câu 2 ( 4,0 điểm )

Phân tích sức mạnh của tình yêu thương con người khi Mị cứu A Phủ (Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài), Tràng đối với cô vợ theo (Trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân).

Phân tích sức mạnh của tình yêu thương con người khi Mị cứu A Phủ

2 (Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài), Tràng đối với cô vợ theo (Trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân).

2.1 Giới thiệu chung:

Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung.

– Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”.

– Hai tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc với thông điệp về sức mạnh của tình yêu thương con người, thể hiện rõ nét qua đoạn Mị cắt dây trói, giải cứu cho A Phủ và Tràng đối với cô vợ theo.

2.2 Phân tích:

a Sức mạnh của tình thương yêu thể hiện trong đoạn Mị cứu A Phủ:

– Nguyên nhân dẫn đến hành động cắt dây trói của Mị: Mị trông thấy dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Nó khiến Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Mị nhớ lại kí ức đau khổ – lần mình bị trói đứng, thật đau khổ! Từ thương mình mà đồng cảm, thương cho người.

– Từ đó, Mị đã thức tỉnh, tâm hồn được hồi sinh:

+ Nhận ra dấu hiệu về cái chết, phán đoán “chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” -> càng thương hơn và so sánh“người kia việc gì mà phải chết thế”

+ Lần đầu tiên Mị nhìn rõ kẻ thù của mình cũng như những kiếp người đau khổ như mình: “Chúng nó thật độc ác”

+ Nghĩ đến tình huống cha con Pá Tra bảo là Mị cởi trói cho A Phủ, bắt Mị đứng trói thay đến chết trên cái cọc ấy nhưng Mị cũng không sợ -> tình thương vượt lên sự sợ hãi, lấn át cả nỗi thương thân.

– Cắt dây trói cho A Phủ -> hành động tự phát, xuất phát từ tình thương nhưng cũng chính là Mị đang cắt dây trói cho chính mình, chiến thắng cường quyền, thần quyền.

=> Như vậy, chính tình yêu thương con người đã cho Mị sức mạnh để hành động bất chấp nỗi sợ hãi; nó cũng chính là liều thuốc khiến hồi sinh tâm hồn Mị.

b Sức mạnh của tình thương yêu Tràng dành cho “vợ nhặt”:

– Sẵn sàng cho thị ăn và đưa thị về dù Tràng cũng đang trong cảnh đói. Liều lĩnh chấp nhận thị thao làm vợ: Không chỉ là khát khao hạnh phúc mà còn có cá tính thương yêu con người. Đây cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người lao động: sẵn sàng cưu mang, đùm bọc lẫn nhau trong cảnh cơ hàn mà không tính toán, so đo.

– Tình thương yêu đã giúp họ vơi bớt mọi lo toan, buồn khổ và bước đầu đã tìm thấy niềm vui, hạnh phúc, thể hiện qua cảnh dắt díu nhau về làng:

+ Tràng dường như quên hết cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe dọa. Trong lòng Tràng không gợn một chút coi thường thị, ngược lại anh cảm thấy vô cùng vui sướng, hạnh phúc.

+ Thị cũng không hề có chút mặc cảm nào về thân phận “bị nhặt”, cô thay đổi tính cách theo hướng tích cực. Họ thực sự hướng về nhau, tìm thấy ở nhau những cảm xúc hạnh phúc như bất kì đôi tình nhân nào khác.

+ Ngay cả những người dân xóm ngụ cư, mặc dù có chút ngạc nhiên nhưng trên khuôn mặt u ám của họ bỗng rạng rỡ hẳn lên như có một luồng sinh khí mới hiện về.

– Tình thương yêu đã làm đổi thay không khí cuộc sống gia đình bà cụ Tứ và đổi thay cả những con người này (Không khí ấm cúng tràn đầy hạnh phúc trong gia đình, mọi người đều thay đổi theo hướng tốt đẹp).

=> Tình yêu thương con người không chỉ gắn kết những người cùng khổ mà còn làm cho họ trở nên tốt đẹp hơn, thắp lên niềm tin và tình yêu cuộc sống.

2.3 So sánh:

a Giống nhau:

– Sức mạnh của tình thương yêu giúp con người vượt qua tất cả.

– Bằng cái nhìn nhân đạo, nhà văn đã ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người lao động.

– Cả 2 tác giả đều xâu dựng được những tình huống đặc sắc và am hiểu tâm lí nhân vật.

b Khác nhau:

– Hiện thực cuộc sống được phản ánh trong hai tác phẩm khác nhau:

+ Vợ chồng A Phủ là bối cảnh sau cách mạng và trong kháng chiến ở miền núi Tây Bắc.

+ Vợ nhặt lấy bối cảnh là nạn đói trước cách mạng và ở miền xuôi.

– Số phận cụ thể của các nhân vật khác nhau:

+ Mị là nạn nhân của chế độ chúa đất phong kiến ở miền núi.

+ Vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói do bọn phong kiến, thực dân, phát xít gây ra.

  1. SO SÁNH THUẬN THÀNH LẦN 1

Câu 2: (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh, chị về hai đoạn thơ sau:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

(Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn l2, tập l, NXB Giáo dục, tr. 110)

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.

(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn l2, tập l, NXB Giáo dục, tr.l55)

Cảm nhận về hai đoạn thơ:

2.1 Giới thiệu chung:

– Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình, chính trị. “Việt Bắc” là một thành công xuất sắc của ông. Bài thơ thể hiện một cách tinh tế tình cảm cách mạng giữa những người kháng chiến và người dân Việt Bắc.

– Xuân Quỳnh là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. “Sóng” là thi phẩm tiêu biểu cho hồn thơ ấy.

2.2 Cảm nhận về từng đoạn thơ:

a Về đoạn thơ trong bài “Việt Bắc”:

* Nội dung:

– Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ sâu nặng, nghĩa tình của người cán bộ cách mạng với quê hương Việt Bắc.

– Tố Hữu diễn tả nỗi niềm thương nhớ day dứt khôn nguôi của người kháng chiến với Việt Bắc luôn thường trực, da diết như trong nỗi nhớ của tình yêu đôi lứa. “Nhớ gì như nhớ người yêu”. Nhưng nỗi nhớ không dành riêng cho một đối tượng mà nỗi nhớ dành cho tất cả đồng bào và thiên nhiên Việt Bắc. Nỗi nhớ đầy vơi trong lòng, giăng mắc khắp không gian, lung linh bao kỉ niệm.

– Hiện lên trong nỗi nhớ là hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc với cảnh vật bình dị, đơn sơ, đầm ấm: trăng đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương.. .là những hình ảnh rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm, thơ mộng.

– Trên cái nền trữ tình là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương chịu khó. Con người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người kháng chiến về xuôi.

