100 Bài tập đọc hiểu môn Ngữ Văn 12 _ Phần 1

PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

Mục lục

ĐỀ CHUYÊN BẮC GIANG 2016 LẦN 1

Đọc đoạn văn bản dưới đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Tại Paris, các lãnh đạo thế giới đang thảo luận về con số 2 độ C. Nghe có vẻ đó là một mục tiêu đơn giản nhưng trên thực tế nó rất lớn. Sự gia tăng như vậy trong nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ đưa con người vào một thế giới chưa từng được biết đến trong lịch sử. Và hậu quả tiềm tàng là gì? Hãy nghĩ tới một sa mạc tồi tệ. Hán hán sẽ gia tăng. Cháy rừng sẽ tăng gấp 8 lần mức độ hiện thời. Các cuộc chiến vì nguồn nước sạch. Động vật và cây cối sẽ tuyệt chủng theo hiệu ứng domino. Mùa màng sẽ thất bát. Làn sóng người di cư sẽ ồ ạt rời khỏi các thành phố ven biển do nước biển dâng để tìm kiếm thức ăn và nơi ở mới.

(Vì sao COP 21 quan trọng với thế giới? – Báo điện tử Dân trí ngày 01 tháng 12 năm 2015).

Câu 1: Đoạn văn đề cập đến vấn đề gì? (0,25 điểm)

Câu 2: “COP” là từ viết tắt của cụm từ nào? Vì sao gọi là COP 21? (0,25 điểm)

Câu 3: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản? (0,5 điểm)

Câu 4: Thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn bản? (0,5 điểm)

Đọc tiếp đoạn văn bản dưới đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Mũi Cà Mau: Mầm đất tươi non Mấy mươi

đời lần luôn ra biển; Phù sa vạn dặm tới

đây tuôn Lắng lại và chân người bước đến

Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau.

(Mũi Cà Mau – Xuân Diệu)

Câu 5: Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ? (0,25 điểm)

Câu 6: Vì sao nhà thơ Xuân Diệu gọi Mũi Cà Mau là “mầm” mà không gọi là mảnh hay miền đất? Hình ảnh “Mầm đất” đó liệu có còn đúng nữa không trong tương lai? (0,5 điểm)

Câu 7: Xác định và chỉ ra hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: (0,5 điểm)

Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau

Câu 8: Từ hình ảnh “Tổ quốc – con tàu” của Xuân Diệu hãy liên tưởng đến một vài hình ảnh đẹp khác về Tổ quốc qua những trải nghiệm thơ ca của anh/chị? (0,25 điểm).

 

Câu Ý Nội dung
I    
  1 Đoạn văn đề cập đến vấn đề biến đổi khí hậu.
  2  “COP” là từ viết tắt của cụm từ: Conference of the Parties

– Gọi là COP 21 vì đây là Hội nghị lần thứ 21 của các bên liên quan về biến đổi khí hậu.

  3 Phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản : phong cách ngôn ngữ báo chí.
  4 Thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn bản: thao tác lập luận phân tích.
  5 Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ: tự sự, miêu tả, biểu cảm
  6 – Nhà thơ Xuân Diệu gọi Mũi Cà Mau là “mầm” mà không gọi là mảnh hay miền đất vì muốn vẽ nên trước mắt người đọc một Cà Mau xinh đẹp, tiềm năng tràn trề nhựa sống qua một quá trình phát triển lâu dài và bền vững.

– Trong tương lai, với nhiều tác động tiêu cực từ con người, có lẽ hình ảnh “mầm đất” không còn đúng nữa: đất đai dần trở nên nghèo nàn, thoái hóa, …

  7 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: biện pháp so sánh: đất nước như một con tàu lớn mà mũi Cà Mau là mũi thuyền xé sóng.

– Hiệu quả: nhằm khẳng định quan điểm đất nước ta là một thể thống nhất, ngoài ra còn nhằm nhấn mạnh vị trí của Cà Mau trên dáng hình đất nước Việt Nam: nếu đất nước là con tàu thì Cà Mau chính là mũi của con tàu ấy. Mũi tàu luôn đi trước, luôn hứng chịu gian lao thử thách trước và rẽ sóng mở đường cho thân. Và Cà Mau cũng thế…

  8 Từ hình ảnh “Tổ quốc – con tàu” của Xuân Diệu, liên tưởng đến một vài hình ảnh đẹp khác về Tổ quốc:

Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!

Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt

Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát

Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca…

(Ta đi tới – Tố Hữu)

 

ĐỀ CHUYÊN BẮC GIANG 2016 LẦN 2

Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn văn bản dưới đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn giông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.

(Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997)

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn? (0.25 điểm)

Câu 2: Câu mang ý khái quát của đoạn văn bản? (0.25 điểm)

Câu 3: Những lý lẽ mà người viết đưa ra để thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm của mình? (0.5 điểm)

Câu 4: Ý kiến của anh/chị trước vấn đề trên? (viết trong khoảng 5-7 dòng) (0.5 điểm)

Đọc tiếp đoạn văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

Mùa xuân xanh

Mùa xuân là cả một mùa xanh

Giời ở trên cao, lá ở cành

Lúa ở đồng tôi và lúa ở

Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh

Tôi đợi người yêu đến tự tình

Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy

Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

(Nguyễn Bính, theo Thơ Nguyễn Bính, NXB Giáo dục, 2002)

Câu 5: Vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân được gợi lên qua những sắc xanh nào? (0.25 điểm)

Câu 6: Nhận xét về nghệ thuật trong hai câu thơ:

Lúa ở đồng tôi và lúa ở

Đồng nàng và lúa ở đồng anh. (0.5 điểm)

Câu 7: Hình ảnh cái thắt lưng xanh có ý nghĩa như thế nào trong bức tranh mùa xuân? (0.5đ)

Câu 8: Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính gợi anh/chị liên tưởng đến hình ảnh những mùa xuân nào trong thi ca? (0.25 điểm)

Câu Ý Nội dung
I    
1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn: nghị luận
2 Câu mang ý khái quát của đoạn: Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa.
3 Những lí lẽ mà người viết đưa ra để thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm của mình:Hạnh phúc ấy rất mong manh (bởi sự cá nhân/ích kỉ của nó) -Cuộc sống con người cần phải trải qua những thử thách (bão tố) thì mới hiểu được giá trị của những phút bình yên. -Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.
4 Học sinh bày tỏ quan điểm cá nhân, đồng tình hay không đồng tình và nêu rõ lí do, đề xuất giải pháp [nếu có].
5 Vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân được gợi tả qua sắc xanh từ mọi tầng không gian: sắc xanh của: giời, lá, lúa, cỏ, tre, thắt lưng của người con gái -> Vẻ đẹp tươi mới, căng tràn và mối giao hòa giữa thiên nhiên và con người.
6 Hai câu thơ được viết theo lối vắt dòng, tạo nên được sự tiếp nối, tỏa lan, giao hòa của những sắc xanh. Từ “và” nhắc lại hai lần như điểm nhấn cảm xúc của nhà thơ.
7 Ý nghĩa của hình ảnh cái thắt lưng xanh: Hình ảnh người con gái hiện lên với điểm nhấn là cái thắt lưng xanh, vật dụng quen thuộc mang đậm chất nữ tính của người thiếu nữ, chính là tâm điểm của bức tranh mùa xuân. Sức thanh xuân từ cái thắt lưng của cô gái như kết tụ tất cả sắc xanh của thiên nhiên đất trời, kết đọng trong cái nhìn của tình yêu.
8 Mùa xuân xanh gợi liên tưởng đến hình ảnh Mùa xuân chín (HMT), Xuân hồng (Xuân Diệu)…

 

 

ĐỀ CHUYÊN HẢI DƯƠNG LẦN 1

Phần I: Đọc – hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

F.A ( Forever Alone) là một khái niệm âm chỉ những người hướng nội, ít hoặc không có bạn bè, thích tận hưởng cảm giác cô đơn một mình.

Bởi vì rất dễ hiểu, tự thỏa hiệp với bản thân bao giờ cũng dễ hơn thỏa hiệp với những người khác. Biểu hiện của những người F.A luôn kêu ca về tình trạng độc thân của mình, nhưng lại luôn gắn chặt cuộc sống với môi trường “ảo” internet, bất kể ngày hay đêm, bất kể ngày thường hay ngày lễ tết.

Cuộc sống của chúng ta đang diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube…chúng ta đang tự cô lập mình với thế giới thực, chúng ta đang tự biến mình thành F.A.

Trung bình, hằng ngày mỗi người Việt Nam tiêu tốn 2 giờ đồng hồ vào mạng xã hội, nhưng có lẽ phải nhiều hơn như vậy.

Ở Việt Nam hiện nay, vợ gọi chồng xuống ăn cơm qua Facebook; hai người hẹn nhau đi ăn tối, mỗi người dán mắt vào một cái smartphone; bạn bè hội họp, lại mỗi người ôm khư khư một cái smart.

(Trích Hãy gập máy tính, tắt điện thoại để nói và cười, dẫn theo Báo giáo dục và thời đại, ngày 23/5/2014)

Câu 1 (0,25 điểm) Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2 (0,25 điểm) Xác định thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích? Câu 3 (0,5 điểm) F.A là khái niệm dùng để chỉ đối tượng nào? Những biểu hiện của người F.A?

Câu 4 (0,5 điểm) Viết đoạn văn (từ 5 – 7 dòng) chỉ ra ít nhất một hậu của của tình trạng F.A nói trên?

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 5 đến Câu 8:

Nếu tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thường nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

(Trích: Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến)

Câu 5 (0,25 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Câu 6 (0,25 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn thơ.

Câu 7 (0,5 điểm) Tìm và chỉ ra tác dụng của các biện pháp tu từ trong câu thơ:

Câu Ý Nội dung
I    
1 Văn bản được trích viết theo phong cách ngôn ngữ
2 Thao tác lập luận chủ yếu là chứng minh.
3 F.A ( Forever Alone) là một khái niệm âm chỉ những người hướng nội, ít hoặc không có bạn bè, thích tận hưởng cảm giác cô đơn một mình.

Biểu hiện: luôn kêu ca về tình trạng độc thân của mình, nhưng lại luôn gắn chặt cuộc sống với môi trường “ảo” internet, bất kể ngày hay đêm, bất kể ngày thường hay ngày lễ tết

4 Có thể viết về một trong số hậu quả sau: “sống ảo”, hạn chế khả năng giao tiếp, vô cảm, xa lạ với thế giới thực,…
5 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ là biểu cảm
6 Nội dung: Đoạn thơ thể hiện tình yêu biển, tình yêu Tổ quốc và những day dứt, xót xa, trăn trở của nhà thơ khi Trường Sa, Hoàng Sa của chúng ta đang bị kẻ thù dòm ngó.
7 – Biện pháp nhân hóa “biển cần lao” và so sánh “như áo mẹ bạc sờn”.

– Tác dụng:

+ Biển so sánh với người mẹ, biển góp phần nuôi lớn những người con quê hương.

+ Biển cần lao như áo mẹ bạc màu nói lên sự gian lao, vất vả, nhọc nhằn của biển đảo quê hương trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Nơi đầu sóng ngọn gió ấy đã ngã xuống bao nhiêu người con. Giữa biển trời bao la ấy bao nhiêu máu xương, mồ hôi và nước mắt đã đổ xuống. Biển không còn là thiên nhiên vô tri mà mang tâm hồn của con người, tâm hồn người mẹ bao dung, dịu hiền, hi sinh tất cả vì chúng con

8 Trách nhiệm của thế hệ trẻ với Tổ quốc:

– Ý thức rõ về chủ quyền biển đảo quê hương.

– Ra sức học tập, rèn luyện, nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần để bảo vệ biển đảo quê hương.

 

ĐỀ CHUYÊN HÙNG VƯƠNG LẦN 1

Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Trong phiên bản mới nhất năm 2016 của sách kỉ lục thế giới Guiness, người Việt Nam duy nhất được ghi nhận trong một hạng mục kỉ lục chính là Nguyễn Hà Đông. Chú chim nhỏ Flappy Bird và cha đẻ của nó đã xuất hiện với tư cách là trò chơi đầu tiên bị hạ xuống sau khi đã dẫn đầu bảng xếp hạng AppleStore.

Sách Guinness 2016 đã mô tả chi tiết về Nguyễn Hà Đông cũng như hành trình của chú chim nhỏ Flappy Bird. Theo đó, Nguyễn Hà Đông có niềm đam mê chơi game từ nhỏ và được cha mẹ mua cho một bộ trò chơi của hãng Nitendo.

Lúc 16 tuổi, Nguyễn Hà Đông đã lập trình game. Anh đã hoàn thành một khóa đào tạo lập trình game tại công ty Punch Entertainment.

Theo Guinness, ứng dụng Flappy Bird được Nguyễn Hà Đông thiết kế nhằm hướng đến đối tượng người chơi đi tàu xe có một tay rảnh rỗi, không làm gì.

Sau khi Flappy Bird được đưa lên Apple Store vào tháng 5 năm 2013, trò chơi đã

đem lại thành công rực rỡ cho Nguyễn Hà Đông. Vào lúc cao điểm, ứng dụng này đã giúp cho tác giả của nó bỏ túi khoảng 50 000 USD mỗi ngày.

Tuy nhiên, Flappy Bird cũng đem lại nhiều điều phiền phức cho Nguyễn Hà Đông và nhiều người khác. Như chính Nguyễn Hà Đông thừa nhận, nó trở thành một trò chơi gây nghiện chứ không đơn thuần là một trò chơi mang tính thư giãn. Đồng thời, cuộc sống của tác giả trò chơi cũng bị xáo trộn lớn.

Do đó, ngày 10 tháng 2 năm 2014, Nguyễn Hà Đông quyết định gỡ trò chơi khỏi AppleStore. Sau khi anh viết lên trang Twitter cá nhân về ý định sẽ tạm dừng Flappy Bird, đã 10000 lượt tải về chỉ trong 22 tiếng đồng hồ cuối cùng…

(Nguyễn Hào Hiệp, Vietnamnet, ngày 17/1/2016)

Câu 1: Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 2: Vì sao Nguyễn Hà Đông được ghi tên vào kỉ lục Guinness? (0,25 điểm)

Câu 3: Đoạn trích trên đã sử dụng thao tác lập luận nào (0,5 điểm)

Câu 4: Từ thành công của Nguyễn Hà Đông, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về con đường đi đến thành công của tuổi trẻ hiện nay (khoảng 5-7 dòng) (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

(…) Ăn Tết rừng xong từ giã

chú tắc kè chúng tôi xuôi – ào

ào cơn lũ đổ

các binh đoàn tràn vào thành phố đang

 mùa thay lá những hàng me

 

Lá me vàng lăn tăn trải thảm phố hè

chồi xanh lăn tăn nơi đầu cành run rẩy

cơn gió thoảng chút hương rừng đâu đấy hạt mưa

đầu mùa trong suốt giữa lòng tay

 

Người bạn tôi không về tới nơi này anh gục

 ngã bên kia cầu xa lộ

anh nằm lại trước cửa vào thành phố

giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh

 

Đồng đội, bao người không “về tới” như anh nằm lại

Cầu Bông, Đồng Dù, và xa nữa… tất cả họ, suốt một

 thời máu lửa

đều ước ao thật giản dị: sắp về!

(Trích Tiếng tắc kè kêu trong thành phố, Nguyễn Duy, theo thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2000)

Câu 5: Xác định những phương thức biểu đạt trong đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

Câu 6: Xác định 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ (0,25 điểm)

Câu 7: Hình ảnh người lính hiện lên như thế nào qua đoạn thơ? (0,5 điểm)

Câu 8: Giai đoạn lịch sử nào được phản ánh trong đoạn thơ trên? Khát vọng “sắp về” thể hiện mong muốn gì của người lính và của toàn dân tộc? (0,5 điểm)

Câu Ý Nội dung
I    
1 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Nguyễn Hà Đông được ghi tên vào kỉ lục Guinness vì anh là cha đẻ của Flappy Bird – trò chơi đầu tiên bị hạ xuống sau khi đã dẫn đầu bảng xếp hạng Apple Store.
3 Thao tác lập luận phân tích.
4 Suy nghĩ về con đường đi đến thành công của tuổi trẻ hiện nay:

– Có rất nhiều con đường để dẫn đến thành công.

– Thành công đến khi con người ta có ý thức tìm tòi, khám phá, theo đuổi đam mê.

– Kiếm được nhiều tiền không phải là cái đích của thành công.

5 Những phương thứ biểu đạt trong đoạn thơ trên: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
6 2 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ: so sánh “chúng tôi xuôi

– ào ào cơn lũ đổ”, nói giảm nói tránh “không về tới” “gục ngã” “nằm lại”.

7 – Hình ảnh người lính hiện lên qua đoạn thơ là những chiến sĩ hào hùng, khao khát chiến đấu [chúng tôi xuôi – ào ào cơn lũ đổ] và chiến thắng để lập lại nền hòa bình cho đất nước. Họ là những người đã dũng cảm, sẵn sàng hi sinh, không tiếc thân mình cho hòa bình của dân tộc.
8 Đoạn thơ trên phản ánh giai đoạn cuối cùng của kháng chiến chống Mĩ cứu nước, thời điểm chúng ta chuẩn bị tổng tiến công, giải phóng Sài Gòn. Khát vọng “sắp về” thể hiện mong muốn hòa bình, mong muốn đoàn tụ của người lính và của toàn dân tộc.

 

 

ĐỀ CHUYÊN NGHỆ AN

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4

Những lo ngại về an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng Việt đã trở nên báo động hơn bao giờ hết trước hàng loạt các vụ việc thực phẩm bẩn bị phanh phui thời gian qua. “Con đường từ dạ dày tới nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế”, đây là ý kiến của đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) đưa ra trong phiên họp quốc hội ngày 16/11. Ý kiến của đại biểu Trần Ngọc Vinh hoàn toàn có căn cứ khi hàng loạt những vụ việc thực phẩm bẩn bị phanh phui thời gian qua: từ mỡ bẩn, gà nhiễm chất vàng ố, bánh Trung thu được làm với nhân bánh không rõ nguồn gốc…

Và nhiều người sẽ phải giật mình nếu được biết số lượng người mắc bệnh nguy hiểm, bệnh hiểm nghèo và ung thư trong thời gian gần dây của Việt Nam. Theo thống kê của Dự án phòng chống ung thư Quốc gia, mỗi năm Việt Nam có khoảng 70.000 người chết và hơn 200.000 người mắc mới (gấp 7 lần tử vong do tai nạn giao thông). Nếu đem so với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có tỉ lệ mắc đứng hàng thứ ba. Có nhiều nguyên nhân gây ra ung thư song hơn 80% là do từ thức ăn, môi trường … Và tỉ lệ mắc các bệnh ung thư như đường tiêu hóa ngày càng tăng nhanh trong vòng 10 năm nay.

(Theo vtv.vn ngày 21/11/2015)

  1. Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ gì? (0.25đ)
  2. Tác giả đã sử dụng thao tác lập luận chính nào? (0.25đ)
  3. Tại sao đại biểu Trần Ngọc Vinh lại nói “Con đường từ dạ dày tới nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế”? (0.25đ)

4.Theo anh chị, chúng ta phải làm gì để góp phần ngăn chặn thực phẩm bẩn (Trình bày ngắn gọn trong vòng 7-10 dòng) (0.5đ)

 

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ 5-8

Đất nước Của thơ ca

Của bốn mùa hoa nở

Đọc trang Kiều tưởng câu hát dân gian Nghe xôn

xao trong gió nội mây ngàn Đất nước

Của những dòng sông

Gọi tên nghe mát rượi tâm hồn Ngọt lịm những giọng hò xứ sở

Trong sáng như trời xanh, mượt mà như nhung lụa Đất nước

Của những người mẹ Mặc áo thay vai

Hạt lúa củ khoai

Bền bỉ nuoi con, nuôi chồng chiến đấu Đất nước

Của những người con gái con trai Đẹp như hoa

hồng, cứng như sắt thep Xa nhau không hề rơi

nước mắt Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt

(Nam Hà – Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi! Trường Sơn – Đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009)

  1. Đoạn thơ được viết theo thể thơ gì? (0.25đ)
  2. Trong đoạn thơ, tác giả cảm nhận vẻ đẹp của đât nước từ những phương diện nào? (0.25đ)
  3. Anh, chị hãy trình bày ngắn gọn tác dụng của việc sử dụng điệp từ “đất nước” trong đoạn trích trên. (0.5đ)
  4. Nêu cảm nhận của anh chị về hình ảnh người mẹ Việt Nam trong chiến tranh qua đoạn thơ: “Đất nước/ Của những người mẹ/ Mặc áo thay vai/ Hạt lúa củ khoai/ Bền bỉ nuôi con, nuôi chồng chiến đấu” (Trình bày ngắn gọn trong 5-7 dòng, 0.5 đ)
Câu Ý Nội dung
I    
1 Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Tác giả sử dụng thao tác lập luận chính là thao tác chứng minh, đưa ra những con số cụ thể.
3 Đại biểu Trần Ngọc Vinh lại nói “Con đường từ dạ dày tới nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế”vì thực phẩm bẩn đang lan tràn khắp nơi, đe dọa sức khỏe và tính mạng của người dân Việt Nam (mỡ bẩn, gà nhiễm chất vàng ố, bánh Trung thu được làm với nhân bánh không rõ nguồn gốc…).
4 Để góp phần ngăn chặn thực phẩm bẩn, chúng ta phải:

– Nâng cao ý thức của người sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt để nói không với các chất gây hại cho sức khỏe con người.

– Với người sử dụng cần sử dụng sản phẩm rõ nguồn gốc, không ham của rẻ, đồ dùng không rõ xuất xứ.

– Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân có vai trò trong việc kiểm định chất lượng sản phẩm tiêu dùng, đồ ăn.

– Có biện pháp phù hợp, chế tài xử phạt nghiêm khắc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm luật an toàn vệ sinh thực phẩm.

5 Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
6 Trong đoạn thơ, tác giả cảm nhận về đất nước từ các phương diên:

– Văn hóa

– Địa lí

– Lịch sử

– Thiên nhiên

– Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm

7 – Điệp từ “đất nước” được lặp lại trong đoạn thơ có vai trò quan trọng trong việc diễn tả tư tưởng, tình cảm của tác giả.

– Nêu lên những điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội tốt đẹp của đất nước thân yêu.

– Khẳng định chủ thể sở hữu những vẻ đẹp về văn hóa, lịch sử, địa lí, thiên nhiên, truyền thống đó là đất nước.

– Khẳng định niềm tự hào, tự tôn dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước của tác giả.

8 – Người mẹ trong kháng chiến hết sức bình dị, như bao nhiêu người mẹ Việt Nam khác, cần cù, bền bỉ, chăm chỉ với hạt lúa củ khoai.

– Tần tảo, hi sinh, chịu mọi vất vả cực nhọc. Đó là người mẹ hi sinh cho gia đình hết thảy.

– Cao cả hơn, đặt trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cả nước kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, người mẹ ấy còn là một người mẹ anh hùng. Mẹ hi sinh những người thân yêu nhất của mình cho Tổ quốc.

– Tham gia vào công cuộc đánh giặc Mỹ, mẹ là người phụ nữ dũng cảm, anh hùng.

=> Mẹ là đại biểu cho người phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

 

 

ĐỀ CHUYÊN LÀO CAI LẦN 1

Đọc bài thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Con sẽ không đợi một ngày kia

khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc

Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ? Con hốt

hoảng trước thời gian khắc nghiệt Chạy điên cuồng

qua tuổi mẹ già nua

mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ ai níu

nổi thời gian?

ai níu nổi?

 

…ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ giọt nước

mắt già nua không ứa nổi

ta mê mải trên bàn chân rong ruổi mắt mẹ

già thầm lặng dõi sau lưng Khi gai đời đâm

ứa máu bàn chân mấy kẻ đi qua

mấy người dừng lại?

Sao mẹ già ở cách xa đến vậy trái tim âu

lo đã giục giã đi tìm

ta vẫn vô tình

ta vẫn thản nhiên?