* Nghệ thuật:

– Thể thơ lục bát, nhịp điệu thơ linh hoạt, uyển chuyển, âm hưởng ngọt ngào, tha thiết.

– Hình ảnh thơ giản dị, cách ví von đậm chất dân gian, phép đối, phép điệp hài hòa, cân xứng.

=> Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: phong cách trữ tình đầy cảm xúc, thể thơ lục bát giàu nhạc điệu và đậm sắc màu dân tộc, kết hợp với cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh giàu chất gợi cảm.

b Về đoạn thơ trong bài “Sóng”:

* Nội dung:

– Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ của tình yêu đôi lứa, một nỗi nhớ bao trùm cả không gian, trải dài theo thời gian, ám ảnh cả vào cõi vô thức.

– Nỗi nhớ cồn cào da diết của em được gửi gắm qua hai hình ảnh: sóng và em. Sóng nhớ bờ không ngủ được còn em nhớ anh cả trong mơ vẫn còn thao thức. Sóng hướng vào bờ, em hướng về anh: niềm khát khao gắn bó và ước nguyện thủy chung

– Nỗi nhớ được bộc lộ trực tiếp, bạo dạn, chân thành gợi mở vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ.

* Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, với hình tượng sóng vừa ẩn dụ vừa giàu tính thẩm mĩ, hình ảnh thơ giàu sức gợi, đoạn thơ sâu sắc, nữ tính. Sự so sánh cộng hưởng. Khổ thơ dôi hẳn hai câu đủ sức ôm chứa những cảm xúc vô bờ trong nỗi nhớ tình yêu.

=> Đoạn trích tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh hồn hậu. chân thành, đằm thắm, luôn trăn trở, khát khao một tình yêu thủy chung, bất diệt.

2.3 Đánh giá sự tương đồng, khác biệt:

– Tương đồng: Cả 2 đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ tha thiết, bồi hồi, sâu lắng của người trong cuộc. Nỗi nhớ được diễn tả bằng một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế với một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tài hoa.

– Khác biệt:

+ Đoạn thơ trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu là nỗi nhớ về thiên nhiên,con người Việt Bắc gắn với tình cảm cách mạng ân tình, thủy chung. Đoạn thơ mang màu sắc dân tộc, truyền thống.

+ Đoạn thơ trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh lại là nỗi nhớ của người con gái đang yêu gửi vào hình tượng sóng, gắn với không gian rộng lớn của biển cả. Thể thơ 5 chữ, xây dựng thành công hai hình tượng sóng và em, mang màu sắc hiện đại.

-> Nét tương đồng thể hiện sự gặp gỡ của những tài năng, tấm lòng với con người, quê hương. Nét khác biệt cho thấy sự phong phú, đa dạng của thơ ca Việt Nam hiện đại.

 

  1. RỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH THUẬN THÀNH BẮC NINH

Câu 2: Nghị luận văn học (4 điểm)

“…Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn.

Trong rừng ít có cây sinh sôi nẩy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loáng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, nhưng vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…” (Trích “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành, Ngữ văn 12, tập 2 . NXB giáo dục)

Cảm nhận của anh ( chị) về hình tượng cây xà nu trong đoạn trích trên.Từ đó làm nổi bật ý nghĩa biểu tượng mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm.

Cảm nhận của anh ( chị) về hình tượng cây xà nu trong đoạn trích trên. Từ đó làm nổi bật ý nghĩa biểu tượng mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm.

Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Trung Thành – nhà văn chiến sĩ gắn bó với Tây Nguyên viết thành công về đề tài miền núi.

– Truyện ngắn “Rừng xà nu” được viết năm 1965 in trong tập “Trên quê hương những anh hùng điện ngọc” là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

– Rừng xà nu là hình ảnh gắn bó máu thịt, ông yêu mến khâm phục và viết về nó như một biểu tượng của cuộc sống đau thương, nhưng kiên cường bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên.

2 Trình bày cảm nhận về hình tượng cây xà nu và ý nghĩa biểu tượng của nó:

a Hình tượng xà nu đau thương nhưng vô cùng đẹp đẽ:

– Mở đầu trang viết, nhà văn dùng ngôn ngữ nghệ thuật để chạm khắc hình tượng cây xà nu từ hình khối, màu sắc, hương vị nổi bật nên trong đau thương của lửa đạn chiến tranh

+ “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương” ;

+ “Cây bị chặt đứt ngang nửa thân đổ ào ào như một trận bão” ;

+ “Chỗ vết thương nhựa ứa ra … thành từng cục máu lớn”.

+ “Có cây vứt thương loét ra năm mười hôm sau cây chết Những dòng văn gây ấn tượng mạnh cho người đọc về sự khốc liệt của chiến tranh, nghệ thuật miêu tả, nhân hóa , so sánh đã hình tượng hóa, biểu đạt nỗi đau thương.

b Xà nu có sức sống mãnh liệt diệu kỳ, kiên cường trong bom đạn của kẻ thù:

– Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở khỏe như xà nu. Đạn đại bác không thể giết nổi chúng

– Cạnh một cây ngã gục có bốn năm cây con mọc lên. Ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời.

– Cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao lông vũ…

– Ba bốn năm nay ưỡn tâm ngực lên che trở cho dân làng

=> Xà nu hiện lên như một dũng sĩ thực thụ

c Hình tường xà nu được xây dựng như một nhân vật anh hùng, biểu tượng cho vẻ đẹp, sức sống kiên cường, bất diệt của con người Tây Nguyên:

– Nhà văn dùng thủ pháp nghệ thuật tượng trưng và nhân hóa để xây dựng cây xà nu, rừng xà nu như một nhân vật anh hùng.

+ Ngay mở đầu tác phẩm , Nguyễn Trung Thành đã đặt hình tượng rừng xà nu trong thế đối lập giữa sự sống và cái chêt, sự sinh tồn đang đứng trước thảm họa diệt vong. Cũng như làng Xô Man chịu nhiều đau thương mất mát. Trong những trận càn quét của kẻ thù

+ Xà nu khao khát sống, hào hứng phóng lên bầu trời rộng lớn đón ánh mặt trời như dân làng Xô Man yêu và khao khát tự do.

+ Xà nu có sức sống bền bỉ dẻo dai mãnh liệt “Cạnh một cây mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên” giống như các thế hệ làng Xô Man trong sự đàn áp dã man của kẻ thù khao khát sống. Người này ngã xuống người kia đứng lên nối tiếp nhau đánh giặc: Anh Quyết hi sinh có Tnú thay thế; Mai ngã xuống có Dít và bé Heng lớn lên. Phẩm chất của họ trong sạch như nhưa cây xà nu, sức sống cả họ bền bỉ dẻo dai kiên cường mãnh liệt như rừng xà nu. Họ yêu Đảng yêu nước như cây xà nu vươn lên tìm ánh sáng, ánh nắng mặt trời.