 

Hôm nay…

anh đã bao lần dừng lại trên phố quen ngã nón

đứng chào xe tang qua phố ai mất mẹ?

sao lòng anh hoảng sợ tiếng khóc

kia bao lâu nữa của mình?

(Xin tặng cho những ai được diễm phúc còn có Mẹ – Đỗ Trung Quân )

Câu 1:Đặt nhan đề cho bài thơ. (0,25 điểm).

Câu 2:Đặt trong toàn bài thơ, câu thơ “ Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?” có ý nghĩa gì? (0,25 điểm).

Câu 3:Đoạn thơ “ Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân mấy kẻ đi qua

mấy người dừng lại?

sao mẹ già ở cách xa đến vậy”

tác giả muốn nói điều gì ? (0,5 điểm )

Câu 4:Viết đoạn văn khoảng 5 dòng trình bày cảm xúc khi đọc xong đoạn thơ? ( 0,5 điểm )

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Thư Các Mác gửi con gái.

Con ơi! Dù con sợ Tình yêu, Tình yêu vẫn cứ đến.

Con đừng bao giờ tự hỏi rằng người yêu con có xứng với con không? Cái thứ Tình yêu mà lại mặc cả như món hàng ngoài chợ thì không còn gọi là tình yêu được nữa. Yêu là không so tính thiệt hơn, con ạ!

Nếu người con yêu là một người nghèo khổ thì con sẽ cùng người ấy chung sức lao động để xây đắp tô thắm cho Tình yêu. Nếu người yêu của con già hơn con thì con làm cho người đó trẻ lại với con. Nếu người yêu con bị cụt chân thì con sẽ là cái nạng vững chắc nhất đời họ. Tình yêu đẹp nhất sẽ đến với con nếu con nghĩ và làm đúng lời cha dạy.

Nhưng con cũng phải luôn tự hỏi xem người đó yêu con vì lẽ gì. Nếu người đó yêu con vì sắc đẹp, con nên nhớ sắc rồi sẽ tàn. Nếu người đó yêu con vì có chức tước cao thì khẳng định người đó không yêu con, con hãy từ chối và bảo họ rằng địa vị không bao giờ làm sung sướng cho con người, chỉ có sự làm việc chân chính mới thoả mãn lòng người chân chính.

Con phải độ lượng, phải giàu lòng vị tha nếu có sự hối hận thực sự. Con phải chung thuỷ với người con yêu. Nếu con làm mất hai chữ quý báu ấy, con sẽ hổ thẹn không lấy gì mà mua lại được. Con sẽ không được quyền tự hào với chồng, với con, với xã hội. Nếu con dễ dàng để cho 1 kẻ xa lạ nào đó đặt cái hôn gian manh bẩn thỉu lên môi con, thì trước khi hôn họ đã khinh con, đang khi hôn họ cũng khinh con và sau khi hôn họ càng khinh con hơn nhất.

Ai sẽ vì con mà chăm sóc đời con, vui khi con có tin mừng, buồn khi con không may, nhất định đó là chồng con

Câu 5:Nội dung chính của văn bản trên. (0,5 )

Câu 6: Tại sao Các Mác lại nói: Dù con có sợ Tình yêu, Tình yêu vẫn cứ đến? (0,25)

Câu 7: Trong văn bản trên Các Mác sử dụng kiểu câu: “Nếu người con yêu là một người nghèo khổ thì con sẽ cùng người ấy chung sức lao động để xây đắp tô thắm cho Tình yêu”. Câu văn trên thuộc kiểu câu nào xét về mặt ngữ pháp? (0,25 )

Câu 8: “Nếu con dễ dàng để cho 1 kẻ xa lạ nào đó đặt cái hôn gian manh bẩn thỉu lên môi con, thì trước khi hôn họ đã khinh con, đang khi hôn họ cũng khinh con và sau khi hôn họ càng khinh con hơn nhất”. Theo em tại sao Các Mác lại nói như vậy (0,5 )

Câu Ý Nội dung
I    
1 Nhan đề của bài thơ: Mẹ/ Con sẽ không đợi một ngày kia/…
2 Đặt trong toàn bài thơ, câu thơ “Những dòng sông trôi đi có trở lại

bao giờ?” có ý nghĩa: chỉ sự ra đi vĩnh viễn của người mẹ, chỉ sự mất

mát to lớn của con khi mẹ ra đi – đó là những yêu thương, chăm sóc

mà mẹ đã dành cho con.

3 Đoạn thơ “Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân/…/sao mẹ già ở cách xa

đến vậy”, tác giả muốn nói lên một quy luật phổ biến trong cuộc sống:

– Chúng ta thường mải miết với cuộc sống riêng của mình mà lãng

quên mẹ, lãng quên những ân cần của mẹ. Và chỉ khi vấp ngã, đối mặt

với sự lạnh lùng, vô cảm của người đời, chúng ta mới nhớ đến mẹ

nhưng có thể mẹ già đã không còn bên ta nữa.

– Câu thơ “sao mẹ già ở cách xa đến vậy” chứ đựng niềm ân hận, xót

xa của một người con đã từng sống vô tâm, ích kỉ.

4 Đoạn văn cần nêu được tình cảm của người viết đối với mẹ và rút ra

bài học cho bản thân: phải biết yêu thương, kính trọng mẹ, biết ơn,

trân trọng những gì cha mẹ đã dành cho ta. Tình yêu thương đó cần

được thể hiện bằng hành động cụ thể ngay từ hôm nay: quan tâm,

chăm sóc, vâng lời, học tập, tu dưỡng tốt,…

5 Nội dung chính của văn bản: Lời dạy của Các Mác với con gái về tình

yêu đích thực.

6 Các Mác nói “Dù con có sợ Tình Yêu, Tình Yêu vẫn cứ đến” vì đó là thứ tình cảm tự nhiên của con người, dù muốn hay không thì vẫn trải qua tình cảm đó.
7 Câu “Nếu người con yêu…tô thắm cho Tình Yêu” sử dụng kiểu câu ghép: Nguyên nhân – Kết quả.
8 Các Mác nói: “Nếu con dễ dàng…càng khinh con hơn nhất” vì:

– Nó thể hiện sự dễ dãi bởi nụ hôn là biểu hiện của tình yêu nhưng tình yêu phải xuất phát từ sự tìm hiểu kĩ càng, chín chắn chứ không dễ dàng hôn một người xa lạ như vậy.

– Với người phụ nữ đã có chồng, hành động đó là sự phản bội với chồng của mình nên người phụ nữ không đánh được tôn trọng.

 

 

ĐỀ CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 1

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Biết khao khát những điều anh mơ ước

Biết xúc động qua nhiều nhận thức

Biết yêu anh và biết được anh yêu

 

Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh

(Trích Tự hát – Xuân Qunh)

Câu 1. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên. (0,5đ)

Câu 2. Nêu ý nghĩa của câu thơ Biết khao khát những điu anh mơ ước. (0,5đ)

Câu 3. Trong khổ thơ thứ nhất, những từ ngữ nào nêu lên những trạng thái cảm xúc, tình cảm của nhân vật “em”? (0,25 )

Câu 4. Điều giãi bày gì trong hai khổ thơ trên đã gợi cho anh / chị nhiều suy nghĩ nhất? Trả lời trong khoảng từ 3 – 4 câu. (0,25 )

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cần phải huy động sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội. Trước hết, trong mỗi gia đình, bố mẹ phải có ý thức uốn nắn lời ăn tiếng nói hàng ngày của con cái. Nếu bố mẹ nói năng không chuẩn mực, thiếu văn hóa thì con cái sẽ bắt chước. Đặc biệt, trong nhà trường, việc rèn giũa tính chuẩn mực trong sử dụng tiếng Việt cho học sinh phải được xem là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên… Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng cũng phải tuyên truyn và nêu gương trong việc sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực, đồng thời tích cực lên án các biểu hiện làm méo mó tiếng Việt.

Câu 5. Đoạn văn trên đề cập đến vấn đề gì? (0,25 điểm)

Câu 6. Tại sao trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt phải huy động sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội? (0,25 điểm)

Câu 7. Theo anh (chị), chuẩn mực tiếng Việt được thể hiện ở những mặt nào? (0,5 điểm)

Câu 8. Viết một đoạn văn ngắn trình bày nhiệm vụ của người học sinh trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. (0,5 điểm)

Câu Ý Nội dung
I    
1 Biện pháp điệp từ và ẩn dụ.
2 Ý nghĩa: xuất phát từ tình yêu và sự tôn trọng đối với người mình yêu, nhân vật “em” đồng cảm và sống hết mình với những mơ ước của anh, sống hết mình trong tình yêu.
3 Những từ: khao khát, xúc động, yêu.
4 Có thể nêu là: niềm hạnh phúc hoặc nỗi lạc loài vì cảm thấy mình nhỏ bé và cô đơn;…
5 Đoạn văn đề cập vai trò, trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội đối với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
6 Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, phải huy động sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội là vì: gia đình, nhà trường,  xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ cho cộng đồng. Đó cũng là nơi những biểu hiện lệch lạc trong cách sử dụng tiếng Việt được điều chỉnh.
7 Chuẩn mực tiếng Việt được thể hiện toàn diện trên các mặt: ngữ âm -chính tả, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ (phát âm đúng; viết đúng hình thức văn tự của từ; sử dụng từ ngữ chuẩn xác; đặt câu đúng ngữ pháp tiếng Việt; dùng tiếng Việt, tạo lập các kiểu loại văn bản phù hợp với những bối cảnh giao tiếp)…
8 Đoạn văn cần viết ngắn gọn, các câu đúng ngữ pháp và liên kết chặt chẽ để làm nổi bật chủ đề: trách nhiệm của học sinh trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Các ý có thể có: tự mình phải thường xuyên học tập để có thể nói đúng, viết đúng; góp phần vào việc ngăn chặn những xu hướng tiêu cực, lệch lạc đang diễn ra …

 

 

ĐỀ CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 2

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

(1) Hiện nay, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng còn nhiều bất cập.

(2) Nguy cơ thất truyền, mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể và sự xuống cấp của các di tích lịch sử vẫn còn ở mức báo động; việc phát huy giá trị các lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế, hiện tượng thương mại hóa trong lễ hội chưa được ngăn chặn một cách hiệu quả; sự hạn hẹp về kinh phí để bổ sung hiện vật cho bảo tàng; nạn trộm cắp buôn bán cổ vật vẫn diễn ra phức tạp; tình trạng lấn chiếm di tích, danh lam thắng cảnh; hiện tượng xây dựng trái phép, tu bổ di tích sai nguyên tắc chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời…

 (Giáo dục ý thức bảo vệ di sản văn hóa cho thế hệ trẻ – Nguyễn Bá Khiêm)

Câu 1: Hãy ghi lại câu văn nêu chủ đề của đoạn trích. (0,25 đ)

Câu 2: Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào? (0,5 đ)

Câu 3: Hãy tìm thành phần phụ trong câu văn số (1) và gọi tên thành phần đó (0,25 đ)

Câu 4: Theo anh/chị, cần làm gì để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc? Trả lời trong khoảng 10 dòng (0,5 đ)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Nắng trong mắt những ngày thơ bé

Cũng xanh mơn như thể lá trầu

Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau

Chở sớm chiều tóm tém

Hoàng hôn đọng trên môi bà quạnh thẫm

Nắng xiên khoai qua liếp vách không cài

Bóng bà đổ xuống đất đai

Rủ châu chấu, cào cào về cháu bắt

Rủ rau má, rau sam

Vào bát canh ngọt mát

Tôi chan lên suốt dọc tuổi thơ mình.

(Thời nắng xanh, Trương Nam Hương)

Câu 5: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 đ)

Câu 6: Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên. (0,5 đ)

Câu 7: Xác định thể loại của bài thơ trên (0,25đ)

Câu 8: Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên.

Câu Ý Nội dung
I    
1 Câu chủ đề của đoạn là “Hiện nay, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng còn nhiều bất cập”.
2 – Những thao tác lập luận : bình luận, chứng minh.
3 Thành phần phụ trạng ngữ “ Hiện nay”.
4 Học sinh cần nêu được một số giải pháp để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc như:

– Phát huy các giá trị lễ hội truyền thống

– Ngăn chặn nạn thương mại hóa lễ hội, ăn cắp cổ vật…

– Giáo dục ý thức bảo vẹ và phất huy giá trị di sản văn hóa dân tộc cho nhân

dân, nhất là giới trẻ

– …

5 Phương thức biểu đạt chính là phương thức biểu cảm.
6 – Biện pháp so sánh và liệt kê.
7 Thể thơ tự do.
8 Nội dung chính của đoạn thơ là kí ức của chủ thể trữ tình về tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên và về người bà tảo tần khuya sớm…

 

 

ĐỀ CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 3

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi nêu bên dưới (câu 1 đến câu 4)

Năm học này em ở trường nội trú. Có nhiều điều mới mẻ, thú vị. Và em lúc nào cũng nhớ về nhà. Nhớ để biết ơn.

Vào trường, em được học cách để sống chung với các bạn khác. Em cũng vụng về, cũng làm sai làm hỏng nhiều lần, cũng vẫn ẩu, chưa gọn gàng, chưa ngăn nắp. Nhưng em biết ơn Bố vì khi em ở nhà, Bố luôn dặn em phải quay lại nhìn công việc mình vừa làm, xem có gì cần dọn dẹp không. Đôi lần em hơi khó chịu khi Bố cứ nhắc mãi về việc để đôi dép cho ngay ngắn, rồi vắt cái khăn mặt cũng phải hai mép chùng khít với nhau. Nhưng bây giờ, em mới thấy điều đó cần thiết đến nhường nào. Và em cố gắng sửa mình, theo từng lời Bố dặn. Trường là nơi em cảm nhận rõ ràng về sự học hỏi. Em thấy mình có thể học hỏi từ mọi người ở bất cứ lĩnh vực nào… Khi ấy, em biết ơn Bố. Khi em còn ở nhà, Bố không hỏi em về kiến thức trong sách. Bố cho em đi chơi nhiều nơi, cho em rời xa sách giáo khoa đề ngắm chiều xuống, nắng lên, ngắm những phận người soi bóng qua những giọt mồ hôi mặn. (…)

Không phải mọi điều lúc nào cũng dễ dàng. Không phải cứ học ở một trường tốt là mọi thứ sẽ “trải thảm”, có rất nhiều khó khăn thử thách đến với du học sinh. Khi gặp khó khăn, em nhớ đến những câu thơ Bố thường đọc cho em nghe: Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng/ Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành/ Nỗi buồn đánh thức hy vọng. Chính nghịch cảnh là thầy dạy ta. Và em vững lòng vượt qua khó khăn. (…)

Cứ thế, một ngôi trường em yêu thích bởi trước hết, nó giúp em, bằng một cách rất hữu hình, nhớ và biết ơn Bố của mình.

Mẹ ơi, khi đọc đến đây, mẹ có tự hỏi vì sao em không nhắc đến Mẹ không?

đơn giản, em dành cho Mẹ một vị trí vô cùng đặc biệt. Và đơn giản hơn nữa, mẹ chính là người “làm nên” hai người đàn ông trong gia đình.

Bằng sự nhẫn nại, dịu dàng, Mẹ đã mang Bố v với gia đình. (…)

Bằng sự hiểu biết, bao dung, Mẹ đã dạy em v sự biết ơn. Như thấy bình minh là vui vì ngày mới bắt đầu. Thấy hoàng hôn là biết yêu ngày đã qua. Mẹ luôn cạnh em trong từng ngày, từng ngày dù em xa hay em gần để truyn cảm hứng, để em không chấp nhận sự “tạm được”, “tạm ổn” khi mà em có thể “phát triển” một cách “say mê, nhân hậu, hài hước và phong cách” như nhân vật trong câu chuyện mẹ và em đã từng đọc. Em luôn ghi nhớ những điu đó.

(Lá thư cuối năm của em – Đỗ Nhật Nam – nguồn Dân Trí)

1/ Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Phương thức biểu đạt chính là gì?

2/ Qua bức thư, Đỗ Nhật Nam muốn bày tỏ gì với bố mẹ?

3/ Xét theo mục đích nói, câu văn Mẹ ơi, khi đọc đến đây, mẹ có tự hỏi vì sao em không nhắc đến Mẹ không? thuộc kiểu câu gì?

4/ Từ quan niệm của Đỗ Nhật Nam về nghịch cảnh, anh/chị hãy viết khoảng nửa trang giấy thi nói lên suy nghĩ của mình về thái độ cần có của con người trước những nghịch cảnh trong cuộc sống.

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu bên dưới (câu 5 đến câu 8):

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông

Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng

trên giấy điệp Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn Lưỡi dài

lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Mẹ con

đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ

tan tác v đâu?

5/ Đoạn thơ được làm bằng thể thơ nào?

6/ Hãy kể tên 02 bức tranh Đông Hồ được tác giả nhắc đến trong đoạn thơ trên.

7/ Anh/ chị hiểu thế nào về cụm từ màu dân tộc trong câu thơ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp?

8/ Viết một đoạn văn (khoảng 5- 7 dòng) nêu cảm nhận của anh/chị về tâm trạng của tác giả trong đoạn thơ trên.

Câu Ý Nội dung
I 1 – Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (0.25đ)

– Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm (0.25đ)

2 Qua bức thư, Đỗ Nhật Nam bày tỏ tấm lòng biết ơn, nhớ thương của em đối với Bố mẹ (0.25đ)
3 Câu nghi vấn (0.25đ)
4 Thái độ cần có khi gặp nghịch cảnh là: không nên lùi bước mà hãy nỗ lực tìm cách vượt nghịch cảnh. Khi nỗ lực tìm cách, ta sẽ có thêm những kiến thức, những kinh nghiệm, ta được rèn rũa tính kiên trì, lòng quyết tâm…và ta sẽ trưởng thành hơn.
5 Đoạn thơ được làm bằng thể thơ tự do (0.25đ)
6 Thí sinh chỉ cần kể tên 02 trong số các bức tranh sau: Đám cướichuột; Đàn gà mẹ con; Đàn lợn âm dương. (0.25đ)
7 – “Màu dân tộc” trước hết là để nói những chất liệu làm tranh Đông Hồ đều là những chất liệu dân gian của dân tộc. (0.25đ)

– “Màu dân tộc” còn để chỉ những đường nét, cảnh sắc trong tranh thể hiện cái hồn của dân tộc.Đó là những cảnh sinh hoạt, những tâm tư, những khát vọng, ước mơ của nhân dân gửi gắm trong mỗi bức tranh. (0.25đ)

8 Tâm trạng của tác giả vừa yêu thương tự hào về một miền quê trù phú, giàu truyền thống văn hóa, vừa đau thương, xót tiếc khi miền quê ấy bị giặc tàn phá. Đồng thời là nỗi hờn căm, uất hận trước tội ác của kẻ thù. (0.5đ)

 

 

ĐỀ CHUYÊN QUANG TRUNG LẦN 1

I/ PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

(…) (1) Luật giao thông là những nguyên tắc đơn giản nhất trong nền pháp luật của một đất nước. Luật giao thông hiện diện trong mọi mặt sinh hoạt của cuộc sống thường nhật, khi người dân phải ra đường. Chúng ta đối mặt với khoản luật này hằng ngày từ sáng đến tối. Do đó, quyết định tuân thủ hay không tuân thủ Luật Giao thông chính là điều kiện để tạo ra một môi trường liên tục cho mỗi người cố gắng và nỗ lực trong từng ngày.

(2) Một ngày nào đó, việc tuân thủ Luật Giao thông của chúng ta sẽ trở thành một thói quen, và dĩ nhiên đó là một thói quen tuân thủ chuẩn mực của quốc gia. Một ngày nào đó, việc tuân thủ Luật Giao thông làm cho chúng ta dễ tuân theo những điều luật phức tạp, khó khăn và quan trọng hơn trong luật pháp nhà nước. Từ đó, có thể xây dựng một thói quen văn học biết tôn trọng luật pháp của bất cứ công dân nào trong một đất nước văn minh.

(3) Đó là vì trật tự cũng giống như những bậc thang. Trước khi leo lên được bậc cao nhất, hãy bắt đầu bằng nấc thang thấp nhất, bởi lẽ “cuộc hành trình ngàn dặm nào cũng phải bắt đầu bằng một bước đi nhỏ bé đầu tiên”

(trích châm ngôn của Lão Tứ). (Theo báo điện tử tuoitreonline, ngày 22 – 10 – 2007)

Câu 1. Hãy xác định nội dung chính của đoạn trích trên (0,25 điểm).

Câu 2. Tại sao nói “Việc tuân thủ Luật Giao thông làm cho chúng ta dễ tuân theo những điều luật phức tạp, khó khăn và quan trọng hơn trong luật pháp nhà nước”? (0,5 điểm).

Câu 3. Xác định thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng ở đoạn (3). (0,25 điểm).

Câu 4. Theo anh (chị) làm thế nào để việc tuân thủ Luật Giao thông trở thành một thói quen văn hóa biết tôn trọng luật pháp? Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng. (0,5 điểm).

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

…Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê

Thành nước Việt nhân dân trong mát suối

Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói

Những đời thường cũng có bóng hoa che

Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc…

Tuyết Mat-xcơ-va sáng ấy lạnh trăm lần

Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt

Lênin mất rồi. Nhưng Bác chẳng dừng chân

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt

Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi

Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất

Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai

(Trích Người đi tìm hình của nước, Chế Lan Viên, NXB Văn học, 2002)

Câu 5. Đoạn thơ trên thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả? (0,25 điểm).

Câu 6. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

Câu 7. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai. (0,5 điểm)

Câu 8. Đoạn thơ đã gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về lòng yêu nước của tuổi trẻ ngày nay. Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng. (0,5 điểm).

Câu Ý Nội dung
I 1 Nội dung: Ý nghĩa của việc nghiêm chỉnh chấp hành Luật Giao thông.
2 Vì: Luật Giao thông là những nguyên tắc đơn giản nhất trong nền pháp luật của một đất nước. Chấp hành Luật Giao thông sẽ hình thành ở mỗi người thói quen tuân thủ chuẩn mực của quốc gia. Từ đó, dễ dàng tuân theo những điều luật phức tạp, khó khăn và quan trọng hơn trong luật pháp nhà nước.
3 Đoạn (3) sử dụng thao tác lập luận so sánh.
4 Để việc tuân thủ Luật Giao thông trở thành một thói quen văn hóa biết tôn trọng luật pháp, cần:

– Giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức của người dân.

– Tăng cường giám sát các hoạt động giao thông.

– Xử lí nghiêm các hành vi vi phạm Luật Giao thông.

5 Đoạn thơ thể hiện niềm hạnh phúc, tự hào, xúc động mãnh liệt, chân thành của nhà thơ khi Bác đã tìm gặp được Chủ nghĩa Mác – Lê nin, hứa hẹn một cuộc thay da đổi thịt cho dân tộc Việt Nam. Cả đoạn thơ thấm đượm tình cảm kính yêu, trân trọng, biết ơn Bác.
6 Đoạn thơ sử dụng phương thức biểu đạt biểu cảm, tự sự.
7 Câu thơ sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Hai chữ “phôi thai” nói đến sự hồi sinh của đất nước, của dân tộc Việt Nam sau gần trăm năm nô lệ. Nhà thơ đã cảm nhận sự hồi sinh ấy không phải bằng mắt nhìn mà bằng trái tim biết “lắng nghe”. Cách nói ẩn dụ tạo sự hàm súc cho câu thơ, thể hiện niềm xúc động mãnh liệt của tác giả.
8 Lòng yêu nước của tuổi trẻ hiện nay:

– Trân trọng, biết ơn quá khứ, tự hào về lịch sử dân tộc, về vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

– Tiếp tục phát triển đất nước, phát triển sự nghiệp của Người và các thế hệ cha ông để lại.

– Ra sức bảo vệ, giữ gìn thành quả cách mạng của dân tộc.