+ Các thế hệ làng Xô Man tương ứng với các thế hệ cây xà nu. “Cụ Mết ở trần ngực căng như một cây xà nu lớn”. Đây chính là cây xà nu cổ thụ hội tụ tất cả sức mạnh của rừng xà nu. Tnú cường tráng như một cây xà nu được toi luyện trong đau thương, trưởng thành mà “đạn đại bác không thể giết nổi chúng. Dít trưởng thành phóng lên rất nhanh tiếp ánh sáng khí trời, còn bé Heng là mầm xà nu mới nhú đang được các thế hệ tạo cho những tố chất cần thiết để sẵn sàng thay thế trong cuộc chiến căm go kéo dài.

c Nghệ thuật miêu tả:

– Trang văn đậm chất sử thi, lời văn trau chuốt giàu hình ảnh

– Sử dụng nghệ thuật miêu tả, so sánh, nhân hóa như một phương thức tu từ chủ đạo khiến xà nu trở thành hình ảnh ẩn dụ.

4 Đánh giá, kết thúc vấn đề:

– Xà nu không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, cảnh tượng chiến trường bi trạng mà tượng trưng cho sức sống, tinh thần quật khởi , khí phách anh hùng của đồng bào Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam. Đây là lý do Nguyễn Trung Thành chọn nhan đề cho tác phẩm là “Rừng xà nu”– một loại cây hùng vĩ, cao thượng, man dại và trong sạch”, mang đậm nét sử thi.

  1. TÂY TIẾN – QUANG DŨNG TRẦN PHÚC VĨNH PHÚC

Câu 2. (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

 (Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

 (Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ:

1 Giới thiệu khái quát về 2 tác giả, 2 tác phẩm, 2 đoạn trích:

– Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn. Còn Tố Hữu (1920-2002), quê ở Huế, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc.

Tây Tiến (1948), Việt Bắc (1954) đều là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.

– Hai đoạn thơ trên đều viết về nỗi nhớ của các tác giả với núi rừng Tây Bắc và một quãng đời không thể nào quên.

2 Phân tích:

a Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

* Vị trí đoạn thơ: nằm ngay phần mở đầu của bài thơ.

* Nội dung:

– Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về mảnh đất miền Tây và đoàn quân Tây Tiến. Mỗi địa danh được nhắc đến “Sông Mã” “Sài Khao” “Mường Lát” – là một chặng đường hành quân, cũng là một chặng đường đời của nhà thơ nói riêng và những người lính Tây Tiến nói chung. Đó là “chứng nhân” lịch sử cho những gian khổ và hào hùng mà họ đã trải qua. Bởi thế mà tiếc nuối bâng khuâng “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”, mà tha thiết “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi“.

– Thiên nhiên miền Tây trong nỗi nhớ vừa hoang vu, khắc nghiệt, dữ dội lại vừa thơ mộng, trữ tình:

+ Gọi tên địa danh: gợi sự xa xôi, hoang vắng. “Sương lấp”: khắc nghiệt, dữ dội.

+ Cũng có khi sương lại mềm mại như những chùm hoa “hoa về trong đêm hơi”

– Qua miêu tả thiên nhiên, tác giả gián tiếp gợi lên những vất vả, gian khổ của đời lính Tây Tiến.

* Nghệ thuật:

– Hình ảnh thơ có sự hài hòa giữa nét thực và ảo, vừa mông lung vừa gợi cảm về cảnh và người (bút pháp lãng mạn).

– Nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc (câu mở đầu như một tiếng gọi vang vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần (rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi) với điệp từ nhơ và lối đối uyển chuyển (câu 3 với câu 4) đã tạo ra một âm hưởng tha thiết, ngậm ngùi.

b Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

* Vị trí: đoạn thơ nằm ở phần đầu của bài thơ Việt Bắc

* Nội dung:

– Đây là lời của người đi (những cán bộ kháng chiến đã từng gắn bó và công tác ở Việt Bắc, trong đó có Tố Hữu), khẳng định với người ở lại rằng: dù về xuôi, dù xa cách nhau về không gian địa lí nhưng vẫn nhớ Việt Bắc như nhớ người yêu. Từ đó, muốn nói nỗi nhớ của tình yêu là nỗi nhớ cháy bỏng, nỗi da diết nhất, thường trực nhất, để từ đó khẳng định nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của mình với Việt Bắc – suối nguồn nuôi dưỡng của cách mạng.

– Sau lời khẳng định là những hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc đẹp như khúc hát đồng quê. Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương,.. là hình ảnh rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm, thơ mộng ở Việt Bắc. Trên cái nền trữ tình là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương chịu khó. Con người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người về xuôi. * Nghệ thuật:

– Các hình ảnh trong hoài niệm nhưng hiện lên thật cụ thể, rõ nét, chứng tỏ sự gắn bó sâu sắc và nỗi nhớ tha thiết.

– Thể thơ lục bát cùng với biện pháp so sánh, điệp từ… đã góp phần thể hiện sâu sắc nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của người về.

c So sánh hai đoạn thơ:

– Điểm tương đồng:

+ Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ của người trong cuộc: tha thiết, bồi hồi, sâu lắng về thiên nhiên và con người một thời gắn bó, yêu thương trong kháng chiến.

+ Đều thể hiện phong cách thơ độc đáo, tấm lòng thủy chung son sắt của những người trong cuộc đối với những mảnh đất một thời gắn bó.

– Điểm khác biệt:

+ Nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng được bộc lộ trực tiếp, cụ thể: nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi. Hai chữ chơi vơi vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ và nỗi nhớ da diết, thường trực, ám ảnh, mênh mông bao trùm cả không gian, thời gian. Nỗi nhớ của Tố Hữu trong đoạn thơ dùng nỗi nhớ tình yêu để khẳng định nỗi nhớ với quê hương cách mạng.

+ Hai đoạn thơ (cũng như toàn bài thơ) sử dụng hai hình thức khác nhau để bộc lộ cảm xúc: Tây Tiến sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên. Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát.

– Lí giải:

+ Hai bài thơ đều được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

+ Quang Dũng và Tố Hữu là hai nhà thơ, hai chiến sĩ, viết về nỗi nhớ của người trong cuộc. Mỗi nhà thơ có phong cách sáng tạo nghệ thuật riêng.

3 Đánh giá chung:

Với hồn thơ đậm đà tính dân tộc, lãng mạn, hào hoa, phóng khoáng, Tố Hữu và Quang Dũng đã làm nổi bật nỗi nhớ thiết tha, sâu nặng về quê hương cách mạng và đơn vị cũ.