 

ĐỀ CHUYÊN QUỐC HỌC HUẾ LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Sao tôi rất nhớ những cây bàng dọc đường . Đặc biệt, tôi đã quan sát một cây. Một cây bàng cuối đông, cao to, thân vạm vỡ, cành xòe ra như tán. Nó đen đủi lắm. Tất cả lá của nó bị cháy rét; lá vàng pha, lá son đỏ của mùa thu thơ mộng nay đã xịt lại một màu gỉ sắt (…). Nhưng kia kìa, bỗng đâu một trận gió rét thốc tới! Tức thì khối lá ào ào xao động , cây bàng buông xuống một loại lá sạm đen, lá bay trong gió, cỏ lá bay vèo. Một trận gió nữa xố tới! Cây bàng lại trút lá, say sưa. Cành của nó nhẹ bớt đi, chọc lên cao hơn. Bấy giờ tôi mới nhìn kĩ, thì ra ở cành trụi nhất đã ló những chút màu xanh rồi. Cây bàng! Có phải ngươi là hình ảnh của những cuộc đấu tranh mới, cũ? Có phải ngươi dạy ta một bài học về cuộc chiến đấu để giành lấy mùa xuân?

(Trích “Mùa xuân thắng” – Xuân Diệu, Bài tập Ngữ văn 10, tập 1, NXBGD, 2014, tr.45)

Câu 1: Chỉ ra các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn (0,25 điểm).

Câu 2: Sự thay đổi của lá bàng từ mùa thu đến mùa đông được miêu tả trong câu văn nào? (0,25 điểm).

Câu 3: Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn văn (0,5 điểm).

Câu 4: Câu văn “Bây giờ tôi mới nhìn kĩ, thì ra ở cành trụi nhất đã ló những chút màu xanh rồi” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? (0,5 điểm).

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 5 đến Câu 7:

Những ngày qua Nguyễn Thị Ánh Viên là một trong những cái tên gây sốt hàng đầu khắp Đông Nam Á với hàng loạt chiến tích ở “đường đua xanh” SEA Games 28 đang diễn ra tại Singapore. Và tối 9-6 dù lại phá kỉ lục SEA Games hưng Ánh Viên bật khóc, không phỉa vì vui mừng.

“Tôi khóc không phải vì giành được huy chương vàng và phá kỉ lục SEA Games mà vì trong lúc thi đấu đã mắc một số lỗi. Tôi không hài lòng về điều đó ngay cả khi chiến thắng. Tôi đã giành nhiều huy chương vàng và phá nhều kỉ lục SEA Games nhưng tôi sẽ không ngừng phấn đấu. Nếu tôi hài lòng với những gì đã đạt được, tôi là kẻ thất bại ngay từ bây giờ, chứ không phải chờ tới ngày mai. Tôi không nhớ đến chiến thắng, mỗi ngày đều nỗ lực như chưa giành được gì” là câu nói dung dị của Ánh Viên sau khi giành huy chương vàng và phá kỉ lục SEA Games ở nội dung 200m bướm chiều 9-6.

(“Khi Ánh Viên khóc, bạn nghĩ gì?” Theo báo Tuổi trẻ, Thứ năm, ngày 11/6/2015)

Câu 5: Xác định phong cách ngôn ngữ, chỉ ra những đặc trưng chính của phong cách ngôn ngữ được thể hiện trong văn bản (0,5 điểm)

Câu 6: Giải thích ý nghĩa của các từ ngữ sau: đường đua xanh, phá kỉ lục (0,5 điểm).

Câu 7: Lời tâm sự của Ánh Viên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? (0,5 điểm).

Nội dung

1/ Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn: miêu tả, biểu cảm.

2/ Sự thay đổi của lá bàng từ mùa thu đến mùa đông được miêu tả trong câu văn “Tất cả lá của nó bị cháy rét; lá vàng pha, lá son đỏ của mùa thu thơ mộng nay đã xịt lại một màu gỉ sắt”.

3/ Các câu hỏi tu từ “Có phải ngươi là hình ảnh của những cuộc đấu tranh mới, cũ? Có phải ngươi dạy ta một bài học về cuộc chiến đấu để giành lấy mùa xuân?” đã đưa ra cho người đọc những bài học triết lí, nhân sinh từ cây bàng; đồng thời tạo sự nhịp nhàng cho đoạn văn.

4/ Gợi ý: Sự sống vẫn có thể nảy sinh ngay ở nơi đất chết, những gì tốt đẹp nhất vẫn có thể hiện hữu ở những môi trường khắc nghiệt.

5/ Phong cách ngôn ngữ báo chí. Biểu hiện:

– Tính thời sự: cập nhật thông tin nhanh, chính xác.

– Tính ngắn gọn: Dung lượng ít nhưng lượng thông tin lớn [tên, thành tích, bộ môn tham gia thi, tên cuộc thi, địa điểm, thời gian thi…]

– Tính sinh động, hấp dẫn: cách đặt nhan đề gây tò mò, thu hút sự chú ý của người đọc “Khi Ánh Viên khóc, bạn nghĩ gì?”

6/ “Đường đua xanh”: chỉ cuộc thi bơi lội.

“Phá kỉ lục”: có thành tích vượt trên những thành tích cao nhất trước đó.

7/ Gợi ý những bài học rút ra từ lời tâm sự của Ánh Viên: Để đạt được thành công:

– Phải nghiêm khắc với bản thân, không chủ quan, ngủ quên trên chiến thắng.

– Phải nỗ lực không ngừng.

 

ĐỀ CHUYÊN SƯ PHẠM HÀ NỘI LẦN 1

Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ dưới đây rồi trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

“Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

 

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.”

(Trích Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)

Câu 1.Nội dung của đoạn thơ trên là gì?

Câu 2. Phân tích giá trị của từ láy trong câu thơ “Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh?”

Câu 3. Phân tích biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ:

“Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ”

Câu 4. Hãy chỉ ra ngắn gọn thái độ của tác giả được gửi gắm trong những vần thơ trên.

Đọc văn bản dưới đây rồi trả lòi các câu hỏi từ câu 5 đến câu 6:

“Cái gì đã tạo ở Nguyên Hồng một chủ nghĩa lạc quan vững khỏe đến như thế? Đó là lý tưởng cách mạng mà nhà văn đã tiếp thu được ngay từ thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, nhất là từ khoảng từ 1938-1939 trở đi. Đỏ là bản tính yêu đời, yêu sống của nhân dân lao động đã thấm vào máu thịt, tâm hồn ông. Đó là sức mạnh tinh thần của một con người bao giờ cũng sống hết mình với cuộc sống, với mọi người, mọi việc xung quanh. Thải độ thờ ơ, lạnh nhạt, hoài nghi là cái gì hết sức xa lạ đổi với

Nguyên Hằng” (Trích Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng- Nguyễn Đăng Mạnh)

Câu 5. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính là gì? Nêu chủ đề văn bản.

Câu 6. Đoạn văn trên sử dụng phép liên kết chính là gì?

 

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Nội dung chính của đoạn thơ: Ca ngợi vẻ đẹp của tiếng Việt, bày tỏ niềm tự hào về tiếng nói của dân tộc.
2 Câu thơ “Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh” sử dụng từ láy “ríu rít” có giá trị biểu đạt cao. Câu thơ gợi ra âm sắc phong phú của tiếng Việt với những thanh điệu phong phú, những từ tượng thanh có sức gợi tả sống động.
3 “Ôi tiếng Việt như đắt cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ”

Trong câu thơ trên, Lưu Quang Vũ sử dụng liên tiếp biện pháp so sánh để ca ngợi tiếng Việt mộc mạc, gần gũi (như đất cày), nhưng lại mượt mà, tinh tế, uyển chuyển và vô cùng quý giá.

4 Qua đoạn thơ trên, nhà thơ đã gửi gắm tình yêu và niềm tự hào của mình về tiếng nói của dân tộc.
5 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là nghị luận. Chủ đề: lí giải về màu sẳc lạc quan trong văn chương Nguyên Hồng.
6 Phép liên kết chính trong đoạn văn là phép lặp (Đó là).

 

ĐỀ CHUYÊN SƯ PHAM HÀ NỘI LẦN 2

Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ dưới đây rồi trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

CHIỀU XUÂN

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;

Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió.

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,

Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

 Làm giật mình một cô nàng yếm thắm

Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.

 (Anh Thơ)

Câu 1. Nêu chủ đề của bài thơ?

Câu 2. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của các từ láy được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 3. Biện pháp tu từ nào được sử dụng một cách nổi bật trong bài thơ “Chiều xuân”? Hãy phân tích hai ví dụ tiêu biểu trong bài thơ đó.

Câu 4. Qua bài thơ, tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì?

Hãy đọc đoạn văn dưới đây và trả lời câu hỏi 5 và 6:

Thất bại khi một dân tộc phải dựa dẫm thánh thần mà đi

 (PL)- Cái sảy nảy cái ung, nếu không cẩn thận, hệ quả của các lễ hội không chỉ dừng lại ở sự nhốn nháo mà còn có nguy cơ đẩy dân tộc đến chỗ yếu đuối, tự ti và bạc nhược.

Ngày tế, lễ với công dân nhiều quốc gia có văn hóa gần gũi với chúng ta như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… diễn ra thật thanh bình và giản dị. Vào lúc giao thừa, người Đài Loan, Nhật Bản cùng nhau quây quần trong nhà. Sáng sớm, họ tới chùa đánh chuông, cầu mong sự tốt đẹp cho đất nước và người thân. Mọi sự diễn ra thật bình dị, ấm áp và sang trọng. Họ tin vào những gì họ có và tin vào ngày mai, cho dù Nhật là quốc gia nằm ở chỗ vỏ Trái đất yếu nhất, chịu rủi ro cao nhất nhưng phong thái của họ toát lên một vẻ ung dung tự tại.

Lễ hội là tấm gương phản chiếu thái độ sống của một dân tộc. Cứ đến ngày Tết và các lễ sau Tết, ngày thi cử thì cả đất nước ta sôi lên sùng sục. Mọi người đổ đến chùa chiền, miếu mạo để cầu xin sự phù hộ của thánh thần Có rất nhiều người đi hàng chục ngôi chùa, rủ nhau trở thành hội đì chùa, tạo ra một mùa hành hương. Trong số đó cổ không ít quan chức nhà nước đi miếu, chùa bằng xe biển sổ xanh, nhất là các bà vợ của họ. Họ dâng sớ cầu xin đủ thứ trên đời, nào cầu an, cầu lộc, cầu tài, cầu tình, cầu duyên, cầu tự và cả những thứ “độc địa” khác nữa. Hàng triệu con người bỏ thời gian đi tới những nơi được coi là linh thiêng với thải độ hoi hả, lo lẳng, sợ sệt, tự ti chen lẫn khoe mẽ. Nhiều tỉ đồng tan thành mây khói nuôi dưỡng cho niềm tin mơ hồ nhưng rất mãnh liệt.

Lễ hội ở các nơi trên thế giới có thể đông nhưng bát nháo như ở ta thì cực hiếm. Chúng đan xen rất nhiều thái cực và nhiều tâm thế. Ngoài ái, 0, hỉ, nộ ra thì còn biết bao nhiêu chuyện bi hài khác diễn ra trong lễ hội. Người hoan hỉ khi cướp dược lộc thánh, người đau khổ vì cầu chưa xong đã mat tài sản, kế cả mất mạng.

Giá như mọi người biết rằng “lộc thánh ” như miếng vải có ẩn triện đỏ đỏ, hoa tre là bùi nhùi ở đầu thanh tre, tiền của chúa là những miếng giấy bản được in mệnh giá thủ công,… nào đâu phải của “thánh”, của “chúa ” mà chỉ là do một ai đó người trần mắt thịt tạo ra. Rất có thể trong sổ họ chả thiếu người bất hảo đã hà hơi thêu dệt nên ảo ảnh, được những người có thế lực tiếp tay đầy lên thành thủ “thiêng”.

 Hối hả, giành giật, chen chúc, xô xát, chặt chém, lừa lọc, chửi bới, hối hận, cay cú, máu me,… là trạng thái tâm thần của lễ hội chúng ta. Từ “phụ mẫu của dân ” đến tất cả con dân của một đất nước phải vin vào thánh thần mà đì tới tương lai thì quả thật đất nước đang có vẩn đề, vượt ra khỏi tâm linh trong sáng mà chuyển sang một trạng thái cực đoan khác. Không thể kéo dài tình trạng này được nữạ, những người có trách nhiệm cần phải có nhận thức đúng, phải có thái độ đủng và hành xử đúng.

Bác Hồ nói một quốc gia dốt là một quốc gia yếu, mà u mê là một biểu hiện của dốt nát. Một dân tộc dựa dẫm thánh thần không thể nào là một dân tộc mạnh khỏe.

(TS NGUYỄN MINH HÕA, ĐH KHXH&NV TP.HCM)

Câu 5. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên?

Câu 6. Văn bản trên được triển khai theo phương pháp lập luận nào?

Câu Ý Nội dung
I 1 Chủ đề: Bức tranh “chiều xuân” thơ mộng, yên bình, tươi đẹp nơi làng quê và cái nhìn yêu mến, say mê của tác giả.
2 Các từ láy được sử dụng trong văn bản: êm êm, ỉm lìm, tơi bời, vu vơ, rập rờn, thong thả …

Nhờ tính gợi tả cao, các từ láy trong đoạn thơ đã diễn tả được trạng thái bình lặng của mỗi sự vật và nhịp sống yên bình của chốn làng quê, góp phần tạo nên bức tranh xuân êm ả, thơ mộng.

3 Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật trong bài thơ: nhân hóa

+ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi

+ Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa …

-> Phép nhân hóa khiến cảnh vật có hồn, các từ “biếng lười”, “nằm mặc”, “thong thả” đã tái hiện một bức tranh xuân êm đềm, yên ả, thanh tịnh.

4 Qua bài thơ, tác giả thể hiện sự gắn bó, yêu mến đặc biệt của mình với cảnh sắc làng quê. Anh Thơ được mệnh danh là thi sĩ của cảnh quê.
5 Phong cách ngôn ngữ của văn bản trên là: Báo chí.
6 Văn bản trên được triển khai theo phương thức lập luận: quy nạp.

 

 

ĐỀ CHUYÊN SƯ PHẠM HÀ NỘI LẦN 3

Anh/chị hãy đọc đoạn văn bản sau và trả lòi các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3:

“Người ta hay nhắc đến mang nặng đẻ đau. Có những quá trình không phải hoài thai, không đẻ gì (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa đen sinh học ) nhưng rất khó đau và nặng nhọc đèo bòng. Ngọc trai nguyên chỉ là một hạt cát, một hạt bụi biến xâm lăng vào vỏ trai, lòng trai. Cái bụi bặm khách quan nơi ron bế lẻn vào cửa trai. Trai xót lòng. Máu trai liền tiết ra một thứ nước rãi bọc lấy cải hạt buốt sắc. Có những cơ thể trai đã chết ngay vì hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình (và vì trai chết nên cát bụi kia vẫn chỉ là hạt cát). Nhưng có những cơ thể trai vẫn sống, sống lấy máu lấy rãi mình ra mà bao phủ lấy hạt đau hạt xót. Tới một thời gian nào đó, hạt cát khối tình con, cộng với nước mắt hạch trai, đã trở thành lõi sáng của một hạt ngọc tròn trăn ánh ngời ” ( Nguyễn Tuân, Tờ hoa)

Câu 1. Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó? (0,5 điểm)

Câu 2. Nêu khái quát nội dung chính của đoạn văn bản? (0,5 điểm)

Câu 3. Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân? (0,5 điểm)

Đọc đoạn văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 6:

“Người châu A nhìn chung hay có tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con ”, làm việc cật lực để sau này cuộc song con cái được sung sướng. Từ ngày xưa đã có những câu chuyện cả gia đình phải nhịn ăn để nuôi cậu học trò đi thi, mang vinh quang về cho ông bà, tổ tiên. Trong thời đại ngày nay, nhiều bậc cha mẹ thì chạy ngược xuôi kiếm tiền cho con đi du học. Khi học xong, thì tìm mọi cách đế “lót ổ” cho con vào những nơi có công việc tốt, và có một gia đình ổn định. Với chúng ta, không có gì tốt hơn cho con cái ngoài việc trải thảm hồng cho con đường chúng sẽ đi qua. Người phương Tây thì nghĩ khác. Tôi đã từng gặp rất nhiều bạn châu Âu gia đình khá giả, nhưng vẫn phải làm thêm để có tiền trang trải cuộc sống mà không nhận được trợ giúp nào từ bố mẹ. Họ không giám trách một lời nào, mà coi đó là việc đương nhiên để giúp bản thân có được một cuộc sống độc lập. Ngay cả con trai của ngôi sao bóng đá và triệu phú David Beckham, Brooklyn, cũng phải đi làm bồi bàn ở quán cafe để có tiền tiêu vặt. Lý do cỏ lẽ là bởi cách thể hiện tình yêu của mỗi nền văn hoá là khác nhau. Tình yêu con cái của người phương Đông giống như người thợ kim hoàn chăm sóc viên kim cương. Chúng ta gọt dũa nó theo ý mình, mài sạch không tì vết và trưmg bày trong tủ kính. Với người phương Tây, đó là cách loài sư tử dạy con trưởng thành: có che chở, bảo vệ, nhưng dần dần để nó độc lập đối diện với thiên nhiên hoang dã. Một bên coi trọng sự chở che và an toàn, một bên thì coi trọng tính tự chủ và trải nghiệm. ”

(Nguyễn Khắc Giang- Vnexpress- 14/5/2015)

Câu 4. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 5. Nội dung đoạn văn bản trên được trình bày theo thao tác lập luận nào ? Tác dụng của thao tác lập luận đó trong việc thể hiện nội dung? (0,5 điểm)

Câu 6. Nêu khái quát nội dung đoạn văn bản? (0,5 điểm)

Câu Ý Nội dung
I 1 Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng một chuỗi những từ ngữ phong phú để nói về hạt ngọc trai: hạt cát; một hạt bụi biển xâm lăng vào vở trai, lòng trai; cái bụi bặm khách quan nơi rốn bể lẻn vào cửa trai; cái hạt buốt sắc; hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình; hạt đau hạt xót; hạt cát khối tình con; một hạt ngọc tròn trặn ánh ngời. Qua đó, người viết vừa tái hiện cụ thể, sinh động mà chân thực quá trình hình thành hạt ngọc trong lòng những con trai nơi đáy đại dương vừa giúp người đọc hình dung quá trình ấy cũng giống như quá trình hoài thai, mang nặng đẻ đau của con người.
2 Toàn bộ đoạn văn bản tập trung tái hiện quá trình sáng tạo đây đau đớn mà kỳ diệu tuyệt vời của con trai nơi đáy đại dương.
3 Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điếm nối bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là: sự tài hoa, uyên bác cùng kho chữ nghĩa phong phú, giàu có.
4 Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
5 Nội dung đoạn văn được trình bày theo thao tác lập luận so sánh. Tác dụng:

– Làm bật sự khác biệt trong cách thể hiện tình yêu thương con của người châu Âu- châu Á.

– Làm cho nội dung được trình bày mạch lạc, rõ ràng, giàu sức thuyết phục.

6 Sự khác biệt trong văn hóa giáo dục gia đình giữa người châu Ẩu và châu Á.

 

ĐỀ CHUYÊN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LẦN 3

Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3

Một lần đi thăm một thầy giáo lớn tuổi, trong lúc tranh luận về quan điểm sống, một sinh viên đã nói:

– Sở dĩ có sự khác biệt là vì thế hệ các thầy sống trong những điều cũ là của một thế giới lạc hậu, ngày nay chúng em được tiếp xúc với những thành tựu khoa học tiên tiến hơn nhiều, thế hệ các thầy đâu có mảy tính, không có internet, vệ tinh viễn thông và các thiết bị thông tin hiện đại như bây giờ…

Người thầy giáo trả lời:

– Những phương tiện hiện đại giúp chúng ta nhưng không làm thay đổi chúng ta. Còn điểu em nói là đúng. Thời trẻ, những người như chúng tôi không có những thứ em vừa kể nhưng chúng tôi đã phát minh ra chúng và đào tạo nên những con người kế thừa và áp dụng chúng.

Cậu sinh viên chợt cúi đầu, im lặng.

 (Dẫn theo Hạt giống tâm hồn Ý nghĩa cuộc sống, tập 5, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh)

Câu 1: Đặt nhan đề cho văn bản trên. (0,5 điểm)

Câu 2: Theo cậu sinh viên, điều gì làm nên sự khác biệt về quan điểm sống giữa thế hệ của cậu và thế hệ của người thầy giáo lớn tuổi? (0,5 điểm)

Câu 3: Hãy nêu quan điểm sống và sự lí giải của anh/chị sau khi đọc xong văn bản trên bằng một đoạn văn ngắn. (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 6 :

Ôi bóng người xưa đã khuất rồi

Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi

Sống trong cát, chết vùi trong cát

Những trái tìm như ngọc sáng ngời

Đốt nén hương thơm, mát dạ

Người Về đây vui chút mẹ Tơm ơi!

Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới

Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi

(Mẹ Tơm – Tố Hữu)

Câu 4. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên ? (0,25 điểm)

Câu 5. Anh (chị) hãy nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 6. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ «Sống trong cát, chết vùi trong cát/ Những trái tim như ngọc sáng ngời».

Câu Ý Nội dung
I 1 Học sinh có thể đặt nhan đề cho câu chuyện một cách phong phú nhưng cần làm nôi bật lên sự đối lập trong quan điểm sống của hai thế hệ.

Có thể gợi ý một số nhan đề như sau: Đối thoại thế hệ; Trước kia và bây giờ; …

2 Theo cậu sinh viên, điều làm nên sự khác biệt về quan điểm sống giữa hai thế hệ, thế hệ trẻ và thê hệ của người thầy giáo lớn tuổi là do thời đại, hoàn cảnh sống.
3 Qua câu chuyện trên, người thầy muốn cậu sinh viên hiểu rằng mặc dù thế hệ của ông không được sống trong thời đại có nhũng thành tựu khoa học tiên tiến như máy tính, internet, vệ tinh viễn thông và các thiết bị thông tin hiện đại khác… nhưng ông và những người cùng thế hệ đã đặt viên gạch khởi đầu và đào tạo nên nhũng con người kế thừa và áp dụng những thành tựu đó. Thời đại mà người thầy giáo sống có thể là thời của những điều cũ kĩ, lạc hậu nhưng chính họ đã kiến tạo nên thế giới văn minh mà cậu sinh viên đang sống.

Học sinh bày tỏ sự đồng tình hoặc phản đối quan niệm trên của người thầy giáo và giải thích cho câu trả lời của mình. Nội dung lí giải phải hợp lí, có sức thuyết phục.

4 Hai khổ thơ có phương thức diễn đạt biểu cảm.
5 Đoạn thơ được viết bằng niềm xúc động chân thành thể hiện lòng biết ơn người mẹ đã nuôi giấu nhà thơ trong những ngày kháng chiến gian khổ. Từ cảm xúc cụ thể, đoạn thơ vươn lên tinh thần triết lí, đề cao đạo lí ân nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
6 Suy nghĩ về nỗi đau thương, mất mát của con người, nhà thơ dẫn dắt người đọc về lẽ sống, triết lí ở đời: “Sống trong cát… sáng ngời”. Con người sinh ra từ cát bụi, khi trở về giã từ cuộc sống cũng hòa cùng cát bụi, trọn vẹn một vòng sinh tử, một kiếp nhân sinh. Dẫu cuộc đời những con người như mẹ Tơm chịu muôn vàn cơ cực, gian lao, thử thách nhưng vẻ đẹp của ý chí, tâm hồn họ luôn tỏa sáng. Câu thơ mang ấn tuợng đẹp đẽ, giàu ý nghĩa biểu tượng kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật hoán dụ qua từ “Trái tim” và biện pháp nghệ thuật so sánh “trái tim như ngọc sảng ngời”. Ở đây, hình ảnh “trái tim” là để thay thế cho con người, đề cao sức sống tinh thần bất diệt, còn sự so sánh trái tim như viên ngọc quý đã ngợi ca sự thánh thiện, tỏa sáng bền lâu, vĩnh hằng. Nhà thơ đã khẳng định thật xúc động rằng: dù những người như mẹ Tơm có ra đi nhưng tâm hồn họ luôn bất tử, trờ thành biểu tượng cho lý tưởng yêu nước và đức hy sinh cao cả của con người Việt Nam trong chiến tranh.