 

  1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH VIỆT YÊN BẮC GIANG

Câu 2: (4,0 điểm)

Kết thúc bản “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”

Dựa vào những hiểu biết về tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”, anh (chị) hãy phân tích đoạn văn trên để làm sáng tỏ những tư tưởng lớn của Người.

Dựa vào những hiểu biết về tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”, phân tích đoạn văn để làm sáng tỏ những tư tưởng lớn của Người.

I Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

– Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực.

– Ở thể loại văn chính luận, Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945. Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố đanh thép và hùng hồn, đã kết tinh một cách sáng ngời những nội dung cơ bản của “Tuyên ngôn Độc lập”.

II Phân tích:

1 Trước hết, Hồ Chủ tịch khẳng định “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập” vì đó là điều phù hợp với đạo lí và pháp lí:

– Đất nước và con người Việt Nam cũng như tất cả mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi người “đều sinh ra có quyền bình đẳng (…), có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” . “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập” bởi lẽ “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

– Từ nhân quyền, Hồ Chủ tịch đã “suy rộng ra”, nói đến quyền tự quyết của mọi dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Lẽ phải ấy không ai chối cãi được và vô cùng thiêng liêng. Sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp thống trị, lời tuyên bố “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập” biểu lộ niềm tự hào dân tộc và khát vọng độc lập, tự do của đất nước và con người Việt Nam.

– Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, “và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Đó là một thực tế lịch sử không ai chối cãi được. Hồ Chủ tịch đã vạch trần những tội ác dã man về chính trị, về kinh tế của thực dân Pháp đối với dân tộc ta trong suốt 80 năm trời. Chúng áp bức, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, “khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”. Thực dân Pháp đã tước đoạt tự do, dìm nhân ta vào máu và nước mắt trong đêm trường nô lệ: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”,… Thực dân Pháp chỉ trong vòng 5 năm (1940- 1945), chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Pháp và Nhật đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu (1945) làm cho hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Trước khi thua chạy (9.3.1945), bọn thực dân Pháp “còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Đó là lẽ phải, là sự thật lịch sử không ai chối cãi được. Cách mạng tháng Tám bùng nổ và thắng lợi, “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời khi ba kẻ thù bị lật đổ, thất bại: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Độc lập và tự do là thành quả đấu tranh và cách mạng bền bỉ, gan góc, lâu dài của dân tộc ta.

– Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một sự thật lịch sử, nên Hồ Chủ tịch mới tuyên bố một cách đanh thép, hùng hồn: “Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.

 2 Độc lập tự do là khát vọng, là ý chí của đất nước và con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam:

– Lời tuyên bố vang lên như một lời thề thiêng liêng làm chấn động lòng người: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Cụm từ “Toàn thể dân tộc Việt Nam” nói lên sức mạnh đại đoàn kết, triệu triệu con người Việt Nam kết thành một khối mà không thể một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục được ! “Tự do hay là chết !”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành lại nền độc lập !”. Quyết tâm ấy được Hồ Chủ tịch tuyên bố đanh thép hùng hồn. Triệu triệu con người Việt Nam “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

– Lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với thực dân Pháp đang âm mưu tái chiếm Việt Nam một lần nữa, đồng thời kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Ba mươi năm kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của nhân dân ta đã thể hiện một cách hùng hồn lời tuyên bố mạnh mẽ ấy. Đó là khát vọng, là ý chí sắt đá về độc lập tự do của dân tộc ta, của nhân dân ta. Một lần nữa, Người lại Tuyên bố: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ !”. (Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến – 19.12.1946).

III Đánh giá:

“Tuyên ngôn Độc lập” xứng đáng là một áng “thiên cổ hùng văn”. Nó đã kế tục truyền thống vinh quang của “Nam quốc sơn hà”, của “Bình Ngô đại cáo”. Nó là lời Non Nước cao cả và thiêng liêng, thể hiện sâu sắc tư tưởng vĩ đại: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, biểu lộ ý chí và sức mạnh Việt Nam.

– Đọc đoạn văn cuối bản “Tuyên ngôn Độc lập“, chúng ta càng thấm thía tự hào về độc lập, tự do mà dân tộc ta đã giành được bằng xương máu của bao thế hệ, của bao anh hùng liệt sĩ.

  1. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÕNG SÔNG VĨNH PHÚC LẦN 1

Câu 2. (4,0 điểm)

Về hình tượng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng :

Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình.

Bằng hiểu biết về tác phẩm, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.

Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình.

2.1 Giới thiệu chung:

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại cũng là một trí thức giàu lòng yêu nước. Ông có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đến với tác phẩm người đọc sẽ gặp ở đó dòng sông Hương với vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình.

2.2 Giải thích:

– “Vẻ đẹp nữ tính” : Có những vẻ đẹp, phẩm chất của giới nữ (như: xinh đẹp, dịu dàng, mềm mại, kín đáo…)

– “rất mực đa tình” : Rất giàu tình cảm.

-> Ý kiến đề cập đến những vẻ đẹp khác nhau của hình tượng sông Hương trong sự miêu tả của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

2.3 Phân tích, chứng minh:

a Vẻ đẹp nữ tính:

– Khi là một cô gái Digan phóng khoáng và man dại với bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng. Khi là người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ.

– Khi là một người con gái đẹp ngủ mơ màng. Khi là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Khi được ví như là Kiều, rất Kiều. Khi là người con gái Huế với sắc màu áo cưới vẫn mặc sau tiết sương giáng.

=> Dù ở bất kỳ trạng thái tồn tại nào, sông Hương trong cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đầy nữ tính, xinh đẹp, hiền hòa, dịu dàng, kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt…

b “Rất mực đa tình”:

– Cuộc hành trình của sông Hương là cuộc hành trình tìm kiếm người tình mong đợi. Trong cuộc hành trình ấy, sông Hương có lúc trầm mặc, có lúc dịu dàng, cũng có lúc mãnh liệt mạnh mẽ…Song nó chỉ thực vui tươi khi đến ngoại ô thành phố, chỉ yên tâm khi nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời.

– Gặp được thành phố, người tình mong đợi, con sông trở nên duyên dáng ý nhị uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến, cái đường cong ấy như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu.

– Sông Hương qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở. như những vấn vương của một nỗi lòng.

– Sông Hương đã rời khỏi kinh thành lại đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng Đông

– Tây để gặp lại thành phố 1 lần cuối. Nó là nỗi vương vấn, chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Như nàng Kiều trong đêm tình tự, sông Hương chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó…

c Nghệ thuật miêu tả:

– Phối hợp kể và tả; biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, so sánh; ngôn ngữ giàu chất trữ tình, chất triết luận.

2.4 Đánh giá:

– Miêu tả sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc lộ một vốn hiểu biết phong phú, một trí tưởng tưởng bay bổng.