 

ĐỀ CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 1

Phần I: Đọc – Hiểu

Câu 1. (3.0 điểm):

Đọc văn bản sau rồi thực hiện yêu cầu từ 1 đến 4:

HỌC VẤN VÀ VĂN HÓA

Trường Giang

Xin đừng vội nghi cứ có văn hóa, bằng cấp cao là nghiễm nhiên trở thành người có văn hóa. Trình độ tri thức văn hóa cũng chỉ mới là tiền đề. Sự rèn luyện nhân cách kém thì tiềm năng hiểu biết đó sẽ dễ tạo nên thói hợm hĩnh, khinh đời; phong cách sống càng xấu đi, càng giảm tính chất văn hóa. Trong thực tế, ta thấy không hiếm những người có học vấn mà phong cách sống lại trái ngược. Họ mở miệng là văng tục, nói câu nào cũng kèm từ không đẹp, mặt vênh vênh váo váo, coi khinh hết thẩy mọi người, trò chuyện với ai cũng hiếu thắng, nói lấy được nhưng khi gặp khó khăn lại chùn bước, thoái thác trách nhiệm. Trong lúc đó, có người học hành chưa nhiều, chưa có học hàm học vị gì nhưng khiêm tốn, lịch sự, biết điều trong giao tiếp, khéo léo, khôn ngoan trong cách ứng xử các tình huống cuộc sống. Rõ ràng, chất văn hóa trong phong cách sống phụ thuộc vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả giáo dục của gia đình.

Tất nhiên, tác động của trình độ văn hóa đến sự nâng cao phong cách văn hóa của một con người rất lớn. Cách suy nghĩ, cách giải quyết mâu thuẫn, sự ước mơ hy vọng và sự trau dồi lý tưởng có liên quan mật thiết đến tiềm năng hiểu biết. Đa số người có học vấn cao thường có phong cách sống đẹp. Không thể phủ nhận thực tế đó, có điều cần nhớ là trình độ học vấn và phong cách sống văn hóa không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau.

  1. Xác định thao tác lập luận trong văn bản.
  2. Văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?
  3. Nêu các biểu hiện của phong cách sống thiếu văn hóa ở một số người có học vấn.
  4. Chỉ ra các yếu tố tác động đến sự hình thành và nâng cao chất văn hóa trong phong cách sống.

Đọc bài thơ sau rồi thực hiện các yêu cầu từ 5 đến 8:

ÔNG PHỖNG ĐÁ

Nguyễn Khuyến

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?

Trơ trơ như đá, vững như đồng.

Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?

Non nước đầy vơi có biết không?

5/ Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

6/ Hình ảnh non nước đầy vơi hàm chứa ý nghĩa gì?

7/ Nêu hiệu quả của việc sử dụng các câu hỏi tu từ trong bài thơ.

8/ Theo anh/chị, bài thơ gửi đến người đọc thông điệp gì?

Câu Ý Nội dung
I 1 Thao tác lập luận được sử dụng: phân tích.
2 Văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí.
3 Biểu hiện của phong cách sống thiếu văn hóa ở một số người có học vấn: Họ mở miệng là văng tục, nói câu nào cũng kèm từ không đẹp, mặt vênh vênh váo váo, coi khinh hết thẩy mọi người, trò chuyện với ai cũng hiếu thắng, nói lấy được nhưng khi gặp khó khăn lại chùn bước, thoái thác trách nhiệm.
4 Các yếu tố tác động đến sự hình thành và nâng cao chất văn hóa trong phong cách sống:

– Trình độ học vấn

– Ý thức tu dưỡng

– Học tập trường đời.

– Giáo dục gia đình

5 Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Ông Phỗng đá
6 Hình ảnh non nước đầy vơi hàm chứa ý nghĩa: xã hội phong kiến đang có sự biến động, thực dân Pháp xâm lược, triều đình bạc nhược, các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt.
7 Tác dụng các câu hỏi tu từ nhằm thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm trước sự thờ ơ, vô cảm, vô trách nhiệm của đám quan lại, triều đình phong kiến trước sự suy vong của đất nước.
8 Thông điệp bài thơ gửi tới: Phản ánh thực trạng đau thương của đất nước và đánh thức tinh thần trách nhiệm của quan lại, triều đình phong kiến để giữ gìn, bảo vệ đất nước.

 

ĐỀ CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

“Cốm không phải là thức quà của người vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại cả trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc. Thêm vào cái mùi hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt cốm một, còn giữ lại cái ấm áp của những ngày mùa hạ trên hồ. Chúng ta có thể nói rằng, trời sinh ra sen để bao bọc cốm, cũng như trời sinh ra cốm nằm ủ trong lá sen. Khi các cô gái Vòng đỗ gánh, giở từng lớp lá sen, chúng ta thấy hiện ra từng lá cốm, sạch sẽ và tinh khiết, không có mảy may chút bụi nào”.

(Trích Hà Nội băm sáu phố phường – Thạch Lam, sách Thạch Lam văn và đời, Nxb. Hà Nội, 1999, tr. 337-338)

Câu 1. Đoạn văn trên sử dụng những phương thức biểu đạt gì? Thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Dựa vào đâu để xác định như vậy? (0,5 điểm)

Câu 2. Tại sao tác giả nói rằng: cốm không phải thức quà của người vội? Trong cảm nhận của tác giả, cốm là sự tổng hợp của nhiều hương vị, đó là những hương vị gì? (0,25 điểm)

Câu 3. Trong đoạn văn trên, tác giả đã dùng những từ ngữ nào để nói về sắc màu và hương vị của cốm? (0,25 điểm)

Câu 4. Viết một đoạn văn (không quá 10 câu) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về văn hóa ẩm thực truyền thống của người Việt Nam. (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Hòa bình tôi trở về đây

Vẫn mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng tôi, chết nửa con người.

(Trích Quê hương Giang Nam, sách Tình bạn tình yêu Thơ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1987, tr. 255-256)

Câu 5. Đoạn thơ trên viết bằng thể thơ nào? Dựa vào đâu để biết được điều ấy? (0,25 điểm)

Câu 6. Nêu các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ và cho biết phương thức nào là chính? Tại sao? (0,5 điểm)

Câu 7. Trong câu thơ Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!), bộ phận trong ngoặc đơn là thành phần gì? Phân tích giá trị nghệ thuật của thành phần đó. (0,25 điểm)

Câu 8. Viết một đoạn văn (không quá 10 câu) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề: Nỗi đau mất mát trong chiến tranh. (0,5 điểm)

Câu Ý Nội dung
I 1 – Đoạn văn trên sử dụng phương thức thuyết minh. Những dấu hiệu của phương thức thuyết minh: đoạn văn làm rõ những đặc điểm của cốm – một món ăn đặc sắc của Hà Nội – qua các phương diện: cách ăn cốm (chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ); hương vị của cốm (mùi thơm phức của lúa mới, mùi hoa cỏ dại ven bờ, chất ngọt của cốm, mùi hơi ngát của lá sen già…); cách gói cốm (dùng lá sen để bọc cốm).

– Đoạn văn còn sử dụng phương thức biểu cảm. Bằng chứng là, trong đoạn văn, tác giả thể hiện những cảm xúc của mình bằng lối diễn đạt giàu hình ảnh, từ ngữ chính xác, tinh tế, câu văn nhịp nhàng.

– Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Điều khẳng định này dựa trên hai căn cứ: thứ nhất, đây là một đoạn trích trong tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam, mà tùy bút là loại văn nghệ thuật; thứ hai, cách dùng từ, tạo câu, tạo âm điệu trong đoạn văn rất giàu tính nghệ thuật.

2 – Sở dĩ tác giả nói rằng, cốm không phải thức quà của người vội là bởi: phải ăn chậm rãi và thong thả mới có thể cảm nhận được những hương vị phong phú được kết tinh trong món ăn này.

– Trong cảm nhận của tác giả, cốm là sự tổng hợp của nhiều hương vị, đó là mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại, chất ngọt của cốm, mùi hơi ngát của lá sen già bọc cốm.

3 Trong đoạn văn trên, để nói về sắc màu và hương vị của cốm, tác giả đã dùng những từ ngữ: hương vị, thơm phức, màu xanh, tươi mát, chất ngọt, dịu dàng, thanh đạm, mùi hơi ngát, ấm áp, tinh khiết.
4 Đoạn văn phải viết gọn, không quá số câu quy định, các câu phải đúng ngữ pháp, liên kết chặt chẽ với nhau để làm nổi bật chủ đề đã cho. (Chú ý: từ nội dung của đoạn văn của Thạch Lam nói về cốm và việc thưởng thức cốm, người viết trình bày được suy nghĩ của mình về một nét nào đó trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt).
5 Đoạn thơ trên viết bằng thể thơ tự do. Bằng chứng: số tiếng trong các câu thơ không đều nhau, cả đoạn thơ là một mạch cảm xúc phóng túng, không phân chia thành các khổ thơ đều đặn về số câu.
6 Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng các phương thức sau:

– Phương thức tự sự: đọc đoạn thơ, có thể tóm lược được câu chuyện, có nhân vật, có sự kiện, có diễn biến.

– Phương thức biểu cảm (hay trữ tình): Phương thức chính của đoạn thơ (cũng như của cả bài thơ) là phương thức biểu cảm. Vì đây là một tác phẩm thuộc loại trữ tình (thơ), cho nên những yếu tố kể (tự sự) có tác dụng góp phần biểu đạt cảm xúc của tác giả về đối tượng được đề cập đến trong đó.

7 Trong câu thơ Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!), tác giả có sử dụng thành phần chêm xen. Đây là lời của cô gái được xen vào mạch kể và mạch trữ tình của bài thơ. Nó vừa thể hiện rất đúng sự e lệ của một người con gái đang yêu mà không biết làm sao bộc lộ tình cảm trước người mình yêu; đồng thời, nhờ sử dụng thành phần chêm xen mà giọng thơ trở nên phong phú hơn: trong một câu thơ, nghe cất lên tiếng nói của hai nhân vật.
8 Đoạn văn phải viết đúng số câu quy định, các câu trong đoạn phải đúng ngữ pháp, liên kết chặt chẽ với nhau để làm nổi bật chủ đề đã cho.

 

ĐỀ CHUYÊN VINH LẦN 2

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Học trò con trai ma quỷ học trò con gái thần tiên

thầy xếp thần tiên ngồi kèm ma quỷ

Bén hơi ma quỷ ghẹo thần tiên

lập lòe đom đóm vĩnh cửu ô mai đổi kẹo bạc hà

Lấm láp trang đời mỗi dày mỗi kịch tuổi học trò đồng nghĩa với trang thơ thời gian không

mất trắng bao giờ

Câu chuyện học trò không đầu không cuối tình ý học trò quả me chua loét

lưu bút mùa hoa phượng cháy không nguôi

Lá thư học trò vu vơ dấm dúi

nỗi nhớ học trò chấp chới suốt đời nhau đẹp như là không đâu vào đâu.

(Kính gửi tuổi học trò – Nguyễn Duy, 36 bài thơ, Nxb Lao động, 2007, tr. 71-72)

  1. Thể thơ gì được Nguyễn Duy sử dụng ở bài thơ trên? (0,25 điểm)
  2. Anh (chị) hiểu như thế nào về hai câu thơ: Học trò con trai ma quỷ/học trò con gái thần tiên? Một trong hai câu thơ trên gợi anh (chị) nhớ đến câu thành ngữ/tục ngữ nào của người Việt? (0,5 điểm)
  3. Nêu các từ láy có mặt trong bài thơ. (0,25 điểm)
  4. Từ gợi ý của bài thơ trên, hãy viết một đoạn văn (không quá 10 câu) về chủ đề: Tuổi học trò đồng nghĩa với trang thơ. (0,5 điểm)

Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

“Hài hước cũng phải học, học để thưởng thức được cái hài, học để diễn được cái hài. Chính khách nhiều nước phải thuê thầy riêng đến nhà dạy cách pha trò hài hước. Hài để làm cho việc tuyên truyền được vui vẻ tự nhiên đậm đà ý nhị. Hài để tấn công đối thủ cũng đang đi vận động tuyên truyền lấy phiếu cử tri. Hài để đá bóng về sân đối phương. Hài để gỡ bí trong tình huống trớ trêu khó xử. Lúc ấy mà mặt khó đăm đăm thì chắc chắn sẽ liệt, sẽ mất điểm.

Chính khách khi nói một câu hóm hỉnh chưa chắc đã thực lòng nói, diễn đấy.

Nghệ sĩ nhân dân đấy nghệ sĩ ưu tú đấy. Nhưng cái hóm hỉnh hài hước ấy thuyết phục được cử tri và công chúng, vậy là đạt được mục đích.

Cao hơn cả diễn nữa, là mình có khả năng hiểu được cái hài, thích cái hài, thấm được cái hài, mình cười một cách tự nhiên, pha trò một cách tự nhiên. Đấy là của trời cho. Đấy là người được thiên phú. Một tiếng cười bằng mười thang thuốc bổ”.

(Trích Không biết cười – Hồ Anh Thái, Lang thang trong chữ, Nxb Trẻ, 2015, tr. 56)

  1. Chủ đề của đoạn văn là gì? Hãy đặt cho đoạn văn một tiêu đề mà anh (chị) cảm thấy thích hợp. (0,25 điểm)
  2. Tác giả đã nói về những tác dụng gì của cái hài và nói với giọng điệu ra sao? Hãy liệt kê các yếu tố hình thức cho phép anh (chị) nhận ra giọng điệu ấy. (0,5 điểm)
  3. Trong đoạn văn, từ “diễn” được tác giả dùng đến ba lần. Anh (chị) hiểu như thế nào về hàm nghĩa của từ này? (0,25 điểm)
  4. Từ điều tác giả Hồ Anh Thái gợi mở, hãy viết một đoạn văn khoảng 5-7 câu nói về ý nghĩa của cái hài trong cuộc sống. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Ở bài thơ trên đây, tác giả sử dụng thể thơ tự do. Dấu hiệu để nhận biết: các câu thơ có số tiếng không đều nhau.
2 Câu thơ Học trò con trai ma quỷ nói về sự nghịch ngợm của các cậu học trò; câu học trò con gái thần tiên khẳng định nét đẹp đẽ, duyên dáng của nữ học sinh. Nguyễn Duy đã dựa vào thành ngữ/ tục ngữ Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò để viết câu thơ Học trò con trai ma quỷ.
3 Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng các từ láy: lập lòe, đom đóm, lấm láp, vu vơ, dấm dúi, chấp chới.
4 Đoạn văn phải viết gọn, không quá số câu quy định, các câu phải đúng ngữ pháp, liên kết chặt chẽ với nhau để làm nổi bật chủ đề đã cho. Ý trọng tâm của đoạn: Những nét đẹp nên thơ, đáng nhớ của tuổi học trò.
5 Chủ đề: Sự cần thiết của việc học cách hài hước.

Tiêu đề của đoạn văn có thể là: Học cách hài hước hoặc: Hài hước – điều cần học v.v.

6 Tác dụng của cái hài, theo tác giả: hài giúp cho việc tuyên truyền, vận động diễn ra dễ dàng, tự nhiên; hài giúp giữ được thế chủ động trong giao tiếp; hài góp phần gỡ bí trong những tình huống khó xử; hài tạo không khí thoải mái trong cuộc sống; hài có lợi cho sức khỏe… Giọng điệu của tác giả: hài hước. Các dấu hiệu nhận biết: dùng từ lấp lửng đa nghĩa (từ diễu); dùng lối diễn đạt kiểu “lật tẩy” (tấn công đối thủ, đá bóng về sân đối phương, gỡ bí…); dùng tiểu từ tình thái (đấy) rất đúng chỗ v.v.
7 Giá trị biểu đạt của từ “diễn”: biến hóa nghĩa theo từng lần được sử dụng, ban đầu chỉ hành vi của cái hài sự thực, sau đó chỉ hành vi “diễn trò”, hành vi “làm hề” của một đối tượng nào đó.
8 Phần viết phải nêu được ý nghĩa của cái hài:

– Cái hài rất cần thiết, bởi nó có tác dụng giải tỏa những những điều nặng nề trong cuộc sống.

– Cái hài như một thứ vũ khí, tấn công những thói hư tật xấu, những điều đáng phê phán.

– Cái hài biểu thị niềm lạc quan rất cần thiết của con người trong nhiều tình huống.

Vì thế, chúng ta đều cần học cách cười: cười đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng…

 

NGUYỄN QUANG DIỆU LẦN 1

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

(1) “Nếu bạn có khát vọng và niềm tin vào sự thành công là bạn đã đạt được 50% của thành công, 50% còn lại phụ thuộc vào những gì bạn tích góp được trên đường đời”. Đó là câu nói đầy bản lĩnh và tự tin của Đặng Lê Nguyên Vũ –Tổng Giám đốc Tập đoàn cà phê Trung Nguyên trong những ngày đầu phôi thai nên một trong những thương hiệu cà phê nổi tiếng không chỉ Việt Nam mà còn trên thế giới. Hãy xem những bí quyết thành công của Đặng Lê Nguyên Vũ khởi nghiệp từ chiếc xe đạp cọc cạch cộng niềm tin và ý chí mãnh liệt của tuổi trẻ với quyết tâm xây dựng một thương hiệu cà phê Việt lan tỏa khắp năm châu như thế nào.

(2) Trung Nguyên đã xây dựng một thương hiệu cao cấp trong thị trường đang phát triển. Vào những năm 90, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam mới chỉ 250 USD (số thống kê vào năm 2011 là 1.200 USD), nhưng Trung Nguyên đã chọn chiến lược phát triển thương hiệu cao cấp với mong muốn thu hút thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Để làm được điều này, trước tiên Trung Nguyên cần phải thuyết phục người tiêu dùng nội địa sử dụng sản phẩm cao cấp, cũng như thuyết phục thị trường quốc tế rằng Việt Nam có thể sản xuất những loại cà phê cao cấp và chất lượng không thua kém “các tay chơi lớn”. Đặng Lê Nguyên Vũ tin rằng, người Việt có thể sản xuất được những loại cà phê sành điệu, chất lượng cao và giá cả hợp lý. Thế là vào những năm 1990, nhãn hiệu Trung Nguyên ra đời với một nhà máy và một chuỗi quán cà phê. Đưa ngành cà phê Việt Nam vượt ra khỏi mặc cảm là cà phê chất lượng thấp, giá rẻ.

(3) Kế hoạch xây dựng thương hiệu cũng đã được chuẩn bị chu đáo. Cạnh tranh trực tiếp với các nhãn hiệu đa quốc gia như Nescafe, và định vị nhãn hiệu như một phần văn hóa truyền thống của Việt Nam. Ngày nay, có rất nhiều quán cà phê sành điệu tại thị trường Việt Nam, nhưng ai cũng nhớ hình ảnh người tiên phong này. Nếu bạn hỏi “Thương hiệu cà phê nào gắn liền với hai chữ “khác biệt”? Câu trả lời dễ dàng nhận được là “Trung Nguyên”. Trung Nguyên đã thành công khi đưa giá trị và văn hóa quốc gia vào sản phẩm, vào thương hiệu. Trung Nguyên đã thật sự thu hút tầng lớp trung lưu, và thay đổi thị trường cà phê Việt Nam.”

(Trích Bí quyết thành công của ông chủ Trung Nguyên – Diễn đàn Ý tưởng làm giàu – Báo Vietnet, 19/5/2014)

Câu 1: Hãy cho biết đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm) Câu 2: Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích trên. (0,5 điểm)

Câu 3: Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 4: Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 yếu tố làm nên sự thành công của cá nhân theo quan điểm riêng của mình. Trả lời trong khoảng 5- 7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

“ Mẹ ta không có yếm đào nón mê

thay nón quai thao đội đầu

rối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa Cái cò…

sung chát đào chua…

câu ca mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn

kiếp con người

cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”

(Thơ Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa tuyển chọn, NXB Giáodục, 1998)

Câu 5: Trong 4 câu thơ đầu, hình ảnh người mẹ được gợi lên qua những chi tiết nào? (0,25 điểm)

Câu 6: Nghĩa của chữ đi trong các dòng thơ: “ta đi trọn kiếp con người / cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” là gì? (0,5 điểm)

Câu 7: . Trong đoạn thơ trên, có những câu thơ tác giả sử dụng chất liệu ca dao. Anh/chị hãy chỉ ra những câu thơ sử dụng chất liệu ca dao và ghi lại câu ca dao tác giả đã sử dụng làm chất liệu cho câu thơ đó. (0,25 điểm)

Câu 8: Anh/chị hãy nhận xét quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: “ta đi trọn kiếp con người /cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận.
2 Câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích: “Nếu bạn có khát vọng và niềm tin vào sự thành công là bạn đã được 50% của thành công, 50% còn lại phụ thuộc vào những gì bạn tích cóp được trên đường đời”.
3 Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận chứng minh.
4 Nêu ít nhất 02 yếu tố làm nên sự thành công của cá nhân theo quan điểm riêng của bản thân, không lặp lại y nguyên ý của tác giả trong đoạn trích đã cho. (có thể là: ý chí, nghị lực, sự kiên định thực hiện mục tiêu, có tài năng, có năng lực, tự tin, bản lĩnh trước mọi thử thách, sáng tạo, năng động, nhạy bén, biết thích ứng,…).

Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

5 Trong 4 câu thơ đầu, hình ảnh người mẹ được gợi lên qua các chi tiết: yếm đào, nón mê, nón quai thao, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu, tay bí tay bầu
6 Nghĩa của chữ đi trong các dòng thơ: “ta đi trọn kiếp con người / cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” :

+ Chữ “đi” trong câu thơ thứ nhất có nghĩa là sống, là trải qua trọn kiếp người

+ Chữ “đi” câu thơ thứ hai nghĩa là thấu hiểu và cảm nhận.

7 Những câu thơ sử dụng chất liệu ca dao và ghi lại câu ca dao tác giả đã sử dụng làm chất liệu cho câu thơ đó:

1.“Cái cò … sung chát đào chua

Câu ca dao đã sử dụng làm chất liệu cho câu thơ này là:

            Cái cò đậu cọc cầu ao

                        Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua

2. “Câu ca mẹ hát gió đưa về trời”.

Câu ca dao đã sử dụng làm chất liệu cho câu thơ này là:

            Gió đưa cây cải về trời

                        Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

8 – Quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: “ta đi trọn kiếp con người /cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”: Tình mẹ thật bao la, sâu sắc. Trải qua trọn kiếp con người cũng không sao thấu hiểu hết tấm lòng của mẹ qua những lời ru (Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục).

– Từ đó, nhận xét về quan niệm của tác giả: (đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp,.. như thế nào? Có ý nghĩa đối với tâm hồn, nhân cách con người ra sao?).

 

NGUYỄN QUANG DIÊU LẦN 2

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Khi đã khai phóng được bản thân, con người sẽ tìm ra chính mình ở hai khía cạnh quan trọng nhất: con người văn hóa và con người chyên môn của mình.

Ở khía cạnh con người văn hóa, đó là việc tìm ra được đâu là lương tri và phẩm giá của mình, đâu là lẽ sống và giá trị sống của mình; đâu là những giá trị làm nên chính mình, là những thứ mà vì nó hay để bảo vệ nó, mình sẵn lòng hi sinh mọi thứ khác; đâu là “chân ga” (để giúp mình vượt qua bao đèo cao) và đâu là “chân thắng” (để giúp mình không rơi xuống vực sâu).

Ở khía cạnh con người chuyên môn (hay con người công việc, nghề nghiệp, sự nghiệp), đó là việc tìm ra mình thực sự thích cái gì, mình giỏi cái gì, hiểu được mình giỏi đến mức độ nào để đặt mình vào một công việc phù hợp nhất với “cái chất” con người mình. Khi làm công việc mà mình giỏi nhất, mê nhất và phù hợp với “cái chất” con người của mình nhất thì khi đó làm việc cũng là làm người, khi đó mình làm việc nhưng cũng là sống với con người của mình

(Đúng việc, một góc nhìn về câu chuyện khai minh – Giản Tư Trung, NXB Tri Thức – 2015)

Câu 1. Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

Câu 2. Hãy xác định câu chủ đề của đoạn văn bản. ( 0,5 điểm)

Câu 3. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 4. Từ quan niệm về “con người chuyên môn” trong đoạn trích trên, anh / chị hãy trình bày suy nghĩ trong định hướng lựa chọn nghề nghiệp của bản thân. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 đim)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8

Nắng Ba Đình mùa thu

Thắm vàng trên lăng Bác

Vẫn trong vắt bầu trời

Ngày tuyên ngôn Độc lập.