– Đằng sau những dòng văn tài hoa, đậm chất trữ tình là một tấm lòng tha thiết với quê hương, đất nước.

 

  1. VỢ CHỒNG A PHỦ – KIM LÂN – VĨNH PHÚC LẦN 2

Câu 2. (4,0 điểm)

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.

Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có được vợ… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chết chứ biết thế nào mà lo cho hết được?

Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng… Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:

– Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau. Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?…

– Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân. Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật:

– Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá… Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.

(Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.28-29)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt.

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt.

2.1 Giới thiệu chung:

– Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía.

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết về người nông dân Việt Nam trước bờ vực của sự sống, cái chết. Truyện khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống. Điều đó được thể hiện rõ nét qua đoạn trích: “Bà lão cúi đầu nín lặng… nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”.

2.2 Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích:

a Cuộc đời, số phận:

-Nghèo khổ, bất hạnh (sống phận mẹ góa con côi ở xóm ngụ cư, con trai lại nhặt được vợ trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp).

b Tính cách, phẩm chất: giàu tình thương con; nhân hậu; nhạy cảm và từng trải; lạc quan, tin yêu vào cuộc sống.

* Tình thương con và tấm lòng nhân hậu của một người mẹ thấu hiểu lẽ đời:

– Trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, bà cụ Tứ “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình“. Bà hờn tủi cho thân mình đã không làm tròn bổn phận với con. Giọt nước mắt của cụ vừa ai oán, xót xa, buồn tủi vừa thấm đẫm tình yêu thương cụ dành cho con.

– Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng“. Bà thật sự mong muốn các con sẽ hạnh phúc.

– Ân cần dặn dò, chỉ bảo các con yêu thương, hòa thuận với nhau, chăm chỉ làm ăn.

* Niềm lạc quan, tin yêu cuộc sống:

– Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất, đáng buồn tủi nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con. Bà vui với triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.

c Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

– Cuộc hành trình của sông Hương là cuộc hành trình tìm kiếm người tình mong đợi. Trong cuộc hành trình ấy, sông Hương có lúc trầm mặc, có lúc dịu dàng, cũng có lúc mãnh liệt mạnh mẽ…Song nó chỉ thực vui tươi khi đến ngoại ô thành phố, chỉ yên tâm khi nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời.

– Gặp được thành phố, người tình mong đợi, con sông trở nên duyên dáng ý nhị uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến, cái đường cong ấy như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu.

– Sông Hương qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở. như những vấn vương của một nỗi lòng.

– Sông Hương đã rời khỏi kinh thành lại đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng Đông

– Tây để gặp lại thành phố 1 lần cuối. Nó là nỗi vương vấn, chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Như nàng Kiều trong đêm tình tự, sông Hương chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó…

c Nghệ thuật miêu tả:

– Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo, éo le và cảm động; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và sắc sảo; ngôn ngữ nhân vật có màu sắc riêng; nghệ thuật kể chuyện sinh động, tự nhiên.

2.3 Nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt:

– Xót thương cho cuộc đời đau khổ, tủi nhục, thân phận rẻ rúng, bèo bọt, vô giá trị của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

– Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến gây ra nạn đói, đẩy người nông dân đến bờ vực của cái đói, cái chết.

– Phát hiện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người lao động: tình người cao đẹp, khát vọng hạnh phúc gia đình, lạc quan và tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống.

2.4 Đánh giá:

– Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng nghệ thuật độc đáo, thể hiện được chủ đề, tư tưởng của truyện ngắn.

– Tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Kim Lân đã góp phần đưa tác phẩm Vợ nhặt trở thành một trong những kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam.

 

  1. ĐÀN GUITAR CỦA LORCA – THANH THẢO YÊN LẠC VĨNH PHÚC

Câu 2 (4,0 điểm)

Khi bàn về hình tượng âm thanh tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca – Thanh Thảo có ý kiến cho rằng: “Tiếng đàn là thân phận của Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị”. Lại có ý kiến khẳng định: “Tiếng đàn là sức sống và cũng là nghệ thuật bất tử của Lorca”.

Qua việc cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn trong bài thơ anh/ chị hãy bình luận hai ý kiến trên.

Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn và bình luận 2 ý kiến.

  1. Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề:

– Thanh thảo là nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ, có nhiều nỗ lực cách tân thơ sau năm 1975, nổi bật là sự tìm kiếm những cách biểu đạt mới trong thơ.

Đàn ghi ta của Lorca rút từ tập thơ Khối vuông Ru- bích (1985) là thi phẩm tiêu biểu của Thanh Thảo. Bài thơ được lấy cảm hứng từ nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của Lor- ca, là tiếng nói tri âm của Thanh Thảo đối với người nghệ sĩ Tây Ban Nha. Hình tượng âm thanh tiếng đàn là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ Việt. Trích dẫn 2 ý kiến.

  1. Giải thích 2 ý kiến:

– Hai ý kiến là hai nhận xét khác nhau về ý nghĩa của hình tượng tiếng đàn.

+ Ý kiến trước nhìn tiếng đàn như một thực thể mong manh, ngắn ngủi để thấy tiếng đàn là thân phận Lor-ca, nghệ thuật Lor-ca.

+ Ý kiến sau lại nhận ra tiếng đàn như một sinh thể có sức sống bất diệt để thấy tiếng đàn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn, cho sức sống của nghệ thuật Lor-ca.

  1. Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn và bình luận 2 ý kiến:
  2. Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn:

* Tiếng đàn là thân phận Lor-ca, thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị:

Những tiếng đàn bọt nước mong manh và ngắn ngủi được đặt trong sự tương phản, đối lập với sắc đỏ gắt của trận đấu bò sinh tử, của nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân chủ, gợi liên tưởng tới thân phận đơn độc nhỏ nhoi, khiêm nhường, số phận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca trong bối cảnh chính trị căng thẳng, dữ dội. Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát vọng dân chủ của nhân dân nói chung, của Lor-ca nói riêng với nền chính trị độc tài. Xét trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là cuộc xung đột giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua. Xét ở phương diện nào thì Lor-ca cũng một nghệ sĩ- chiến sĩ đơn độc.

Tiếng ghi ta vỡ tan ròng ròng máu chảy: Tiếng đàn đã thành thân phận đau thương của Lor-ca, của nghệ thuật trước sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù. Hai tiếng “vỡ tan”, vừa là sự vỡ ra của bọt nước vừa là sự phập phồng thổn thức của tiếng đàn. Nó đã cất lên lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủy diệt cái tài, hủy diệt cái đẹp. Và vì thế, bản ghi ta bi tráng đẩy đến độ cao trào của sự bi phẫn, nó ròng ròng máy chảy, nó uất nghẹn, tức tưởi đến bật máu thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giao hưởng hào sảng. Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi khát vọng chưa thành. Âm thanh tiếng đàn như tiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trước thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt. Thì ra, nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinh mệnh.

* Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hồn Lor-ca, là sức sống bất diệt của nghệ thuật:

Tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh: Tiếng đàn mang âm vang và sắc màu của một tâm hồn rạo rực, say đắm trong tình yêu, thiết tha, khắc khoải với sự sống của người nghệ sĩ đa tài. Màu nâu xuất hiện suy tư, trầm tĩnh đến lạ thường. Đó là màu nâu của vỏ cây đàn, màu nâu của đất đai, màu nâu của làn da, mái tóc cô gái Digan. Trước giây phút từ li, chàng đã ngước lên nhìn bầu trời xanh tha thiết, bầu trời khát vọng, bầu trời yêu thương nơi có bóng hình nàng Maria thủy chung. Đó là màu xanh, là sự hóa thân của Lor-ca và tiếng đàn vào thiên nhiên mang sức sống cỏ cây. Hai tiếng “biết mấy” nằm ở cuối câu vừa là sự tha thiết trong tình cảm của người nghệ sĩ Thanh Thảo vửa tôn thêm vẻ đẹp của tuổi trẻ Lor-ca – vẻ đẹp của người chiến sĩ suốt đời hi sinh vì lý tưởng.

– Tiếng đàn mãi trường tồn “không ai chôn cất tiếng đàn/ tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: “tiếng đàn” tượng trưng cho nghệ thuật của Lor-ca, cho tình yêu tự do, yêu con người mà suốt đời ông theo đuổi; đó là cái đẹp không thể bị hủy diệt, nó sẽ sống, sẽ lan truyền mãi, giản dị mà kiên cường như cỏ dại. Giai điệu li-la li-la li-la mãi vang ngân là một ẩn dụ tượng trưng cho sức sống bất diệt của Lor-ca, của nghệ thuật, của những giá trị chân chính trên cõi đời này. Tiếng đàn mang tên loài hoa Li La như sự sống vẫn lặng lẽ tỏa hương, hiện hữu giữa cuộc đời.

  1. Bình luận 2 ý kiến:

– Hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau cùng khẳng định những ý nghĩa tượng trưng của hình tượng tiếng đàn: Tiếng đàn vừa là một ẩn dụ nghệ thuật của thân phận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca, của nghệ thuật vừa là hỉnh ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp sức sống bất diệt của tâm hồn Lor-ca, của nghệ thuật nói chung.

– Hình tượng có được nhiều ý nghĩa ấy là do Thanh Thảo đã sử dụng phối kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật: Đối lập, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, điệp ngữ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh để tạo nên nhiều hình ảnh thơ lạ hóa giàu sắc thái tượng trưng, siêu thực, hình thức câu thơ tự do, ngắt nhịp bất thường, giàu chất nhạc, chất họa…

  1. Đánh giá chung:

– Khẳng định lại hai ý kiến trên và đánh giá chung về hình tượng Lor- ca, khẳng định sự bất tử của Lor-ca, của tiếng đàn Lor-ca. Người nghệ sĩ ấy đã chết nhưng tiếng đàn của ông vẫn sống mãi với Tây Ban Nha, với lòng người yêu tự đo, yêu hòa bình.

– Khẳng định tài năng độc đáo, sự trăn trở của người nghệ sĩ Thanh Thảo trên hành trình sáng tạo ông đã hóa thân, nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật vào cuộc đời và số phận của Lor-ca, sự cộng hưởng cùng khát vọng sáng tạo để suy ngẫm sâu xa về nỗi đau, niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ lớn đã dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp.

 

  1. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH – NGUYỄN THI SỞ GIÁO DỤC YÊN BÁI

Câu 2(4đ)

Sáng hôm sau, nghe chị Chiến nói, Chú Năm cứ ngồi y trên ván nhìn hai cháu thiệt lâu. Một lát, chú nói:

– Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề, gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước – Chú cười, đưa mấy ngón tay cứng cỏng chùi nước mắt – Đây rồi tao giao cuốn sổ gia định cho chị em bây. Gọi là giao vậy chớ đưa cho bây rồi bây lội đùng đùng qua sông là hư hết. Gọi vậy chớ tao vẫn giữ, tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày.

Trong lúc chị Chiến xuống bếp nấu cơm, Việt đi câu ít con cá về làm bữa cúng má trước khi dời bàn thờ sang nhà chú, còn một mình ở nhà trên, chú Năm lại cất tiếng hò. Không phải giọng hò trong trẻo trong đêm bay ra hai bên bờ sông, rồi dời lại trên cái ghe heo chèo mướn của chú. Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội.

Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy năng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ mà lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đền chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng trên vai.

 (Trích Những đứa con trong gia định – Nguyễn Thi, Ngữa văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008 )

Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của các thế hệ trong gia đình được khắc họa qua đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về sự thống nhất giữa tình cảm gia đình và tình yêu quê hương, đất nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi.

2 Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của các thế hệ trong gia đình được khắc họa qua đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về sự thống nhất giữa tình cảm gia đình và tình yêu quê hương, đất nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi.

2.1 Giới thiệu chung:

– Nguyễn Thi là nhà văn – chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghệp sáng tác văn chương là một tấm gương sáng cho thế hệ nhà văn từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Tuy sinh ra ở đất Bắc , nhưng Nguyễn Thi đặc biệt gắn bó với nhân dân miền Nam bằng một tình cảm ân nghĩa thủy chung mà ông muốn gửi vào từng trang viết của mình. Ông được trân trọng coi là nhà văn của những người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt.

– “Những đứa con trong gia đình” là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Thi ,được viết ngay trong những ngày đầu chống Mĩ ác liệt, khi nhà văn công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

– Đoạn trích trên thể hiện rõ vẻ đẹp tinh thần yêu nước của các thế hệ trong gia đình Việt, Chiến. Qua đó, cho thấy sự thống nhất giữa tình cảm gia đình và tình yêu quê hương, đất nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc…

2.2 Cảm nhận vẻ đẹp các thế hệ trong gia đình:

– Sau khi được chú Năm ủng hộ, xin anh cán bộ tuyển quân ghi tên cho cả hai cùng đi tòng quân một đợt, chị em Chiến, Việt cắt đặt việc nhà gọn gàng chu đáo. Buổi sáng ngày lên đường, hai chị em làm cơm cúng má. Chị Chiến vào bếp nấu cơm, Việt đi câu cá. Cúng má, cơm nước xong, mấy chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Hai chị em mỗi người một đầu khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm, băng tắt qua bãi đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác…

Tình thương mẹ sâu sắc của hai chị em, tình chị em cảm động giữa Việt và Chiến:

+ Trong buổi sáng trước giờ lên đường tòng quân, hai chị em Chiến, Việt đã cho mượn hoặc đem cho hết đồ đạc trong nhà riêng bàn thờ má thì đem gửi. Điều đó chứng tỏ bàn thờ má là những gì thiêng liêng nhất trong cuộc sống mà hai chị em đều trân trọng, giữ gìn, nâng niu. Má đã mất nhưng trong giờ phút khiêng bàn thờ má đem gửi, hai chị em cảm nhận được sự hiện diện gần gũi của má đâu đây.

+ Hai chị em dường như đang nói cùng má: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, chúng con lại đưa má về”. Những cảm nhận của hai chị em Chiến, Việt cho ta hiểu đã không còn khoảng cách của hai thế giới của người còn sống và người đã khuất. Những đứa con đã thấy hình bóng mẹ trở về trong tâm tưởng, trong không gian thoảng mùi hoa cam. Và hình như còn có cả bước chân lội đồng bì bõm của má trên con đường quen thuộc xưa má đi và nay hai chị em đang bước qua. Đoạn văn xúc động bởi tác giả cho chúng ta tin rằng đã có một cuộc gặp gỡ cảm động giữa hai chị em Chiến Việt và người mẹ đã khuất. Còn cuộc gặp gỡ nào cảm động hơn cuộc gặp gỡ ấy!

+ Tình thương chị của Việt thể hiện trực tiếp khi nghe bước chân chị bịch bịch phía sau “Việt thấy thương chị lạ”.

– Tình yêu nước gắn liền lòng căm thù giặc cướp nước: Đoạn văn còn xúc động bởi vì nhắc tới và miêu tả một trạng thái của cảm xúc rất khó diễn tả thành lời đó là niềm căm thù. Chưa bao giờ Việt thấy rõ như thế mối thù thằng Mỹ. Mối thù ấy có thể rờ thấy được vì nó đang nằm trên vai, có thể cân đong được vì nó đang đè nặng trên vai. Bàn thờ má đã “vật chất hóa” cái vốn vô hình đó là mối thù đối với thằng giặc đã giết ba má Việt. Nếu không có bom thù thì giờ này Việt sẽ được má xoa đầu, lấy cơm cho ăn. Nếu không có bom thù thì giờ này đâu có bàn thờ má nặng trên vai. Cảm nhận sức nặng của bàn thờ chính là hiểu được gánh nặng của mối thù phải trả. Hai chị em Chiến, Việt đã đi qua những trận đánh khốc liệt chính là từ những cảm nhận cụ thể này về mối thù sâu nặng của gia đình đối với kẻ thù xâm lược.

– Chú Năm:

+ Là người lưu giữ và truyền lại ngọn lửa yêu nước, cách mạng cho thế hệ con cháu trong gia đình. Chú ủng hộ cả 2 đứa cháu nhập ngũ cùng một lúc, tin tưởng cháu “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề, gia thế, đặng bề nước non”. Cuốn sổ chú giữ ý nghĩa biết bao, nó đã tiếp thêm ngọn lửa trong Việt và Chiến.

+ Giọng hò của chú “cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”, như tiếng giục giã chị em Việt ra đi trả thù cho ba má, cho quê hương.

=> Ở các nhân vật đều sáng lên tình yêu nước và tình cảm gia đình thắm thiết, thiêng liêng.

– Nghệ thuật: Lời kể chân thực, giản dị, mang đậm dấu ấn Nam Bộ kết hợp với ngôn ngữ nửa trực tiếp.

2.3 Sự thống nhất giữa tình cảm gia đình và tình yêu quê hương đất nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc:

– Câu chuyện bi thương của gia đình Việt, nỗi đau của chị em Việt không phải là duy nhất mà còn biết bao gia đình Việt Nam cùng chung cảnh ngộ.

– Trả mối thù cho ba má cũng là trả mối thù của toàn dân tộc. Tiêu diệt kẻ thù của gia đình cũng là tiêu diệt kẻ thù của toàn dân Việt Nam. Giữ gìn, bảo vệ quê hương chính là giữ gìn từng mái ấm gia đình.

=> Tình cảm gia đình và tình yêu quê hương đất nước thống nhất, hòa quyện với nhau. Tình cảm gia đình là cái nôi của tình yêu quê hương đất nước . Truyền thống gia đình sẽ tạo ra truyền thống cả một dân tộc yêu nước “Trăm sông đổ về một biển ,con sông của cả gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm,… rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta.

2.4 Tổng kết:

– Đoạn văn trên là đoạn cảm động nhất trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” – một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi. Bằng một phong cách riêng, nhà văn khám phá vẻ đẹp của người dân Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ, khám phá nguồn cội sức mạnh chiến đấu của nhân dân ta – qua một giọt nước, thấy được biển cả.

– Nêu trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay đối với việc gìn giữ, bảo vệ quê hương, đất nước.

  1. SÓNG – XUÂN QUỲNH YÊN THẾ BẮC GIANG

Câu 2 (5 điểm):

Cảm nhận về nhân vật trữ tình Em trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

2.1 Giới thiệu chung:

– Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

– “Sóng” là bài thơ tình đặc sắc được Xuân Quỳnh sáng tác nhân chuyến đi thực tế về vùng biển Diêm Điền. Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người nhưng cũng chất chứa nhiều day dứt, lo âu.

2.2 Phân tích: Sóng Em song hành với nhau trong suốt chiều dài bài thơ cùng thể hiện những trạng thái cảm xúc, những khao khát mãnh liệt trong tâm hồn em.

– Em băn khoăn thức nhận về tâm hồn mình và về khát vọng tình yêu của mình (Khổ 1):

+ Những trạng thái tâm lí phong phú, đa dạng, luôn chứa đựng những biến động, thao thức thất thường, vừa nồng nàn, táo bạo, tha thiết, vừa tỉnh táo, đắm say “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ…”

+ Trong tình yêu, “em” không cam chịu, nhẫn nhục mà luôn chủ động, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt, đồng cảm, bao dung “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”

– Em trăn trở cắt nghĩa, lý giải về tình yêu của mình (Khổ 2, 3): Tình yêu luôn thường trực, “Bồi hồi trong ngực trẻ” nhưng chính em cũng không trả lời được “Khi nào ta yêu nhau?“.

– Em giãi bày nỗi nhớ tha thiết trong tình yêu:

+ Thể hiện gián tiếp qua hình tượng “sóng”. “Sóng” được miêu tả trong nhiều không gian “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, trong sự dàn trải của thời gian “ngày – đêm” nhưng lúc nào cũng triền miên trong nỗi nhớ bờ đến “không ngủ được”. Sóng thức bởi tình yêu và nỗi nhớ luôn thức mãi!