Ta đi trên quảng trường

Bâng khuâng như vẫn thấy

Nắng reo trên lễ đài

Có bàn tay Bác vẫy.

Ấm lòng ta biết mấy

Ánh mắt Bác nheo cười

Lồng lộng một vòm trời

Sau mái đầu của Bác…

(Nắng Ba Đình – Nguyễn Phan Hách)

Câu 5. Văn bản trên được trình bày theo các phương thức biểu đạt nào? (0,25 điểm)

Câu 6. Hãy chỉ ra biện pháp tu từ và cho biết hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ: (0,5 điểm)

Ta đi trên quảng trường

Bâng khuâng như vẫn thấy

Nắng reo trên lễ đài

Có bàn tay Bác vẫy.

Câu 7. Đoạn thơ trên gợi nhớ đến sự kiện lịch sử nào của nước ta? (0,25 điểm)

Câu 8. Trình bày cảm xúc của mình về sự kiện trọng đại được nhắc đến trong đoạn thơ trên bằng một đoạn văn khoảng 5 -7 dòng. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Trả lời đúng theo một trong các cách: phong cách ngôn ngữ chính luận/ chính luận.
2 Câu chủ đề : “Khi đã khai phóng được bản thân, con người sẽ tìm ra chính mình ở quan trọng nhất: con người văn hóa và con người chyên môn của mình”.
3 Trả lời đúng theo một trong các cách: Thao tác lập luận phân tích/ Thao tác phân tích/ Lập luận phân tích/ Phân tích.
4 HS thể hiện kĩ năng viết đoạn văn (diễn đạt kiểu diễn dịch hay quy nạp, hoặc tổng phân hợp…); trình bày ngắn gọn suy nghĩ của bản thân về: “con người chuyên môn” và định hướng nghề nghiệp của bản thân, có thể theo hướng

– Mình thực sự thích cái gì, mình giỏi cái gì, sở trường của bản thân là gì, hiểu được và tin là mình giỏi đến mức độ nào?…

– Mình có thể phát huy năng lực, giỏi giang ở lĩnh vực nào, nghề nghiệp nào?…

5 Trả lời đúng theo cách: phương thức miêu tả và phương thức biểu cảm / miêu tả, biểu cảm.
6 – Biện pháp tu từ : nhân hóa nắng reo

– Hiệu quả : thể hiện không khí vui tươi, phấn khởi và niềm hạnh phúc lớn lao của cả dân tộc trong ngày vui trọng đại.

7 Sự kiện lịch sử được gợi ra là: Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945.
8 Bày tỏ tình cảm chân thành, sâu sắc với ngày lễ tuyên bố nền độc lập, tự do của dân tộc : tự hào, sung sướng, xúc động, biết ơn…

 

HẢI PHÒNG LẦN 1

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4

Mùa xuân là cả một mùa xanh

Trời ở trên cao, lá ở cành.

Lúa ở đồng tôi và

lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng anh.

 

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,

Tôi đợi người yêu đến tự tình.

Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy

Bắt đầu là chiếc thắt lưng xanh 1937

Nguyễn Bính

Câu 1: Bài thơ trên thuộc khuynh hướng văn học nào? (0,25 điểm)

Câu 2: Hãy chỉ ra các sắc xanh được tác giả gợi tả trong bài thơ và cho biết các sắc xanh đó được tác giả gợi tả theo trình tự như thế nào? (0,5 điểm)

Câu 3: Nhận xét hình thức nghệ thuật ở hai dòng thơ? (0,25 điểm) Lúa ở đồng tôi và lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng quanh

Câu 4: Viết đoạn văn có độ dài từ từ 5 đến 7 câu trình bày cảm xúc của bản thân về vẻ đẹp ngập tran sắc xanh của bài thơ? (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến câu 8

Đánh giá đời sống của mỗi người cao hay thấp hãy nhìn vào thời gian nhàn rỗi của họ. Có người làm việc “đầu tắt mặt tối” không có lấy chút nhàn rỗi. Có người phung phí thời gian ấy vào các cuộc nhậu nhẹt triền miên. Có người biết dùng thời gian ấy để phát triển chính mình. Phải làm sao để mỗi người có thời gian nhàn rỗi và biết sử dụng hữu ích thời gian ấy là một vấn đề lớn của xã hội có văn hóa.

Đánh giá đời sống một xã hội cũng phải xem xã hội ấy đã tạo điều kiện cho con người sống với thời gian nhàn rỗi như thế nào. Công viên, bảo tàng, thư viện, nhà hát, nhà hàng, câu lạc bộ, sân vận động, điểm vui chơi,…là những cái không thể thiếu. Xã hội càng phát triển thì các phương tiện ấy càng nhiều, càng đa dạng và càng hiện đại. Xã hội ta đang chăm lo các phương tiện ấy, nhưng vẫn còn chậm, còn sơ sài, chưa có sự quan tâm đúng mức, nhất là ở các vùng nông thôn.

Thời gian nhàn rỗi chính là thời gian của văn hóa và phát triển. Mọi người và toàn xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi người.

(Phỏng theo Hữu Thọ, dẫn theo SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.94)

Câu 5: Đoạn trích trên chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 6: Tác giả đánh giá ý nghĩa thời gian nhàn rỗi như thế nào? (0,5 điểm)

Câu 7: Đặt nhan đề cho đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 8: Nêu 02 biện pháp sử dụng hiệu quả thời gian nhàn rỗi của bản thân? (0,5 diểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Bài thơ thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn.
2 – Bài thơ gợi lên bạt ngàn sắc xanh từ mọi tầng không gian: trời xanh, lá xanh, lúa xanh, cỏ xanh, tre xanh, thắt lưng xanh,… Các sắc xanh này giao hòa, lan tỏa.

– Các sắc xanh được gợi tả theo trình tự: khái quát -> cụ thể, cao -> thấp, gần -> xa.

3 – Hai câu thơ “Lúa ở đồng tôi và lúa ở/ đồng nàng và lúa ở đồng quanh” sử dụng cách ngắt câu thành hai dòng có tác dụng làm cho nhịp thơ liền mạch, câu thơ có sự độc đáo và nhấn mạnh sắc xanh của không gian đồng tôi, đồng nàng, đồng quanh.
4 – Sắc xanh trong bài thơ Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính thể hiện vẻ đẹp căng tràn, tươi mới của mùa xuân và mối giao hòa giữa thiên nhiên và con người.

– Vẻ đẹp ấy tạo cho con người sự hứng khởi,vui tươi và rộn rã. Đồng thời, sự ngập tràn sắc xuân trong bài thơ cho thấy một hồn thơ trẻ đầy lãng mạn, yêu đời.

5 – Thao tác lập luận được sử dụng chủ yếu trong đoạn trích: thao tác lập luận phân tích
6 – Tác giả đánh giá ý nghĩa thời gian nhàn rỗi: Thời gian nhàn rỗi chính là thời gian của văn hóa và phát triển. Mọi người và toàn xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi người.
7 – Nhan đề của đoạn trích: Thời gian nhàn rỗi
8 – Hai biện pháp sử dụng hiệu quả thời gian nhàn rỗi của bản thân:

+ Dùng thời gian để đoc sách.

+ Dùng thời gian nhàn rỗi để giúp bố mẹ làm công việc nhà.

+……

 

ĐỀ BA CHẼ – QUẢNG NINH

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiều cơ sự, vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, ngươi ta dựng vợ gả chồng cho con lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không

( Trích Vợ Nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008)

Câu 1: Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào là chính? (0,25 điểm)

Câu 2: Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì? (0,25 điểm)

Câu 3: Xác định thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quả nghệ thuật của các thành ngữ đó? (0,5 điểm)

Câu 4: Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu tử? (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

 

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

 

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy

Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn

Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối

Tiếng heo may gợi nhớ những con đường

(Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ)

Câu 5: Văn bản trên thuộc thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 6: Văn bản thể hiện thái đọ và tình cảm gì của tác giả đối với Tiếng Việt? (0,25 điểm)

Câu 7 : Chỉ ra và phân tích biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu trong văn bản? (0,5 điểm)

Câu 8: Từ văn bản trên, viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt của giới trẻ ngày nay? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Phương thức biểu đạt chính sử dụng trong đoạn văn: Phương thức biểu đạt Tự sự.
2 – Nội dung chủ yếu của văn bản: Tâm trạng của bà cụ Tứ khi nghe tin Tràng có vợ.
3 – Những thành ngữ dân gian được sử dụng trong văn bản:

+ Dựng vợ gả chồng

+ Sinh con đẻ cái

+ Ăn nên làm nổi.

– Các thành ngữ dân gian quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được sử dụng một cách sáng tạo, qua đó dòng tâm tư của người kể hòa vào với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ. Suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể hiện rất tự nhiên; nỗi lòng, tâm trạng của người mẹ thương con được diễn tả thật chân thực.

4 Đoạn văn cần nêu được các ý:

Tình mẫu tử hiểu đơn giản là tình yêu thương của mẹ dành cho con. Đó là tình cảm thiêng liêng, là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng con khôn lớn nên người, chở che cho con giữa sóng gió cuộc đời.

– Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết trân trọng thứ tình cảm thiêng liêng đó. Những ai đang còn mẹ thì hãy biết quý trọng và yêu thương mẹ.

5 – Văn bản trên được làm theo thể thơ tám chữ.
6 – Qua đoạn thơ trên, nhà thơ đã gửi gắm tình yêu và niềm tự hào của mình về tiếng nói của dân tộc.
7 -Biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ là biện pháp so sánh. Tác dụng làm nổi bật những vẻ đẹp của tiếng Việt: vừa bình dị, gần gũi, nên thơ, vừa tinh tế, kì diệu; đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu, ý thức trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp văn hóa quý báu của dân tộc.
8 Cần đảm bảo về nội dung:

– Hiện trạng sử dụng tiếng Việt của giới trẻ hiện nay:

+ Một bộ phận học sinh còn chưa có ý thức, sử dụng những từ ngữ không phù hợp với thuần phong mĩ tục.

+ Bên cạnh đó sử dụng những từ ngữ lạ, không chuẩn mực, do giới trẻ tư cải biến thành.

– Từ đó, mỗi bạn trẻ cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt trong nói năng, trong hoạt động viết, phê phán các hành vi cố tình sử dụng sai tiếng Việt.

ĐỀ BẮC GIANG LẦN 2

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc bài thơ sau và trả lời những câu hỏi từ 1 đến 4:

Rễ sâu ai biết là hoa

Xoắn đau núm ruột làm ra nụ cười.

Im trong lòng đất rối bời

Chắt chiu từng giọt, từng lời lặng im.

Uống từng giọt nước đời quên

Ăn từng thớ đá dựng nên sắc hồng

Nở rồi, trông dễ như không

Một vùng sáng đọng, một vùng hương bay.

Tụ, tan màu sắc một ngày

Mặt trời hôm, mặt trời mai ngoảnh cười

Bắt đầu từ rễ em ơi!

(Chế Lan Viên, Rễ … hoa)

Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0.25 điểm).

Câu 2. Để tạo nên hoa, hình tượng rễ trong bài thơ đã phải trải qua những gì? (0.5 điểm).

Câu 3. Qua sự nhọc nhằn của rễ, bài thơ gợi nhớ tình cảm đạo lí gì? (0.25 điểm)

Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về lời khuyên nhủ “Bắt đầu từ rễ em ơi!”? (Trả lời bằng một đoạn văn từ 5 – 10 câu) (0.5 điểm).

Đọc đoạn trích sau và trả lời những câu hỏi từ 5 đến 8:

Trong xã hội ta, từ ngàn năm nay, tồn tại một tình trạng nước đôi dang dở. Chữ Hán vẫn là công cụ giao tiếp giữa nhà nước và người dân (. .. ) Còn chữ Nôm chỉ để ghi cái đời sống tình cảm hàng ngày, hoặc kêu than, hoặc đùa bỡn…Nó khó học do đó không phổ biến. Tình trạng chữ viết Việt Nam như trên níu kéo văn hóa đọc với hai nghĩa:

Thứ nhất, ở dạng trực tiếp, nó làm cho sách khó viết, viết xong khó xuất bản, xuất bản xong khó đến với người đọc;

Thứ hai, ở dạng gián tiếp, nó ảnh hưởng tới tư duy con người. Với một thứ chữ thuận tiện, người ta có thể ghi chép, hoàn thiện dần những suy nghĩ của mình và giao lưu với nhau làm cho tri thức ngày càng phong phú. Ngược lại, như ở ta, do thiếu phương tiện (chữ và sách) hợp lý để ghi lại những vận động trong đầu óc, sự suy nghĩ của người ta dễ dừng lại ở tình trạng manh mún rời rạc. Gần đây nhiều người đã công nhận là dân ta làm việc gì thường theo lối chụp giật, mà thiếu thói quen nghiên cứu sự vật; sự nghĩ ngợi hay chắp vá nửa vời, đầu óc người ta không chăm chú theo đuổi cái gì tới cùng (…)

Tất cả những bệnh trạng đó trong tư duy bắt nguồn một phần từ một văn hóa đọc lom đom, một đời sống tinh thần thiếu sách. Đến lượt mình, kiểu tư duy này lại quay trở lại, cản trở người Việt đọc sách.

Ca dao tục ngữ truyện cười ở ta thường có thái độ chế giễu với người đọc sách. Dưới những con mắt thế tục, việc đọc sách có vẻ như là một cái gì vô bổ của loại người “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” (…). Cố nhiên trong thực tế, lại có một tình trạng tế nhị khác, là các làng xã thường đánh giá nhau bằng số lượng kẻ cắm đầu vào sách. Có gì mâu thuẫn ở đây chăng? Không. Học trò xưa ham học để có ngàylều chõng đi thi và trở thành quan chức (từ đây khái quát lên, người ta vẫn tự hào người Việt ham học). Nhưng không thể bảo họ, – đám người “nghiền” sách cốt đi thi kia – là những người đọc sách với đúng nghĩa của nó. Người học để đi thi tự giới hạn trong kiến thức của người chấm cho họ đỗ. Ngược lại đặc trưng chủ yếu của người đọc sách là một tư duy độc lập và một khao khát bất tận với sự hiểu biết. Loại sau ở xã hội ta quá hiếm, lại còm cõi ít ỏi và chưa thành một lớp người ổn định.

Giải thích sao về hiện tượng này? Suy cho cùng ở xã hội nghèo, mọi việc vẫn do miếng cơm manh áo quyết định. Khi có thể dùng sách để lập thân thì người ta đọc sách. Khi có nhiều con đường khác lập thân mà ít tốn sức lực hơn – kể cả lối giả vờ đọc sách, gian lận thi cử – thì người ta bỏ sách khá dễ dàng. Và đó chính là tình trạng của xã hội hôm nay.

(Vương Trí Nhàn, Vì sao người Việt không mê đọc sách?, chungta.com)

Câu 5. Đoạn trích trên bàn về vấn đề gì? (0.25 điểm).

Câu 6. Tình trạng “nước đôi” của chữ viết nước ta thời trung đại dẫn đến những hệ quả nào? (0.5 điểm).

Câu 7. Theo tác giả, đặc trưng chủ yếu của người đọc sách là gì? Thực trạng của lớp người này trong xã hội ta ra sao? (0.5 điểm).

Câu 8. Theo anh/chị, làm thế nào để việc đọc sách trở thành một thói quen phổ biến? (trình bày bằng một đoạn văn khoảng 5 – 10 câu) (0.25 điểm).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Bài thơ thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn.
2 Để làm ra hoa, rễ đã phải: xoắn đau núm ruột, chắt chiu từng giọt, uống từng giọt nước đời quên, ăn từng thớ đá.
3 Bài thơ gợi nhớ tình cảm đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. (Thí sinh có thể diễn đạt theo những cách khác như: ơn nghĩa, biết ơn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây,…).
4 Bày tỏ được suy nghĩ; diễn đạt rõ ràng, thuyết phục về ý nghĩa lời khuyên trong câu cuối bài thơ.

Gợi ý: “Bắt đầu từ rễ em ơi!”? nhắc nhớ con người về nguồn cội, nhắn gửi thông điệp về lối sống nghĩa tình, chung thủy, biết ơn nguồn cội.

5 Đoạn trích bàn về văn hóa đọc (Thí sinh có thể diễn đạt cách khác như: việc đọc sách, tình trạng không ham đọc sách của người Việt,…).
6 Tình trạng nước đôi của chữ viết đã níu kéo văn hóa đọc, cản trở người Việt đọc sách.
7 – “Đặc trưng chủ yếu của người đọc sách là một tư duy độc lập và một khao khát bất tận với sự hiểu biết”.

Lớp người này ở ta “quá hiếm, lại còm cõi ít ỏi và chưa thành một lớp người ổn định”.

8 Gợi ý giải pháp biến việc đọc sách thành thói quen phổ biến: xây dựng các thư viện ở khu dân cư, phát huy tối đa vai trò của thư viện trường học, tổ chức các hội thi tìm hiểu, giới thiệu sách,…

 

ĐỀ BÌNH THẠCH TÂY NINH LẦN 1

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

“… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Câu 1. Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)

Câu 3. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích. (0,25 điểm)

Câu 4. Từ đoạn trích trên anh chị hãy nêu khái quát chủ đề của đoạn trích

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Tôi đứng lặng giữa cuộc đời nghiêng ngả

Để một lần nhớ lại mái trường xưa

Lời dạy ngày xưa có tiếng thoi đưa

Có bóng nắng in dòng sông xanh thắm.

 

Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng

Trưởng thành này có bóng dáng hôm qua

Nhớ được điều gì được dạy những ngày xa

Áp dụng – chắc nhờ cội nguồn đã có.

Nước mắt thành công hoà nỗi đau đen đỏ

Bậc thềm nào dìu dắt những bước đi

Bài học đời đã học được những gì

Có nhắc bóng người đương thời năm cũ

 

Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ

Để cây đời có tán lá xum xuê

Bóng mát dừng chân là một chốn quê

Nơi ơn tạ là mái trường nuôi lớn

Xin phút tĩnh tâm giữa muôn điều hời hợt

Cảm tạ mái trường ơn nghĩa thầy cô.

(Lời cảm tạ – sưu tầm)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

Câu 6. Nêu rõ phép tu từ được sử dụng trong câu thơ Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng (0,25 điểm).

Câu 7. Nêu nội dung chính của bài thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 8. Anh chị hiểu hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán lá xum xuê” như thế nào? Từ ý thơ này, hãy viết một đoạn văn ngắn nêu vai trò của mái trường và thầy cô đối với cuộc đời của mỗi người. Trả lời trong 5-10 dòng. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn trích viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận.
2 Thao tác lập luận chủ yếu là phân tích.
3 Câu khái quát chủ đề: “… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị.”
4 Chủ đề đoạn trích: Khẳng định vai trò, giá trị của tiếng mẹ đẻ.
5 Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
6 Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.
7 Nội dung chính: Nỗi nhớ trường xưa và lời cảm tạ chân thành, sâu sắc của nhân vật “tôi” với những người đã dạy dỗ, dìu dắt “tôi” nên người.
8 Hai câu thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/Để cây đời có tán lá xum xuê” viết về những người thầy đáng kính, đã dày công dạy dỗ, chỉ bảo, vun đắp cho ước mơ học trò để các em khôn lớn, trưởng thành và có được thành công, hạnh phúc trong cuộc sống.

* Viết đoạn văn 5-10 dòng, phải nêu được những ý chính sau:

– Mái trường là “ngôi nhà thứ hai”, thầy cô là những người cha, người mẹ hiền thứ hai của mỗi người học trò. Thầy cô là người cho em hành trang kiến thức và dạy dỗ em những điều hay lẽ phải để em tự tin, vững vàng trên đường đời về sau.

– Cần trân trọng, biết ơn công lao cô thầy và cố gắng trở thành người có ích, để không phụ công , phụ lòng thầy cô.

 

ĐỀ THPT BÌNH THUẬN

Phần 1: 3 điểm

Đọc hai đoạn trích (văn, thơ) sau và trả lời câu hỏi:

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Digan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.”

(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường)

  1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích ? (0,25 điểm) Biện pháp tu từ nào được cảm nhận qua hình ảnh dòng sông ? (0,25 điểm) Tác dụng của biện pháp tu từ đó ? (0,25 điểm)
  2. Chỉ ra yếu tố tình thái trong câu: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất” (0,25 điểm), nêu ý nghĩa về cách biểu đạt tình thái đó ? (0,25 điểm)
  3. Anh – chị hãy phân tích giá trị về ý nghĩa “cấu trúc rừng già” khi tác giả viết: “Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ…” ? (0,5 điểm)

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

(Trích Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

  1. Tóm tắt nội dung đoạn thơ trên. (0,25 điểm)
  2. Chỉ ra những biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên ? (0,25điểm) Tác dụng của các biện pháp tu từ đó ? (0,25điểm)
  3. Viết một đoạn văn ngắn (không quá 10 dòng) nêu cảm nhận về nội dung 4 câu thơ cuối của đoạn trích ? (0,5điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Phương thức biểu đạt chính: Miêu tả.

– Biện pháp tu từ: Ẩn dụ/ Nhân hóa

-> có tác dụng nhấn mạnh dòng sông trở thành một sinh thể có hồn, đầy cá tính, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc về vẻ đẹp dòng sông.

2 Yếu tố tình thái: “hình như” – phỏng đoán, chưa chắc chắn -> có tác dụng thể hiện sự cẩn trọng trong đánh giá, vừa bao quát, vừa bày tỏ niềm tự hào ngưỡng mộ về sự đặc biệt của con sông mà không nơi nào có như dòng sông quê hương của mình.
3 Ở đây tác giả muốn nói đến sự kết cấu tự nhiên bền vững của môi trường sinh thái trong thiên nhiên. (0,25 điểm) Nêu ra sự kiện về “cấu trúc đặc biệt” của “rừng già” như vậy ở thượng nguồn là nói lên vai trò, tác dụng cấu trúc tự nhiên của thiên nhiên, điều đó tạo nên sự thẩm thấu và sức cản, để “chế ngự sức mạnh bản năng” của dòng nước (người con gái) ở thượng nguồn; chính nhờ thế mà khi ra khỏi rừng, dòng nước sông Hương trở nên hiền hòa (nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ…).
4 Tóm tắt nội dung đoạn thơ trên: Nhận thức đày tự hào về chủ quyền đát nước trên phương diện không gian địa lý và lãnh thổ và truyền thống bất khuất theo thời gian lịch sử của dân tộc ta từ xưa đến nay.
5 Biện pháp tu từ được sử dụng: Điệp từ, điệp ngữ kết hợp với phép liệt kê. Điệp từ , điệp ngữ “ đây”, “ là của chúng ta”, “những”.. kết hợp phép liệt kê “ trời xanh”, “núi rừng” , “ dòng sông”… nhằm khẳng định ý thức về chủ quyền lãnh thổ, niềm tự hào về sự trù phú, giàu đẹp của quê hương.
6 Viết đoạn văn ngắn cảm nhận nội dung 4 câu thơ trên:

– Khẳng định lại ý thức chủ quyền với truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc là những con người kiên cường bất khuất, chưa bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù.

– Âm thanh “ rì rầm của những ngày xưa vọng nói về” gợi lên một không khí thiêng liêng có phần huyền thoại, như vong linh hồn, vía dân tộc đang tụ hội trong lòng đất, lẩn khuất đâu đây, đó cũng chính là sức sống mãnh liệt trong tâm hồn dân tộc, đó cũng chính là sức sống mãnh liệt trong tâm hồn, trong tình cảm, trong khí phách, truyền thống đã được hun đúc sẵn, có từ nghìn đời ở tinh thần người Việt Nam trong kháng chiến chống ngoại xâm.