+ Tình yêu của “Em” chân thành, sâu sắc, mãnh liệt, thủy chung: Nỗi nhớ được đo bằng không gian và thời gian; nỗi nhớ đầy ắp cả trong thực và trong mộng. “Em” không chút dè dặt, mạnh dạn bộc lộ nỗi nhớ một cách trực tiếp “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Hình ảnh người yêu luôn ngự trị trong trái tìm cuả người thiếu nữ, là “một phương” duy nhất lòng em luôn hướng tới. Đằng sau nỗi nhớ ấy là một khao khát cháy bỏng về tình yêu và mái ấm hạnh phúc.

– Khẳng định sự thuỷ chung và niềm tin tưởng:

+ Với em không chỉ có phương Bắc, phương Nam mà còn có cả “phương anh”. Đó là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư: “Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”

+ “Em” cũng luôn tin tưởng: Cũng như sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, em và anh cũng sẽ được ở bên nhau: “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó COn nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở”

– Những suy tư trăn trở và khát vọng về một tình yêu vĩnh hằng, bất tử hóa tình yêu của “em”:

+ Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược” chất chứa dự cảm về những trắc trở trong tình yêu. “Phương Bắc”, “phương Nam”: gợi không gian xa cách, ẩn giấu những phấp phỏng lo âu về sự cách trở

=> Ngay cả khi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, say đắm, lòng người phụ nữ vẫn không tránh khỏi những dự cảm không lành.

+ Từ những lo âu, trăn trở khi nhìn thấy sự đối lập ghê gớm giữa con người và vũ trụ, “em” đã tìm ra một con đường để có thể bất tử hóa cùng vũ trụ – đó là nhờ tình yêu: trong tình yêu con người sẽ sống mãi với thời gian. “Em” muốn hòa cái tôi nhỏ bé vào cái chung rộng lớn, mang tình yêu của đôi mình hòa vào tình yêu cuộc đời, tình yêu cuộc sống để tình yêu vĩnh hằng.

2.3 Đánh giá:

– Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu vừa truyền thống vừa hiện đại:

+ Truyền thống: say đắm, dịu dàng, nữ tính, thủy chung.

+ Hiện đại: táo bạo, chủ động trong tình yêu; khao khát bất tử hóa tình yêu.

– Bài thơ xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ ca

 

101.NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN YÊN THẾ BẮC GIANG

Câu 2. (4.0 điểm)

Người ta từng đặt cho Nguyễn Tuân danh hiệu “Người suốt đời đi tìm cái đẹp“. Viết bài văn nêu cảm nhận của anh (chị) về một “cái đẹp” được Nguyễn Tuân tìm kiếm, khám phá và thể hiện trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà.

 

Người ta từng đặt cho Nguyễn Tuân danh hiệu “Người suốt đời đi tìm cái đẹp“. Viết bài văn nêu cảm nhận của anh (chị) về một “cái đẹp” được Nguyễn Tuân tìm kiếm, khám phá và thể hiện trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà.

2.1 Vài nét về tác giả, tác phẩm:

– “Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa” (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưu lối chơi “độc tấu. Ông được mệnh danh là “Người suốt đời đi tìm cái đẹp“.

– “Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong tùy bút “Sông Đà”.

2.2 Giải thích ý kiến:

Cái đẹp: là một trong ba phạm trù thẩm mĩ cơ bản của Mỹ học ( Chân- Thiện – Mỹ). Nói đến cái đẹp tức là nói đến cái cao cả, khơi gợi nên những rung động, những cảm xúc thẩm mĩ vừa cụ thể sinh động lại vừa có sức khái quát.

=> Ý kiến đã khẳng định: Cả đời văn của Nguyễn Tuân là hành trình đi tìm, săn đuổi và khao khát cái đẹp.

– Với tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”, Nguyễn Tuân đã khám phá ra cái đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc thông qua hình tượng con Sông Đà và ông lái đò.

2.3 Cảm nhận về một “cái đẹp” trong đoạn trích: Học sinh chỉ chọn một trong hai hình tượng: Sông Đà, người lái đò sông Đà. Ví dụ: Vẻ đẹp của thiên nhiên qua hình tượng Sông Đà.

* Vẻ đẹp hung bạo, dữ dằn của sông Đà:

– Đó là cảnh đá “dựng vách thành”, lòng sông bị thắt lại như cái yết hầu.

– Cảnh nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè

– Những “hút nước” sẵn sàng nhấn chìm, đập tan chiếc thuyền nào lọt vào; những thạch trận, phòng tuyến, luồng thác… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò.

– Âm thanh thác nước sông Đà: Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”, “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…

– Trùng vi đá:

+ Trùng vi thạch trận thứ nhất: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”…

+ Trùng vi thạch trận thứ hai: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…

+ Trùng vi thạch trận thứ ba: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.

=> Nhận xét: Với trí tưởng tượng phong phú, những câu văn tài hoa, uyên bác , vận dụng ngôn ngữ của nhiều ngành khác nhau như võ thuật, thể thao, quân sự,…, Nguyễn Tuân đã tái hiện trước mắt người đọc một Sông Đà hung bạo, độc ác không khác gì “kẻ thù số một của con người”.

* Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà:

– Khái quát dòng sông:

+ Sông Đà là bức tranh thủy mặc vương vấn lòng người.

+ Từ trên tàu bay nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo …” – lối so sánh tài hoa, tạo mĩ cảm cảm đặc biệt.

– Màu sắc dòng sông thay đổi theo mùa:

+ “Mùa xuân xanh màu ngọc bích”, khác với sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh hến”.

+ Mùa thu nước sông “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa …

-> Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ.

– Sông Đà gợi không khí huyền thoại thơ mộng – vẻ đẹp cổ thi:

+ Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ vô cùng gợi cảm, bình yên và mang đậm chất thơ: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu “ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” …

+ Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa… lặng tờ “như từ Lí, đời Trần, đời Lê”.

=> Nhận xét: Cảnh sông Đà đẹp, thơ mộng, hữu tình và đầy sức sống, làm mê đắm lòng người.

* Nghệ thuật miêu tả:

– Sông Đà được khắc họa bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, cùng hệ thống từ vựng phong phú, giàu có, thể hiện sự tài hoa uyến bác của Nguyễn Tuân.

– Vận dụng kiến thức phong phú, nhất là ngôn từ ở các ngành quân sự, võ thuật, điện ảnh,… để miêu tả con sông ở nhiều góc độ.

– Sử dụng nhiều câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ.

2.4 Đánh giá:

– Hai đặc điểm trên tưởng chừng như đối lập mà hài hòa, thống nhất trong cùng đối tượng. Sông Đà được nhìn nhận như một con người, có tính cách cụ thể, sinh động.

– Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha với thiên nhiên đất nước. Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có. Ông xứng đáng là một cây tùy bút tài hoa bậc nhất của nền văn học Việt Nam.

hoangbach

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x