 

ĐỀ THPT CẨM KHÊ

I/ PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Bà Hoa nhìn theo ngón tay chỉ, thấy nấm mộ trước mặt, cỏ chưa xanh khắp. còn loang lồ từng mẩu đất vàng khè, rất khó coi; lại nhìn kĩ phía trên, bấc giác giật mình. Rõ ràng có một vòng hoa, hoa trắng hoa hồng xen lẫn nhau, nằm khoanh trên nấm mộ khum khum.

Cả hai bà, mắt lòa từ lâu rồi, nhưng nhìn những cánh hoa trắng hoa hồng kia thì còn thấy rõ. Hoa không nhiều lắm, xếp thành vòng tròn tròn, không lấy gì làm đẹp, nhưng cũng chỉnh tề. Bà Hoa vội nhìn về phía mộ con mình và những nấm mộ khác xung quanh, chỉ thấy lác đác vài nụ hoa bé tí, trăng trắng xanh xanh. Bà ta bỗng thấy lòng trống trải, không thỏa, nhưng rồi cũng không muốn suy nghĩ thêm. Bà kia bước lại gần mộ con, nhìn kỹ một lúc, rồi nói một mình: “Hoa không có gốc, không phải mọc dưới đất lên! Ai đã đến đây? Trẻ con không thể đến chơi. Bà con họ hàng nhất định là không ai đến rồi!… Thế này là thế nào?”

(Thuốc – Lỗ Tấn, SGK Ngữ văn 12, Tâp 2)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 2: Cho biết phương thức biểu đạt chủ đạo được sử dụng trong văn bản.

Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du (Viết khoảng 4 đến 6 câu)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy cho tình xa xôi…

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

(Tương tư – Nguyễn Bính, SGK Ngữ văn 11, Tập 2)

Câu 4: Xác định thể thơ được sử dụng trong văn bản. Cho biết đó là thể thơ truyền thống hay hiện đại.

Câu 5: Giải nghĩa từ “Tương tư” trong đoạn thơ.

Câu 6: Xác định và phân tích biện pháp tu từ trong câu “Bao giờ bến mới gặp đò”

Trả lời: Phong cách ngôn ngữ của đoạn trích:

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

phương thức biểu đạt chính trong văn bản: Tự Sự. nghĩa hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du:

Nhân dân đã hiểu, nhớ đến, tiếc thương và ngưỡng mộ tấm gương người cách mạng tiên phong đã hi sinh vì đại nghĩa.

Thể hiện niềm tin: nhân dân rồi sẽ được thức tỉnh, cách mạng rồi có xu thế phát triển, có tiền đề. Cách mạng và quần chúng đang xích lại gần nhau. Sự trân trọng, kính cẩn của Lỗ Tấn dành cho người anh hùng cách mạng Hạ Du. Đoạn trích sử dụng thể thơ lục bát.

Đây là thể thơ truyền thống của dân tộc.

tương tư: tâm trạng thổn thức, nhung nhớ, chờ mong của chàng trai. Chàng trai hờn dỗi, trách móc vì thổn thức, chờ mong cô gái sang chơi mà không thấy, không biết thổ lộ, giải tỏa cùng với ai.

– Câu thơ: Bao giờ bến mới gặp đò sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ [bến – người con trai, đò – người con gái] và câu hỏi tu từ.

=> Niềm mong nhớ, khao khát gặp gỡ của chàng trai trong tình yêu lứa đôi.

 

ĐỀ CHÍ NINH HẢI DƯƠNG

  1. PHẦN I. Đọc – hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số nhấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới. Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nao muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông… – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một côt nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xiay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.

Câu 1: Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?

Câu 2: Cho biết thể loại của tác phẩm? tác giả là người có đóng góp như thế nào cho thể loại này?

Câu 3: Nhà văn đã sử dụng kiến thức của những ngành nghề nào trong đoạn văn? Những nét nổi bật về phong cách nhà văn của tác giả được thể hiện trong đoạn trích?

Câu 4: Chỉ ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu văn: “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”. Nhận xét về cách sử dụng biện pháp nghệ thuật của nhà văn?

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

 

Con nhớ anh con, người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

 

Con nhớ em con, thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

 

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”.

(“Tiếng hát con tàu” – Chế Lan Viên)

Câu 5: Ở khổ thơ thứ nhất, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào, tác dụng của thủ pháp đó? Cách sử dụng thủ pháp nghệ thuật này của tác giả có gì đặc biệt?

Câu 6: Nêu nội dung chính của đoạn thơ?

Câu 7: Qua đoạn thơ, em có suy nghĩ gì về hình ảnh những con người đã được tác giả khắc họa? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

Câu 8: Từ hình ảnh những con người được khắc họa trong đoạn thơ này, em có liên tưởng đến văn bản nào đã được học trong chương trình THPT?

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn trích từ tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân.
2 Tác phẩm viết theo thể tùy bút. Nhà văn Nguyễn Tuân là người góp phần đưa thể tùy bút phát triển mạnh ở Việt Nam thế kỉ XX. Ông được mệnh danh là ông vua của thể tùy bút.
3 Nhà văn đã sử dụng kiến thức của ngành điện ảnh.Nét nổi bật trong phong cách của nhà văn thể hiện trong đoạn trích: am hiểu kiến thức nhiều lĩnh vực, kho từ vựng hết sức phong phú, giàu sự sáng tạo.
4 Câu văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh để nhấn mạnh sự hung tợn, tàn độc của cái hút nước.
5 Khổ 1, tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh, liệt kê. Điều đặc biệt ở đây là so sánh giữa cái trừu tượng, vô hình [niềm vui sướng, hạnh phúc] với loạt hình ảnh cụ thể, rất sinh động, nhằm bộc lộ niềm sung sướng, hạnh phúc vỡ òa của nhà thơ khi được trở lại mảnh đất Tây Bắc xưa.
6 Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ, niềm vui sướng, hạnh phúc của nhà thơ khi được trở về với mảnh đất cách mạng, mảnh đất anh hùng. Đồng thời, qua đó, khắc họa chân dung những con người anh hùng.
7 Những con người được khắc họa trong đoạn thơ là người anh du kích, em bé liên lạc, bà mẹ nuôi quân. Đó đều là những tấm gương anh hùng, dũng cảm tuyệt vời. Họ tuy ở độ tuổi khác nhau nhưng tất cả đều hết mình hi sinh, cống hiến cho cách mạng.
8 Có thể liên tưởng đến văn bản: Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi.

 

ĐỀ ĐA PHÚC HÀ NỘI LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Trong những ngôi biệt thự của các gia đình quyền quý, tỉ phú đều có một phòng thư viện gia đình rộng lớn với bao sách quý. Theo bạn, họ giàu, do vậy họ có thể mua được tất cả những gì mình thích, hay họ có những gì của ngày hôm nay là do say mê đọc sách từ rất sớm ?

Một nhà thông thái nào đó đã từng nói “Mỗi con người là tổng thể của những cuốn sách họ đã đọc”. Tại sao việc đọc sách lại quan trọng đến vậy?

Trước hết, từ ngữ là tổng thể của các ý nghĩ. Mỗi một từ mới học được tương đương với một sáng kiến. Ai cũng biết, đã là sáng kiến thì vô giá. Với lí do như vậy, nhiều người cho rằng số tiền kiếm được của bạn sẽ tương đương với số từ vựng bạn sở hữu. Đọc sách giúp ta luyện óc tưởng tượng. Nhân loại sẽ không ở vị trí ngày hôm nay nếu không có óc tưởng tượng phong phú ! (…)

Lí do thứ hai khiến ta nên đọc sách là độc giả có thể trau dồi kiến thức trong vòng vài giờ đồng hồ, trong khi đó để viết ra một cuốn sách, tác giả đã không ngừng học hỏi, nghiên cứu cùng bao người khác, chắt lọc những gì giá trị nhất trong một thời gian dài. Chúng ta không cần phải vầp ngã trên đường đời để từ đó rút ra những bài học cao quý. Kiến thức về mọi chủ đề đều đã được ghi lại rất cẩn thận ở đâu đó. Công việc duy nhất của độc giả là miệt mài tìm kiếm. Hãy tin rằng, một cuốn sách, nếu đến với bạn đúng lúc, có thể thay đổi cả cuộc đời bạn…

(Theo hoathuytinh.com)

Câu 1. Tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào trong văn bản trên?

Câu 2. Hãy đặt nhan đề cho văn bản.

Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng “Chúng ta không cần phải vấp ngã trên đường đời để từ đó rút ra những bài học cao quý” ?

Câu 4. Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 tác dụng khác của việc đọc sách (không trùng lặp với quan điểm của tác giả). Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

…Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu

Bài hát đầu xin hát về trường cũ

Một lớp học bâng khuâng màu xanh rủ

Sân trường đêm – Rụng xuống trái bàng đêm.

 

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em

Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ

Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế

Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi?

 

“-Có một nàng Bạch Tuyết các bạn ơi

Với lại bảy chú lùn rất quấy”

“- Mười chú chứ, nhìn xem trong lớp ấy”

(Ôi những trận cười trong sáng đó lao xao).

(Trích Chiếc lá đầu tiên – Hoàng Nhuận Cầm, Theo Tình bạn tình yêu thơ, NXB Giáo dục, 1987)

Câu 5. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 6. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.

Câu 7. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng thơ sau:

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em

Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ

Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế

Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi?

Câu 8. Đoạn thơ đã gợi cho em những cảm xúc gì khi sắp rời xa mái trường THPT (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Thao tác lập luận phân tích/thao tác phân tích/lập luận phân tích/phân tích.
2 Đặt nhan đề: Đọc sách/ Vai trò của đọc sách/ Tầm quan trọng của đọc sách…
3 Tác giả cho rằng “Chúng ta không cần phải vấp ngã trên đường đời để từ đó rút ra những bài học cao quý” bởi vì đọc sách sẽ giúp chúng ta có những kiến thức, kinh nghiệm, những bài học quý giá… trong đời sống
4 Nêu ít nhất 02 tác dụng của việc đọc sách theo quan điểm riêng của bản thân, không nhắc lại những tác dụng mà tác giả đã nêu trong đoạn trích. (Có thể là: đọc sách giúp tâm hồn ta trở nên phong phú, tăng cường khả năng giao tiếp, rèn luyện năng lực tưởng tượng, liên tưởng, sáng tạo…).
5 Thể thơ tự do.
6 Phương thức biểu cảm.
7 Hai biện pháp tu từ:

– Điệp từ (Rất nhớ… nhớ)

– Câu hỏi tu từ (Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi?)

Tác dụng:

– Nhấn mạnh nỗi nhớ thương tràn ngập, tha thiết.

– Thể hiện những cảm xúc đẹp của tuổi học trò.

8 Ghi lại cảm xúc chân thành, suy nghĩ trong sáng, lời lẽ thuyết phục: tình cảm yêu mến, nhớ thương, tiếc nuối những năm tháng đẹp đẽ nhất trong cuộc đời; bày tỏ niềm biết ơn với thầy cô, mái trường;…

 

ĐỀ ĐA PHÚC HÀ NỘI LẦN 2

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Liên quan đến vụ tổ chức khủng bố IS đánh bom và xả súng đẫm máu ở Paris hôm 13-11-2015 vừa qua, khiến 129 người thiệt mạng và cả thế giới bàng hoàng, tại buổi tưởng niệm các nạn nhân, một video của hãng truyền thông Le Petit Journal đã ghi lại cuộc đối thoại xúc động giữa một ông bố người Pháp gốc Việt và cậu con trai nhỏ về những kẻ khủng bố và thảm kịch vừa xảy ra. Chỉ sau thời gian ngắn, video này đã lan truyền chóng mặt trên các trang mạng xã hội và ngay lập tức nhận được hơn 11 triệu lượt chia sẻ trên Facebook.

Khi được hỏi về chuyện xảy ra ở Paris, cậu bé hồn nhiên cho biết, đó là do những người độc ác gây ra. Cậu bé còn nói cần phải chuyển nhà vì người độc ác có súng, có thể bắn chết người. Người bố ở bên cạnh dịu dàng trấn an con trai đừng nên lo lắng, sau đó còn dạy cậu bé: “Họ có súng còn chúng ta có hoa. Những bông hoa có thể chiến đấu chống lại những họng súng”.

(Theo danviet.vn)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản? (0.25 điểm)

Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì? (0.25 điểm)

Câu 3. Theo anh/chị, hình ảnh súng hoa ở đây mang ý nghĩa gì? (0.5 điểm)

Câu 4. Viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 dòng) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lời nói dịu dàng trấn an con trai của người bố: Họ có súng còn chúng ta có hoa. Những bông hoa có thể chiến đấu chống lại những họng súng. (0.5 điểm)

 Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 5 đến Câu 8:

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao.

(Trích Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Câu 5. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0.25 điểm)

Câu 6. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0.25 điểm)

Câu 7. Xác định và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”. (0.5 điểm)

Câu 8. Từ đoạn thơ trên, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 5 đến 7 dòng) nêu cảm nhận về sự hi sinh thầm lặng của người mẹ trong cuộc sống ngày nay. (0.5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Phương thức biểu đạt chính là tự sự.
3 – Hình ảnh súng là biểu tượng của tội ác, chiến tranh, xung đột, lòng hận thù … (0.25 điểm)

– Hình ảnh hoa là biểu tượng của tình yêu, hòa bình, lòng yêu thương giữa con người với con người … (0.25 điểm)

4 – Người bố nhắn nhủ người con không nên lùi bước, sợ hãi trước cái xấu, cái ác (0.25 điểm)

– Hãy sống yêu thương, đoàn kết lại để đẩy lùi bóng tối của tội ác, lòng hận thù … (0.25 điểm)

5 Đoạn thơ được viết theo thể thơ sáu tiếng.
6 Nội dung chính của đoạn thơ: Bộc lộ niềm xót xa và lòng biết ơn của người con trước những hi sinh thầm lặng của mẹ.
7 – Biện pháp tu từ trong câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”: Nhân hóa.

– Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ: Nhân hóa “thời gian” qua từ “chạy”, cho thấy thời gian trôi nhanh làm cho mẹ già nua và người con xót xa thương mẹ.

8 Gợi ý:

– Biểu hiện về sự hi sinh của mẹ: chấp nhận và vượt qua muôn ngàn gian khó để mang đến cho con những điều tốt đẹp nhất.

– Vì vậy mỗi người con phải kính trọng, biết ơn mẹ, hiếu thảo với cha mẹ.

 

ĐỀ ĐẶNG THÚC HỨA NGHỆ AN

I/ PHẦN ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm):

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Thương biển lắm cha ơi

Đứng dậy đi cha!

Cha ngồi đó đã nhiều ngày.

Mắt ráo hoảnh nhìn ra phía biển

Chiếc điếu cày mấy ngày cha không động đến

Con thấy đau nhói tận tim mình

Tấm lưới trên tay cha đặt xuống, nâng lên

Con biết cha đứt từng khúc ruột.

“Biển chết rồi con ơi”! Cha khóc.

Lần đầu tiên nước mắt người đàn ông đi biển như cha vỡ ra như

tia máu chảy quanh hốc má gầy gò.

Dân Miền Trung quê tôi

Mấy tuần nay không còn tiếng reo hò

Câu chuyện ra khơi không còn trong bữa ăn làng biển

Mẹ bỏ chợ, thuyền úp mình trên bến

Người ngư dân rồi sẽ ra sao

Làng biển quê tôi vốn dĩ đã quá nghèo

Cuộc sống mưu sinh từ con tôm con cá

Thuyền lưới ra khơi một đời cha chằm vá

Nuôi con nuôi cháu trưởng thành.

Có biển nơi mô như biển quê mình

Cá dưới lòng sâu cá trên mặt nước

Bao nhiêu cá chết vì nhiễm độc

Biển gào lên thủy táng những linh hồn

Làng biển quê tôi chìm ngập nỗi buồn

Cá chết hồn oan mắt chưa kịp nhắm.

Đứng dậy đi cha

Con thương cha nhiều lắm

Con biết người thương nhớ biển cha ơi!

Hoa Trần 26/4/2016

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định các từ ngữ thể hiện tâm trạng trong bài thơ?

Câu 3. Chỉ ra các phương thức biểu đạt chính trong bài thơ?

Câu 4. Điều gì trong bài thơ tạo nên sự bất ngờ và gây được ấn tượng mạnh đối với người đọc. Theo anh / chị thái độ của nhân vật trữ tình trong bài thơ được thể hiện như thế nào? (Trình bày trong khoảng 5 dòng).

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

(Hồ Chí Minh)

Câu 5. Anh/ chị hãy đặt tên cho đoạn trích.

Câu 6. Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.

Câu 7. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào trong câu “Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”? Với hai cụm động từ lướt qua… và nhấn chìm…, tác giả đã khẳng định điều gì? Sự khẳng định đó đã được chứng minh như thế nào trong lịch sử giữ nước oanh liệt của dân tộc?

Câu 8. Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về lòng yêu nước của con người Việt Nam thời hiện đại? (trình bày trong khoảng 5- 7 dòng).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
2 Các từ ngữ thể hiện tâm trạng trong bài thơ: đau nhói, nỗi buồn, thương cha nhiều lắm, thương nhớ biển, thương biển lắm ….
3 Các phương thức biểu đạt chính trong bài thơ: Biểu cảm, Tự sự
4 Điều tạo nên sự bất ngờ và gây được ấn tượng mạnh đối với người đọc: Hiện tượng ô nhiễm môi trường những tác động của con người đến thiên nhiên: khiến cho không chỉ con người chết dần chết mòn mà kể cả thiên nhiên cũng không “sống” nổi: “Biển chết rồi con ơi”…

Thái độ của nhân vật trữ tình trong bài thơ: Đồng cảm, sẻ chia trước những nhọc nhằn vất vả, mất mát của những người dân miền biển vốn dĩ đã quá nghèo, tương lai còn mờ mịt. Ngầm lên án, phê phán tác động của con người đến môi trường sống,…

5 Đặt tên cho đoạn trích: “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” …
6 Phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn: Phép thế với các đại từ “đó, ấy, nó“.
7 sóng…“; sử dụng phép điệp trong cấu trúc ” Nó kết thành… nó lướt qua… nó nhấn chìm…“, điệp từ ” “; phép liệt kê trong cả ba vế câu…

– Với hai cụm động từ lướt qua… và nhấn chìm…, tác giả đã khẳng định sức mạnh vô địch của lòng yêu nước giúp nhân dân ta có thể vượt qua mọi khó khăn để chiến thắng mọi kẻ thù đe dọa chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.

– Có thể chứng minh bằng những trang sử hào hùng của dân tộc, từ những cuộc chiến chống Tống, Nguyên, Minh, Thanh… tới hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ…, khi chúng ta là một nước nhỏ nhưng chưa hề khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào.

8 Lòng yêu nước của con người Việt Nam thời hiện đại (thời kì của kinh tế thị trường, hội nhập…)

– Con người Việt Nam vừa tiếp nối truyền thống cha ông, thể hiện lòng yêu nước trong ý thức bảo vệ, giữ gìn chủ quyền thiêng liêng của dân tộc;

– Có ý thức bảo vệ truyền thống văn hóa, những giá trị tinh thần của dân tộc như phong tục, tập quán, những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể;

– Thể hiện ý thức tự tôn dân tộc bằng những hành động cụ thể, thiết thực;

– Xây dựng đất nước giàu mạnh để có thể tự hào sánh vai các cường quốc trên thế giới;

– Bảo vệ danh dự con người Việt Nam trước cộng đồng quốc tế…

 

ĐỀ DĨ AN HẢI DƯƠNG

Phần 1. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4.

“Người Việt Nam ta từ xưa đã có tục xin chữ và cho chữ vào những ngày Tết đến, Xuân sang. Cùng với việc khai bút đầu năm, tục xin chữ và cho chữ trở thành nét đẹp văn hóa người Việt, thể hiện sự trọng chữ, tri thức và cũng là mong muốn một năm mới an khang, thịnh vượng. Việc xin chữ đầu năm ngày nay đã trở lên phổ biến… Người trung niên xin chữ Tâm, chữ Đức, chữ Nhẫn, nam thanh, nữ tú xin các chữ Danh, Duyên, Hiếu, Trung; người ít tuổi xin chữ Trí tuệ, Chí hướng; tặng bố mẹ xin chữ Tâm, An khang, Bình an; mừng các cụ cao tuổi không thể thiếu chữ Thọ,người làm nghề buôn bán, kinh doanh sẽ là chữ Lộc, chữ Tín… Đối với người cho chữ thì thận trọng dồn hết tâm tư, cái hồn của mình vào đường đi của từng nét cọ điêu luyện, để có cái thần của nét chữ, sao cho đẹp cả hình thức và nội dung, thể hiện khả năng viết chữ đẹp của mình. Chữ thường được viết trên nền giấy hồng, giấy đỏ biểu tượng màu may mắn, tốt lành. Tùy thuộc vào nội dung của chữ mà người viết bằng mực nho hay nhũ vàng để có ý nghĩa nhất cho người xin chữ… ”

(08/01/2016 – Báo điện tử Vĩnh Phúc – Sao Mai).

 Câu 1. Văn bản trên đã đề cập đến tục lệ gì của người Việt? Vì sao tác giả cho rằng tục lệ đó là nét đẹp văn hóa người Việt? (0,25 điểm).

Câu 2. Tìm biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn. Phân tích ý nghĩa diễn đạt của biện pháp tu từ đó? (0,5 điểm).

Câu 3. Tìm hai yêu cầu cơ bản mà người viết đã đặt ra đối với người cho chữ. Anh chị hãy thay thế bằng hai từ ngắn gọn và phù hợp nhất. (0,5 điểm)

Câu 4. Nếu là người xin chữ, anh/chị sẽ chọn cho mình chữ gì? Giải thích ý nghĩa của chữ ấy đối với việc lựa chọn của anh/chị. (Trình bày bằng một đoạn văn trong khoảng 5 – 7 dòng) (0,25 điểm).

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8.

Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,

Mùi hoa thiên lý thoang thoảng chiều thu.

Con cò bay lả trong câu hát,

Giấc trẻ say dài nhịp võng ru.

Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,

Góc vườn rụng vội chiếc mo cau.

Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác,

Đàn kiến trường chinh tự thuở nào.

Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,

Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.

Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,

Điểm nhạt da trời những chấm son.

Thong thả trăng non dựng cuối làng,

Giữa nhà cây lá bóng xiên ngang.

Chìu con, cặm cụi đôi ngày phép,

Ngồi bẻ đèn sao, phất giấy vàng.

(Chiều thu – Nguyễn Bính, Nhà văn trong trường)

Câu 5. Xác định hai phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

Câu 6. Tìm các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ 2 và 3. Qua đó, nêu nhận xét chung về hiệu quả diễn đạt của chúng trong bức tranh mùa thu. (0,5 điểm)

Câu 7. Trình bày cảm nhận của anh chị về đoạn thơ: “Đoạn thơ chỉ thuần là bức tranh thiên nhiên, miêu tả cảnh sắc chiều thu.” “Hình ảnh thiên nhiên và con người như hòa quyện vào nhau làm nên vẻ đẹp yên bình của bức tranh mùa thu nông thôn”. Theo anh/chị, ý kiến nào đúng? Vì sao? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Đoạn văn đề cập đến tục lệ xin chữ và cho chữ đầu xuân của người Việt Nam.

– Tục lệ đó là nét đẹp văn hóa người Việt vì nó thể hiện sự trọng chữ, tri thức và cũng là mong muốn một năm mới an khang, thịnh vượng.

2 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn là biện pháp liệt kê: “Người trung niên… chữ Lộc, chữ Tín”.

– Tác dụng: nêu lên những chữ thường xuyên được xuyên gắn với đối tượng cụ thể và có những ý nghĩa khác nhau. Tất cả đều hướng đến những điều tốt đẹp. Từ đó, giúp người đọc thấy được ý nghĩa của việc xin chữ, tặng chữ.

3 Hai yêu cầu cơ bản đối với người cho chữ: “thận trọng dồn hết tâm tư, cái hồn của mình vào đường đi của từng nét cọ điêu luyện, để có cái thần của nét chữ, sao cho đẹp cả hình thức và nội dung, thể hiện khả năng viết chữ đẹp của mình.”

– Từ thay thế: có tâm và có tài.

4 Đây là câu hỏi mở. HS nêu chữ mình muốn chọn và giải thích ý ngĩa của chữ ấy. Ví dụ: Nếu được xin chữ em sẽ chọn chữ “minh”. Ý nghĩa: Hướng đến những điều sáng suốt. Theo em, có trí chưa đủ. Trí tuệ ấy nếu dùng vào những việc trái đạo lí thì không cần trí để làm gì. Ngược lại, thông minh, sáng suốt, biết làm điều hợp đạo sẽ đem lại điều tốt đẹp cho cả mình và những người xung quanh.
5 Hai phương thức biểu đạt chính là miêu tả và biểu cảm
6 – Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ 2 và khổ 3 là:

+ Biện pháp nhân hóa: “gió đuổi nhau”, “Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác”, “Đàn kiến trường chinh”, “tiếng chim mách lẻo”. Tác dụng: làm cho bức tranh mùa thu thêm sống động, cây cối, con vật dường như cũng hoạt động, cũng có tâm tư tình cảm như con người. Nhìn vào bức tranh đó, ta không thấy cảm giác thu buồn như muôn thuở nữa mà đầy sức sống.

+ Biện pháp so sánh “Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con” miêu tả những lá lúa dài và sắc, mỏng; tạ sự hấp dẫn cho lời văn.

+ Đảo ngữ “Điểm nhạt da trời những chấm son”: tô đậm hình ảnh những trái hồng chín đỏ giữa trời.

7 Ý kiến thứ 2 đúng. Vì:

– Bức tranh mùa thu với các con vật, cảnh vật được nhân hóa như mang hoạt động, trạng thái như con người. Tất cả như đang cựa quậy, đang dạt dào sức sống.

– Cảnh vật mùa thu yên bình, mang cảm hứng ca ngợi cuộc sống và vẻ đẹp thiên nhiên của tác giả.

– Để khắc họa được vẻ đẹp như vậy, tác giả đã rất tinh tế, tỉ mỉ trong quan sát, say sưa ngắm nghía và thổi hồn mình vào cảnh vật, để khung cảnh thiên nhiên cũng mang hồn người.

 

ĐỀ ĐÔ LƯƠNG NGHỆ AN

PHẦN 1: Đọc hiểu (3đ)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 – 4

Trong lịch sử, Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Phần lớn thư tịch cổ quốc gia trong các giai đoạn đó đã bị quân xâm lược tiêu hủy với mục tiêu xóa sạch văn hoa Việt để dễ bề đồng hóa. Tuy nhiên, chỉ với những tài liệu chính sử còn lại đến nay cũng đủ để chứng minh người Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử từ rất lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoàn toàn phù hợp với tập quán cũng như luật pháp quốc tế về việc xác lập và khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Hiện hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước trên biển Đông. Về việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã ban hành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên thế giới.

Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật của quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lí đều cho thấy rằng Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm qua. Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và thực thi chủ quyền của mình với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và hòa bình.

(biendong.net)

  1. Văn bản trên đề cập đến nội dung gì?
  2. Việc giải quyết tranh chấp biển đảo của nước ta dựa trên nguyên tắc nào?
  3. Văn bản được trình bày theo phong cách ngôn ngữ nào?
  4. Viết 5 – 7 dòng nói lên suy nghĩ của anh, chị về biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi 5 – 6

– Chị ơi!…

Chỉ gọi được thế thôi

Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời

Không làm sao anh còn nói nổi:

– Chị đặt hoa nhầm rồi

– Mộ anh ấy ở bên tay trái

Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại

Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi!

– Chị hiểu ý em rồi

Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó

Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ

Viếng mộ anh, có chị đến đây rồi!

( Tây Trường Sơn, Trần Ninh Hổ, 1972 )

  1. Nội dung của bài thơ trên?
  2. Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam trong bốn câu thơ:

– Chị hiểu ý em rồi

Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó

Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ

Viếng mộ anh, có chị đến đây rồi!

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn đề cập đến nội dung: khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật lịch sử cho thấy rằng nước ta đã thực hiện xác lập và thực thi chủ quyền của mình với hai quần đảo một cách hòa bình và liên tục.
2 Việc giải quyết tranh chấp biển đảo ở nước ta dựa trên nguyên tắc: nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thực sự và thực hiện quyền lực nhà nước một cách thực sự, liên tục và hòa bình.
3 Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí/ chính luận/ cả phong cách báo chí và chính luận.
4 Vùng đất, vùng trời, vùng biển là những yếu tố hợp thành một quốc gia toàn vẹn, thống nhất. Biên giới quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Biển đảo còn là nhà, là nơi sinh sống, làm vệc của biết bao ngư dân miền biển. Bảo vệ chủ quyền biển đảo đất nước là bảo vệ cuộc sống ngư dân. Bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc chính là bảo vệ, giữ gìn những gì của chúng ta, để vươn lên phát triển.
5 Nội dung của bài thơ là câu chuyện đi viếng mộ chiến sĩ hi sinh trong chiến tranh. Người vợ, người bạn gái của người đã nằm xuống chỉ mang theo một cành hoa từ quê nhà nhưng không đặt lên nơi an nghỉ của người thân mình mà đặt sang chỗ người nằm cùng anh. Khi có chiến sĩ bộ đội nhắc, chị xin cho mình đặt hoa lên đó, vì cả khu rừng chỉ có hai ngôi mộ, còn viếng anh thì đã có chị đến rồi. Qua đó cho thấy sự sẻ chia, bao dung, tình yêu thương của con người.
6 Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam:

– Nghĩa tình, thủy chung: Người phụ nữ ấy mang trong mình nỗi đau lớn là mất đi người thương yêu sau cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Chị vẫn hướng về người lính ấy, đến thăm anh cho người ngã xuống bớt cô quạnh nơi núi rừng sâu thẳm.

– Tấm lòng cảm thông, sẻ chia sâu sắc: Bản thân mình cũng có những mất mát nhưng chị quên đi nỗi đau của bản thân mà nghĩ cho người ở cùng anh. Anh còn có chị đến thăm viếng, còn người bên cạnh khi sang thế giới bên kia chắc cũng cảm thấy cô quạnh khi không có gia đình đến thăm. Có các đồng đội đến thăm nhưng chắc vẫn không hết thấy nhớ gia đình, người thân.

– Tình cảm yêu thương, trân trọng những người đã hi sinh vì Tổ quốc. Biết trân trọng quá khứ

 

ĐỀ ĐỒNG BÀNH LẠNG SƠN

“Nhiều người An Nam thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nước mình. Hình như đối với họ, việc sử dụng Pháp ngữ là một dấu hiệu thuộc giai cấp quý tộc, cũng như sử dụng nước suối Pê-ri-ê (Pérrier) và rượu khai vị biểu trưng cho nền văn minh Châu Âu. Nhiều người An Nam bị Tây hóa hiện nay tưởng rằng khi cóp nhặt những cái tầm thường của phong hóa Châu Âu họ sẽ làm cho đồng bào của mình tin là họ đã được đào tạo theo kiểu phương Tây.”

 (Nguyễn An Ninh , tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức)

1/ Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích?

2/ Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Vì sao?

3/ Nêu nội dung chính của đoạn trích?

4/ Qua đoạn văn trên tác giả phê phán hiện tượng gì? Hãy chỉ ra giá trị thời sự của vấn đề ấy trong giai đoạn hiện nay?

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ của đoạn trích: chính luận
2 – Thao tác lập luận sử dụng chủ yếu: So sánh

– Lý do: làm rõ hiện trạng người An Nam sính tiếng Tây hơn tiếng nước mình.

3 Nội dung chính của đoạn trích: hiện tương Tây hóa của nhân dân An Nam.
4 – Qua đoạn văn, tác giả phê phán hiện tượng Tây hóa lố lăng của một số bộ phận dân An Nam.

– Giá trị thời sự của vấn đề Tây hóa trong giai đoạn hiện nay:

+ Nhắc nhở chúng ta không nên lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài quá mức mà đánh mất đi bản sắc ngôn ngữ của dân tộc.

+ Sử dụng đúng chuẩn mực trong mọi ngôn ngữ.

 

ĐỀ THPT ĐỒNG ĐẬU

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Tình ta như hàng cây

Đã qua mùa gió bão.

Tình ta như dòng sông

Đã yên ngày thác lũ.

Thời gian như là gió

Mùa đi cùng tháng năm

Tuổi theo mùa đi mãi

Chỉ còn anh và em.

Chỉ còn anh và em

Cùng tình yêu ở lại…

– Kìa bao người yêu mới

Đi qua cùng heo may.

(Trích Thơ tình cuối mùa thu – Xuân Quỳnh)

Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ: Tình ta như hàng cây / Đã qua mùa gió bão / Tình ta như dòng sông / Đã yên ngày thác lũ.

Câu 3. Điệp khúc Chỉ còn anh và em” được tác giả lặp lại hai lần trong đoạn thơ mang ý nghĩa gì?

Câu 4. Anh/ chị hãy nhận xét quan niệm về tình yêu của tác giả qua những dòng thơ: Thời gian như là gió/ Mùa đi cùng tháng năm/ Tuổi theo mùa đi mãi/ Chỉ còn anh và em …/Cùng tình yêu ở lại. (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

“ […] Đất nước vốn là khái niệm trừu tượng, mà thoạt đầu con người khó có thể cắt nghĩa cho thật gãy gọn, rõ ràng. Nhưng những người thân như ông bà, cha mẹ, anh em… thì lại vô cùng cụ thể và được mỗi người cảm nhận trong những mối quan hệ cũng vô cùng cụ thể. Đó là mối quan hệ gắn bó máu thịt hình thành ngay từ khi ta cất tiếng khóc chào đời và sẽ đi theo ta suốt cuộc đời với biết bao biến cố, thăng trầm, buồn vui, hi vọng… Từ cái nôi gia đình, mỗi người đều có một tuổi thơ gắn liền với kỉ niệm về cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre, mái trường, thầy cô, bè bạn. Theo thời gian, những kỉ niệm ấy dần dần trở thành sợi dây tình cảm neo giữ tình yêu của mỗi con người với gia đình, quê hương… Và có thể nói, chính tình yêu đối với gia đình, quê hương sẽ khơi nguồn cho tình yêu đất nước.”

Câu 5. Nêu nội dung và xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên ?

Câu 6. Hãy tìm câu chủ đề của đoạn văn. Từ đó, cho biết

Câu 7. Phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu sau: Từ cái nôi gia đoạn văn được triển khai theo phương pháp nào?đình, mỗi người đều có một tuổi thơ gắn liền với kỉ niệm về cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre, mái trường, thầy cô, bè bạn.

Câu 8. Từ văn bản trên, anh/chị hãy nêu suy nghĩ về trách nhiệm của thanh niên với đất nước. (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).

Câu Ý Nội dung
I 1 Trả lời đúng theo một trong các cách: thơ ngũ ngôn/ thơ tự do
2 Các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ là:

+ So sánh: Tình ta như hàng cây / Tình ta như dòng sông

+ Ẩn dụ: mùa gió bão/ ngày thác lũ

+ Điệp cấu trúc: Tình ta như…/ Đã qua… Đã yên…

3 Điệp khúc Chỉ còn anh và em” lặp lại hai lần trong đoạn thơ có ý nghĩa: khẳng định tình yêu thủy chung, bền chặt, không thay đổi.
4 Quan niệm về tình yêu của tác giả: Dù vạn vật có vận động, biến thiên nhưng có một thứ bất biến, vĩnh hằng, đó chính là tình yêu. Tình yêu đích thực vượt qua thời gian và mọi biến cải của cuộc đời. (Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục).

– Từ đó, nhận xét về quan niệm của tác giả: (đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp,.. như thế nào?).

5 – Nội dung chính: bàn về vấn đề tình yêu đất nước được bắt nguồn từ tình yêu gia đình, yêu quê hương.

– Phương thức biểu đạt chính của văn bản: nghị luận

6 – Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn

– Đoạn văn triển khai theo phương pháp quy nạp.

7 Phân tích cấu trúc ngữ pháp

+ Từ cái nôi gia đình: trạng ngữ

+ Mỗi người: chủ ngữ

+ Đều có……..bè bạn: vị ngữ

8 Học sinh có thể trình bày suy nghĩ riêng của mình về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay với đất nước viết đoạn văn đảm bảo các ý:

+ Vì sao thế hệ trẻ lại cần phải có trách nhiệm với đất nước?

+ Trách nhiệm đó là gì?

+ Để thực hiện trách nhiệm đó cần phải làm gì?

 

ĐỀ ĐÔNG DU LẦN 1

Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3:

“Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”

(Trích Vợ Nhặt – Kim Lân)

 Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn? (0,5 điểm)

Câu 2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì? (0,5 điểm)

Câu 3. Xác định thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quả nghệ thuật của các thành ngữ đó? (0,5 điểm)

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi từ câu 4 đến câu 7

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón

giêng hai, chim én gặp mùa,

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 144)

Câu 4. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản. (0,25 điểm)

Câu 5. Văn bản sử dụng biện pháp tu từ gì? Cách sử dụng biện pháp tu từ ấy ở đây có gì đặc sắc? (0,5 điểm)

Câu 6. Em hiểu thế nào về cụm từ “con gặp lại nhân dân” ở văn bản? (0,25 điểm)

Câu 7. Hãy nói rõ niềm hạnh phúc của nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện trong văn bản trong một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 câu)? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn: biểu cảm, tự sự.
2 – Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ khi biết con trai (nhân vật Tràng) dẫn người đàn bà xa lạ về làm vợ.
3  – Các thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn: dựng vợ gả chồng; sinh con đẻ cái; ăn nên làm nổi.

– Hiệu quả nghệ thuật của các thành ngữ: các thành ngữ dân gian quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được sử dụng một cách sáng tạo, qua đó dòng tâm tư của người kể hòa vào với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ; suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể hiện rất tự nhiên; nỗi lòng, tâm trạng của người mẹ thương con được diễn tả thật chân thực.

4 – Phương thức biểu đạt mà văn bản sử dụng là phương thức biểu cảm.
5 – Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Nét đặc sắc ở đây là tác giả đã đưa ra một loạt hình ảnh so sánh (nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa) để làm nổi bật một yếu tố được so sánh (con gặp lại nhân dân). Đây là kiểu so sánh phức hợp, ít gặp trong thơ.
6 – Cụm từ “con gặp lại nhân dân” được hiểu: trước cách mạng, nhà thơ sống xa rời nhân dân, bó hẹp trong cái tôi cá nhân. Sau cách mạng, nhà thơ được hòa mình vào cuộc đời rộng lớn, cảm thấy thân thiết, gắn bó, gần gũi máu thịt với nhân dân.
7 – Bốn câu thơ trên đã thể hiện cảm xúc mãnh liệt của Chế Lan Viên khi trở về với nhân dân. Một loạt hình ảnh so sánh được đưa ra nhằm diễn tả sự hồi sinh của một hồn thơ. Đối với một người nghệ sĩ, đó là niềm hạnh phúc lớn lao, vô bờ…

 

ĐỀ ĐÔNG DU LẦN 2

 Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất, Tôi

muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.”

(Xuân Diệu- Vội vàng”)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản? (0,25đ)

Câu 2. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó? (0,5đ)

Câu 3. Theo mục đích nói các câu thơ trong văn bản thuộc kiểu câu gì? Nêu tác dụng của kiểu câu đó? (0,5đ)

Dưới đây là các phần của văn bản đã bị đảo trật tự

  1. Mong bạn giữ gìn cẩn thận dấu câu của mình bạn nhé!
  2. Thiếu những dấu câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp vì bài văn của bạn mất ý nghĩa, nhưng mất những dấu chấm trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn cũng mất ý nghĩa như vậy.
  3. Cứ như vậy anh ta đi đến dấu chấm hết.
  4. Có một người chẳng may đánh mất dấu…..(1). Anh ta sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩa đơn giản.

Sau đó anh lại làm mất dấu……(2). Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng, mừng rỡ hay phẫn nộ nữa cả. Đằng sau đó là sự thờ ơ với mọi chuyện.

 Kế đó, anh ta đánh mất dấu….(3) và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở đâu, dù trong vũ trụ hay ở mặt đất hoặc ngay trong nhà mình, anh đều không hay biết. Anh đánh mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thờ ơ với mọi điều.

Một thời gian sau, anh đánh mất dấu….(4). Từ đó anh không liệt kê được, không còn giải thích được hành vi của mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta hoàn toàn quên mất cách tư duy.

Anh/chị hãy trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 7:

Câu 4: phần văn bản d) có 4 vị trí đã bị lược bớt từ. Điền các từ gợi ý để khôi phục đoạn văn hoàn chỉnh: chấm than, phẩy, chấm hỏi, hai chấm.(0,5đ)

Câu 5: Sau khi khôi phục đoạn văn bản ở mục d), hãy sắp xếp thứ tự đúng của các đoạn văn để tạo thành một văn bản hoàn chỉnh.(0,5đ)

Câu 6: Văn bản sau khi đã được khôi phục nói về điều gì?(0,25đ)

Câu 7: Hãy viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong văn bản trên?(0,5đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Văn bản được làm theo thể thơ ngũ ngôn/ thể thơ ngũ ngôn/ thể thơ tự do.
2 – Biện pháp tu từ trong đoạn thơ : Điệp ngữ “Tôi muốn”.

– Hiệu quả nghệ thuật: Nhấn mạnh điều mong muốn mãnh liệt của tác giả.

3 – Theo mục đích nói các câu trong văn bản thuộc kiểu câu cầu khiến.

– Tác dụng: bộc lộ niềm mong muốn của tác giả được đoạt quyền tạo hóa để giữ lại hương sắc cho đời. Qua đó thể hiện niềm yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết, mãnh liệt.

4 Điền các từ gợi ý để khôi phục đoạn văn cho hoàn chỉnh: (1) Phẩy; (2) chấm than; (3) chấm hỏi; (4) hai chấm.
5 Sắp xếp thứ tự đúng của các đoạn văn để tạo thành văn bản hoàn chỉnh: d-c-b-a. hoặc b-d-c-a.
6 Văn bản nói về “ý nghĩa dấu câu” đối với mỗi con người.
7 Viết đoạn văn:

– Hình thức: viết đúng kết cấu của đoạn văn với độ dài từ 5 đến 7 câu.

– Nội dung: có thể làm rõ các ý sau:

+ Khi tạo lập một văn bản rất cần sử dụng dấu câu chính xác.

+ Phê phán những trường hợp không sử dụng đúng dấu câu.

+ Đề xuất giải pháp.

 

ĐỀ ĐÔNG QUAN LẦN 1

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

Quê hương biết mấy thân yêu

Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau

Mặt người vất vả in sâu

Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

Đất nghèo nuôi những anh hùng

Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

Đạp quân thù xuống đất đen

Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

Việt Nam đất nắng chan hoà

Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh

Mắt đen cô gái long lanh

Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung.

(Trích: Việt Nam quê hương ta, Nguyễn Đình Thi – Chân dung và đối thoại, NXB Thanh niên, 1999)

Câu 1. Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ? (0,25 điểm)

Câu 3.Theo em những phẩm chất nào của người dân Việt Bam được tác giả Nguyễn Đình Thi nhắc đến trong bài thơ? (0,5 điểm)

Câu 4. Trong đoạn thơ, “quê hương Việt Nam” được miêu tả những chi tiết, những hình ảnh nào? Cảm nhận của anh/chị về những hình ảnh đó. Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng (0,5 điểm).

Đọc đoạn văn sau và trả lời Câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

(1). Điều gì phải, thì có làm cho kì được, dù là một việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.

(2). Trước hết phải yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân. Phải có tình thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kĩ thuật. Phải bảo vệ của công. Phải tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì ta là một phần quang trọng của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới…

(3). Thanh niên cần phải có tinh thần gan dạ và sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng. Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.

(Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập, in trong một số lời dạy và mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia)

Câu 5: Đối tượng hướng đến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đoạn trích là ai? (0,25 điểm)

Câu 6: Chỉ ra phong cách ngôn ngữ của đoạn văn trên và cá phép liên kết mà tác giả sử dụng. (0,5 điểm)

Câu 7: Người gửi gắm lời dạy nào thông qua đoạn trích trên? (0,25 điểm)

Câu 8: Trong khoảng 5 – 7 dòng, trình bày suy nghĩ của anh (chị) về việc thế nào là nếp sống có đạo đức? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ lục bát
2 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ là phương thức biểu cảm
3 Những phẩm chất đẹp của người Việt Nam được nhắc đến trong đoạn thơ là:

+ Cần cù, chịu thương chịu khó “Mặt người vất vả in sâu /Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn”

+ Anh hùng, dũng cảm “Đất nghèo nuôi những anh hùng /Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên”

+ Thủy chung, nghĩa tình “ Mắt đen cô gái long lanh / Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung.”

4 – Quê hương Việt Nam được miêu tả với những hình ảnh sau:

+ Biển lúa mênh mông

+ Đỉnh Trường Sơn mây mờ che sớm chiều

+ Những người con gái, con trai áo nâu một đời vất vả

+ Những anh hùng đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền lành, chất phác

+ Những người con gái đẹp, có đôi mắt long lanh, yêu ai yêu trọn tấm lòng thủy chung

– Những hình ảnh đó là kết tinh của những gì đẹp nhất của thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam. Qua đó, ta thấy một Việt Nam tươi đẹp, yên bình, trù phú; một Việt Nam cần cù, anh dũng, nghĩa tình thủy chung. Cảm hứng ca ngợi, tự hào tràn ngập đoạn thơ.

5 Đối tượng hướng đến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đoạn trích là những người làm cán bộ, quản lí nhà nước và thanh niên Việt Nam, là toàn thể nhân dân Việt Nam
6 -Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

– Đoạn văn trên được liên kết với nhau bằng các phép liên kết: Phép lặp (lặp cấu trúc câu và lặp từ ngữ

7 Thông qua đoạn trích trên, người gửi gắm thông điệp phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển, tốt đẹp, đi lên, tất cả vì nhân dân, phục vụ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
8 – Đạo đức là phẩm chất của con người, tạo nên nét đẹp riêng, sống có tâm, biết sống vì người khác và là tấm gương cho mọi người học tập và noi theo.

– Có đạo đức con người sẽ được yêu mến, quý trọng và biết đem tài năng của mình đóng góp cho xã hội, đất nước.

 

ĐỀ ĐÔNG QUAN LẦN 2

  1. PHẦN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 3:

“Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở đảm bảo độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển và nhất định không đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó?”

(Thủ tướng – Nguyễn Tấn Dũng)

Câu 1: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong lời phát biểu trên đã sử dụng phép liên kết nào? Giá trị của những phép liên kết đó? (0,5 đ)

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính là gì? (0,25 đ)

Câu 3: Viết đoạn văn khoảng 10 đến 15 dòng trình bày suy nghĩ của anh chị về lòng yêu nước của giới trẻ hiện nay? (0,75 đ)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ câu 4 đến câu 7:

“Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con bé xuống đất, chạy đến dỡ lấy tay áo hắn: Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh dược một lúc, ông tha cho!

Tha này, tha này! Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch, rồi lại sấn đến trói anh Dậu. Hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại;

Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ

Cai lệ tát vào mặt chị một cái bốp, rồi hắn cứ nhảy vào mặt anh Dậu. Chị Dậu nghiến hai hằm răng:

 Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!

 Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu”

(Tắt đèn, Ngô Tất Tố)

Câu 4: Phương thức biểu đạt của đoạn trích trên là gì? (0,25 đ)

Câu 5: Đoạn trích trên sử dụng phép liên kết nào là chính? (0,25 đ)

Câu 6: Sự thay đổi cách xưng hô của chị Dậu trong đoạn trích có gì đặc biệt? Giá trị của sự thay đổi đó? (0,5 đ)

Câu 7: Nêu nội dung của đoạn trích? (0,5 đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Lời phát biểu trên sử dụng các phép liên kết lặp: “chủ quyền” “lãnh thổ” “biển”.

– Tác dụng: nhấn mạnh nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc Việt Nam và quyết tâm giữ vững nền độc lập cùng chủ quyền đó.

2 Phương thức biểu đạt chính là phương thức nghị luận
3 – Lòng yêu nước của con người Việt Nam thời hiện đại (thời kì của kinh tế thị trường, hội nhập…), đặc biệt ở giới trẻ:

+ Vừa tiếp nối truyền thống cha ông, thể hiện lòng yêu nước trong ý thức bảo vệ, giữ gìn chủ quyền thiêng liêng của dân tộc;

+ Có ý thức bảo vệ truyền thống văn hóa, những giá trị tinh thần của dân tộc như phong tục, tập quán, những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể;

+ Thể hiện ý thức tự tôn dân tộc bằng những hành động cụ thể, thiết thực;

+ Ra sức học tập, rèn luyện, lao động, xây dựng đất nước giàu mạnh để có thể tự hào sánh vai các cường quốc trên thế giới;

+ Bảo vệ danh dự con người Việt Nam trước cộng đồng quốc tế…

– Bên cạnh đó, cần lên án tư tưởng ăn chơi, hưởng lạc, chỉ biết hưởng thụ thành quả mà cha ông để lại hoặc những thành phần yếu kém về bản lĩnh chính trị khiến bọn phản động dễ dàng kích động, xúi giục chống phá cách mạn.

4 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên là phương thức tự s
5 Đoạn văn trên sử dụng phép liên kết là phép nối”rồi”, phép lặp “Chị Dậu” “tha” “ông” “hắn”, phép thể “cai lệ”, “anh chàng nghiện sái” thay cho “hắn”.
6 – Sự thay đổi cách xưng hô của chị Dậu có điểm đặc biệt là từ xưng “cháu – ông”, chuyển sang “tôi – ông”, cuối cùng là “bà – mày” -> từ nhún nhường đến ngang hàng rồi trên hàng.

– Giá trị: thể hiện sự thay đổi thái độ của chị Dậu từ nhún nhường, cam chịu đến tức giận, đấu tranh. Qua đó, ta thấy ở chị Dậu tình thương yêu chồng sâu sắc và tinh thần phản kháng mạnh mẽ của chị.

7 Đoạn trích kể về cuộc vùng lên của chị Dậu chống lại tên cai lệ thô bạo, máu lạnh để bảo vệ chồng. Qua đó, ta thấy được bộ mặt vô nhân tính của bọn cai trị và tình cảnh khốn khổ của người nông dân Việt Nam trước cách mạng. Đồng thời, đoạn trích đã khái quát được quy luật đấu tranh: tức nước vỡ bờ, con giun xéo lắm cũng quằn.

 

ĐỀ ĐÔNG THỤY ANH THÁI BÌNH LẦN 2

Phần I: Đọc – hiểu (3đ)

Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

NƠI DỰA

Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia? Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào…

Đứa bé lẫm chẫm muốn chạy lên, hai bàn chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ

Và cái miệng nhỏ líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có

Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.

Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?

 Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.

Bà cụ lưng còn tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy.

Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi đau cực nhọc gắng gỏi một đời.

Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dừa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử

(Nguyễn Đình Thi)

Câu 1: Nêu thể loại của văn bản trên? (0,25đ)

Câu 2: Chỉ ra các phương thức biểu đạt của văn bản trên? (0,5đ)

Câu 3: Từ hình ảnh đứa bé là nơi dựa vào cho người đàn bà, bà cụ già là nơi dựa cho anh chiến sĩ, anh/chị hiểu gì về “nơi dựa” trong cuộc sống? (0,5đ)

Câu 4: Anh/chị có cần một nơi dựa cho mình hay chính bản thân anh/chị sẽ là nơi dựa cho người khác? Vì sao? (trả lời trong khoảng 7 đến 10 dòng) (0,25đ)

Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Người Việt Nam đang giãy giụa giữa mê cung thực phẩm

Đó là một thực tế đang tồn tại tại Việt Nam khi mà người dân như lạc vào mê cung thực phẩm bẩn, không biết đâu là sạch, đâu là bẩn và không biết nên ăn để chết từ từ hay nhịn ăn để chết đói. Nếu bị đặt vào trường hợp như thế chắc hẳn ai cũng sẽ chọn phương án ăn để chết từ từ vì đằng sau họ có cả một tương lai, còn cả một gia đình. Điều đó có thể thấy được rằng vì sao hàng năm số người mắc mới và tử vong dobệnh ung thư đang ngày càng gia tăng, mặc dù công nghệ y học để điều trị các căn bệnh này ngày càng hiện đại.

Một vị giáo sư đầu ngành, đồng thời là Chủ tịch hội ung thư Việt Nam – GS Nguyễn Chấn Hùng cũng thừa nhận, ăn thực phẩm có tồn dư hóa chất, chất cấm sẽ nhiễm những chất gây ung thư vào cơ thể, nhưng chắc chắn rằng không phải hôm nay ta ăn, mai ta mắc ung thư, mà nó sẽ phải mất thời gian tích tụ dần dần.

Điều này càng được minh chứng rõ ràng hơn khi phóng viên tiến hành làm một cuộc khảo sát nhỏ tại viện K trung ương, đa số các bệnh nhân mắc ung thư đều khẳng định “Không biết vì sao mình mắc”. Với câu hỏi, liệu có phải do ăn thực phẩm bẩn nên mắc bệnh ung thư? Đa số những người bệnh chỉ nghi ngờ chứ không giám khẳng định.

Đó là điều dễ hiểu khi họ không hề hay biết nguồn nước họ ăn đang bị các nhà máy đầu độc bằng các chất thải công nghiệp, họ không hề hay biết miếng thịt lợn họ ăn hàng ngày đang được nuôi bằng những chất cấm hoặc bị tiêm thuốc an thần, rau họ ăn ở chợ đang tồn dư một lượng thuốc trừ sâu đáng kể.

… “Hiện nay, ở Việt Nam đang lên cơn sốt về vấn đề thực phẩm bẩn, dường như ngày nào tôi cũng nghe ở đâu đó nói về thực phẩm bẩn, từ việc tiêm trực tiếp cho đến chất ướp, bảo quản thực phẩm, thuốc trừ sâu. Đây thực sự là vấn đề “quốc nạn”. Nếu nhà nước và người dân không vào cuộc một cách quyết liệt và chặn đứng vấn đề này thì dân tộc chúng ta không biết đi đâu về đâu, sức khỏe của người dân không biết sẽ ra sao”. Đó là nhận định của GS Nguyễn Bá Đức, nguyên giám đôc bệnh viện K trung ương khi nói về thực phẩm bẩn…

(Theo Eva.vn, ngày 2/4/2016)

Câu 5: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên? (0,25đ)

Câu 6: Nêu nội dung chính của văn bản trên? (0,25đ)

Câu 7: Anh/chị hãy nêu thêm ít nhất ba tác hại của thực phẩm bẩn? (0,5đ)

Câu 8: Theo anh/chị những nguyên nhân nào gây ra tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm? Anh/chị hãy đưa ra ít nhất hai giải pháp để ngăn chặn, đẩy lùi thực phẩm bẩn. ( Trả lời trong khoảng từ 10 đến 15 dòng). (0,5đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Thể loại của văn bản trên: Thơ trữ tình.
2 Các phương thức biểu đạt: Tự sự và biểu cảm.
3 Nơi dựa của mỗi người trong cuộc đời mà bài thơ đề cập đến là nơi dựa tinh thần, nơi con người tìm thấy niềm vui, ý nghĩa sống, …
4 – Bản thân mình rất cần nơi dựa – đó chính là gia đình, thầy cô, bè bạn… bởi có nơi dựa, chúng ta sẽ có nguồn động viên, giúp đỡ rất lớn để vượt qua khó khăn, thử thách, vượt lên chính mình dễ dàng hơn.

– Bản thân mình cũng là nơi dựa cho mọi người bởi có như vậy mình sống có mục tiêu, có định hướng, có trách nhiệm hơn. Và cũng vì những người xung quanh luôn cần được quan tâm, yêu thương, chia sẻ.

5 Phong cách ngôn ngữ: Báo chí.
6 Nội dung chính của văn bản trên: vấn đề thực phẩm bẩn và hậu quả nghiêm trọng của nó đối với xã hội Việt Nam.
7 – 3 tác hại của thực phẩm bẩn:

+ Trước mắt, thực phẩm bẩn sẽ gây nguy hại đến con người bằng biểu hiện nhỏ như: đau bụng, nôn mửa,…

+ Sau sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe lâu dài: mắc ung thư gan, tim, gây vô sinh…

+ Có thể con người sẽ bị tử vong.

8 – Nguyên nhân của tình trạng này:

+ Nhận thức, ý thức, trách nhiệm của người sản xuất còn kém. Họ chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng sản phẩm và hậu quả của thực phẩm bẩn.

+ Khâu quản lí sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm trên thị trường còn lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc.

+ Chưa có quy định xử lí nghiêm minh các trường hợp sản xuất, buôn bán thực phẩm bẩn.

+ Thiết bị, công nghệ sản xuất ở nhiều nơi còn cũ kĩ, lạc hậu.

– Để góp phần ngăn chặn thực phẩm bẩn, chúng ta phải:

– Nâng cao ý thức của người sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt để nói không với các chất gây hại cho sức khỏe con người.

– Với người sử dụng cần sử dụng sản phẩm rõ nguồn gốc, không ham của rẻ, đồ dùng không rõ xuất xứ.

– Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân có vai trò trong việc kiểm định chất lượng sản phẩm tiêu dùng, đồ ăn.

– Có biện pháp phù hợp, chế tài xử phạt nghiêm khắc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm luật an toàn vệ sinh thực phẩm.

 

ĐỀ ĐÔNG THỤY ANH LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

“Mũi Cà Mau: Mỏm đất tươi non

Mấy năm trời lấn luôn ra biển

Phù sa vạn dặm tới đây tuôn

Lắng lại; và chân người bước đến

Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau

Những dòng sông rộng hơn ngàn thước

Trùng điệp một màu xanh lá đước

Đước thân cao vút, rễ ngang mình

Trổ xuống nghìn tay, ôm đất nước!

Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau

(Mũi Cà Mau – Xuân Diệu, 10 – 1960)

  1. Văn bản trên được làm theo thể thơ nào? ‘
  2. Câu thơ “Mũi Cà Mau: Mỏm đất tươi non” gợi cho anh/ chị những hiểu biết gì về vùng đất này?
  3. Nêu và phân tích tác dụng của các phép điệp trong văn bản trên?
  4. Văn bản trên gợi cho anh/ chị cảm xúc gì đối với quê hương, Tổ quốc? Trình bày khoảng 4 – 6 dòng?

Đọc câu chuyên sau và thực hiện yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Vị vua và những bông hoa

Một ông vua nọ rất có tài chăm sóc những cây hoa và ông đang muốn tìm một người kế vị mình. Ông quyết định để những bông hoa quyết định, vì thế ông đưa cho tất cả mọi người mỗi người một hạt giống. Người nào trồng được những bông hoa đẹp nhất từ hạt giống này sẽ được lên ngôi.

Một cô gái tên là Serena cũng muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh để trồng được bông hoa đẹp nhất. Cô gieo hạt giống trong một cái chậu rất đẹp, chăm sóc nó rất kỹ càng, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy hạt giống nảy mầm.

Năm sau, cô thấy mọi người tụ tập tại cung điện với những chậu hoa rất đẹp.

Serena rất thất vọng, nhưng vẫn tới cuộc tụ họp với chậu hoa trống rỗng. Nhà vua kiểm tra tất cả chậu hoa, rồi dừng lại ở chậu hoa của Serena. Ngài hỏi “tại sao chậu hoa của cô không có gì?” “Thưa điện hạ, tôi đã làm mọi thứ để nó lớn lên nhưng tôi đã thất bại” – cô gái trả lời.

“Không, cô không thất bại. Những hạt giống mà ta đưa cho mọi người đều đã được nướng chín, vì thế chúng không thể nảy mầm. Ta không biết tất cả những bông hoa đẹp này ở đâu ra. Cô đã rất trung thực, vì thế cô xứng đáng có được vương miện. Cô sẽ là nữ hoàng của vương quốc này”

(Dẫn theo Quà tặng cuộc sống)

  1. Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
  2. Nêu nội dung chính của văn bản trên.
  3. Hãy giải thích vì sao cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng ?
  4. Anh/chị hãy rút ra bài học cho bản thân khi đọc xong câu chuyện trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Văn bản trên làm theo thể thơ 7 chữ.
2 Câu thơ “Mũi Cà Mau: Mỏm đất tươi non” gợi một Cà Mau xinh đẹp, tiềm năng tràn trề nhựa sống qua một quá trình phát triển lâu dài và bền vững.
3 Đoạn thơ sử dụng phép điệp, 2 câu thơ sau được lặp lại 2 lần:

Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau”

thể hiện niềm tự hào và tình yêu mãnh liệt của tác giả với mảnh đất địa đầu của của Tổ quốc.

4 Cảm xúc đối với quê hương, Tổ quốc: tình yêu, niềm tự hào, tin tưởng vào sự phát triển của đất nước…
5 Phương thức tự sự.
6 Nội dung: Nội dung chính của văn bản : Kể về việc một vị vua muốn lựa chọn người kế vị bằng cách thử lòng trung thực của mọi người từ những hạt giống hoa đã được nướng chín và chỉ có duy nhất cô gái tên Serena là người chiến thắng nhờ lòng trung thực của mình. Câu chuyện đưa tới thông điệp: tính trung thực sẽ đem lại cho chúng ta những món quà bất ngờ.
7 Cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng vì cô đã rất trung thực khi trồng đúng hạt giống hoa mà nhà vua ban. Cô không tìm mọi cách để có chậu hoa đẹp như người khác mà chỉ chăm sóc hạt giống nhà vua đã ban.
8 Bài học của bản thân: Con người cần phải sống trung thực, có lòng tin vào sự trung thực của bản thân. Khi có lòng trung thực con người sẽ gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống.

 

ĐỀ ĐỨC HỢP HƯNG YÊN LẦN 2

  1. Phần Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ

Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh

 (Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)

Câu 1: Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Câu 3: Văn bản trên thể hiện thái độ, tình cảm gì của tác giả đối với Tiếng Việt?

Câu 4: Viết một đoạn văn khoảng 10 dòng bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh, vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ!”

(Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)

Câu 5: Đoạn văn trên có sự kết hợp các phương thức biểu đạt nào?

Câu 6: Nội dung chủ yếu của đoạn văn là gì?

Câu 7: Đoạn văn trên khiến anh/chị liên tưởng đến hiện tượng nào trong cuộc sống?

Câu 8: Nêu ngắn gọn những hiểu biết của anh/chị về thực trạng của hiện tượng trên và đưa ra một giải pháp mà anh/chị cho là hợp lí nhất để giải quyết.

(Viết một đoạn văn khoảng 10 dòng, vận dụng ít nhất 2 thao tác lập luận)

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Văn bản trên được làm theo thể thơ tám chữ.

– Biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ là biện pháp so sánh.

– Tác dụng làm nổi bật những vẻ đẹp của tiếng Việt: vừa bình dị, gần gũi, nên thơ, vừa tinh tế, kì diệu; đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu, ý thức trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp văn hóa quý báu của dân tộc.

Văn bản thể hiện lòng trân trọng, yêu mến, tự hào và biết ơn chân thành của tác giả đối với vẻ đẹp, sự giàu có, phong phú của Tiếng Việt.

Cần đảm bảo về nội dung:

– Hiện trạng sử dụng tiếng Việt của giới trẻ hiện nay:

+ Một bộ phận học sinh còn chưa có ý thức, sử dụng những từ ngữ không phù hợp với thuần phong mĩ tục.

+ Bên cạnh đó sử dụng những từ ngữ lạ, không chuẩn mực, do giới trẻ tư cải biến thành.

+ Lạm dụng việc sử dụng tiếng nước ngoài.

– Từ đó, cần thấy rằng: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là giới trẻ ngày nay:

+ Có ý thức sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn trong nói năng và trong hoạt động viết.

+ Phê phán, bài trừ các hành vi cố tình sử dụng sai tiếng Việt.

Các phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn trích: Miêu tả + Tự sự Nội dung chủ yếu của đoạn trích: cảnh đánh vợ dã man của người đàn ông làng chài.

Đoạn văn trên khiến chúng ta liên tưởng đến hiện tượng bạo lực gia đình trong cuộc sống hiện nay.

– Thực trạng của hiện tượng trên:

+ Hiện tượng trên diễn ra phổ biến, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng có cuộc sống khó khăn.

+ Bạo lực gia đình biểu hiện cả ở phương diện thể xác [đánh đập] và phương diện tinh thần [chửi bới, mắng nhiếc, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm,…]

– Nguyên nhân:

+ Gánh nặng cơm, áo , gạo, tiền tạo ra áp lực tinh thần

+ Nhận thức con người còn hạn chế: tư tưởng trọng nam khinh nữ, người phụ nữ quá cam chịu, không biết phản kháng,…

+ Chưa xử lí nghiêm các trường hợp gây bạo lực trong gia đình.

– Giải pháp giải quyết:

+ Thực hiện nghiêm túc kế hoạch hóa gia đình.

+ Xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

+ Chú trọng giáo dục tư tưởng, nhận thức.

+ Ngăn chặn và xử lí nghiêm các hành vi bạo lực gia đình.

Lưu ý: đoạn văn phải sử dụng ít nhất 2 thao tác lập luận và chỉ rõ đã sử dụng thao tác nào.

 

ĐỀ HÀ HUY TẬP NGHỆ AN LẦN 2

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 3

Chẳng ai muốn làm hành khất

Tội trời đày ở nhân gian

Con không được cười giễu họ

Dù họ hôi hám úa tàn

Nhà mình sát đường, họ đến

Có cho thì có là bao

Con không bao giờ được hỏi

Quê hương họ ở nơi nào.

 (…)

Mình tạm gọi là no ấm

Ai biết cơ trời vần xoay

Lòng tốt gửi vào thiên hạ

Biết đâu nuôi bố sau này.

(Trần Nhuận Minh, Dặn con, Nhà thơ và hoa cỏ, NXB Văn học, 1993)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích?

Câu 2. Hãy tìm trong vốn từ tiếng Việt từ đồng nghĩa với từ hành khất? Theo anh/chị, vì sao tác giả dùng từ hành khất thay vì các từ đồng nghĩa khác?

Câu 3. Anh/chị có suy nghĩ gì về lời dặn con của người bố trong đoạn trích? (trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 4 đến Câu 7

Nhiều người Việt kiếm tiền bằng mọi giá, đánh đổi cả liêm xỉ, danh dự để có tiền. Sự kiếm tiền nào độc ác hơn là kiếm tiền trên sức khỏe và mạng sống đồng bào mình? Trung bình hai giờ đồng hồ có ba mươi người chết vì bệnh ung thư- một con số tàn nhẫn đến rợn người. Bao giờ người Việt mới thôi độc ác với nhau? Đó là câu hỏi trăn trở của không biết bao nhiêu người có lương tâm và dường như đến thời điểm này họ vẫn đang bất lực. Làm thế nào để con người biết yêu thương nhau hơn? Đơn giản vậy thôi nhưng nó quyết định vận mệnh của cả dân tộc, cả thế giới này. Người nông dân chỉ cần thương người tiêu dùng một chút đã không nhẫn tâm tưới thuốc độc lên rau củ quả để đào huyệt chôn đồng bào mình và chôn sống chính mình. Các quan chức chỉ cần bớt lãng phí một chút thôi, sẽ có bao nhiêu bệnh viện được xây và bao nhiêu đứa trẻ được đến trường.

(Lê Bình, trích Tạp chí kinh tế xuân Bính Thân- Phẳng hay không phẳng, VTV1, 12/2/2016)

Câu 4. Đoạn trích trên được trình bày theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 5. Tác giả thể hiện thái độ gì đối với các vấn đề còn tồn tại của xã hội? Thái độ đó được bộc lộ qua những yếu tố ngôn ngữ nào?

Câu 6. Theo tác giả, vấn đề cơ bản nhất cần giải quyết là gì?

Câu 7. Từ góc độ cá nhân, anh/chị hãy trả lời câu hỏi: Bao giờ người Việt mới thôi độc ác với nhau? (trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
2 Từ đồng nghĩa với từ hành khất: ăn xin, ăn mày.

Tác giả dùng từ hành khất vì:

– Tác dụng phối thanh.

– Cách gọi “hành khất” mà không phải “ăn mày” thể hiện thái độ tôn trọng của người cha với những người bị “giời đày” chẳng may phải xin ăn trên phố, đồng thời cũng thể hiện niềm đồng cảm chân thành với nỗi bất hạnh của họ. Qua cách gọi ấy người cha cũng muốn con mình nhận ra nên có thái độ hành xử như thế nào cho đúng với những người cơ cực, khổ nghèo.

3 Thí sinh có thể trình bày nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:

– Những lời dặn thể hiện tinh thần nhân văn: thương yêu con người, tôn trọng con người.

– Những lời dặn đầy sự chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời như: cơ trời vần xoay, lòng tốt, cho và nhận… khiến con người phải suy nghĩ về cách sống.

4 Đoạn trích được trình bày theo phong cách ngôn ngữ Báo chí/Chính luận/ kết hợp hai phong cách ngôn ngữ: Báo chí, Chính luận.
5 Thái độ của tác giả: day dứt, đau đớn, lên án…. Bộc lộ qua các yếu tố ngôn ngữ:

– Câu: nhiều câu hỏi, câu nêu giả thiết…

– Từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm: đánh đổi liêm xỉ, độc ác, tàn nhẫn đến rợn người, nhẫn tâm, chôn sống…

6 Vấn đề cơ bản nhất cần giải quyết: Làm thế nào để con người biết yêu thương nhau hơn?/ Bao giờ người Việt mới thôi độc ác với nhau?
7 Trả lời câu hỏi: Bao giờ người Việt mới thôi độc ác với nhau?

Thí sinh có thể trình bày nhiều cách, sau đây là một phương án:

– Người Việt thôi độc ác với nhau khi không muốn độc ác: mỗi cá nhân tự nâng cao ý thức đạo đức; giáo dục tác động vào nhận thức, vào lương tri của tất cả mọi người.

– Người Việt thôi độc ác với nhau khi không dám độc ác: có những quy định về xử phạt nặng đủ sức răn đe để họ sợ không dám gây tội ác.

– Người Việt thôi độc ác với nhau khi không thể độc ác: các cơ quan chức năng vào cuộc giám sát chặt chẽ mọi khâu để cái ác cái xấu không có cơ hội tồn tại. Người tiêu dùng phải thông thái, dũng cảm để cái ác cái xấu không có đất tồn tại.

 

ĐỀ KHẢO SÁT HÀ NỘI

I/ PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi 1,2,3,4:

Chiều 7 – 4, tại Hà Nội, T.Ư Hội chữ thập đỏ (CTĐ) Việt Nam, cổng thông tin nhân đạo Quốc gia 1400, báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh phối hợp tổng kết chiến dịch nhắn tin nhân đạo 2015 và phát động chiến dịch nhắn tin “nước ngọt và sinh kế cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn”.

Năm 2015, thông qua các đầu số 1405, 1408, 1409, T.Ư Hội CTĐ Việt Nam đã tiếp nhận và giải ngân số tiền gần bốn tỷ đồng cho các công trình xây cầu Mỹ Lợi B, huyện Cái Bè, Tiền Giang, giám định AND, hỗ trợ phẫu thuật tim cho 37 em mắc bệnh tim bẩm sinh, trao quà tết, áo ấm tặng trẻ em và đồng bào nghèo…

Để hỗ trợ đồng bào vùng hạn hán và xâm nhập mặn, T.Ư Hội CTĐ Việt Nam cùng các đối tác phát động nhắn tin từ nay đến hết 5 – 6 – 2016 với cú pháp NC gửi 1407.”

  1. Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)
  2. Ghi lại sự kiện thời sự được đề cập đến trong văn bản trên? (0,25 điểm)
  3. Từ kết quả chiến dịch nhắn tin nhân đạo năm 2015, những hoạt động ý nghĩa xã hội cao đẹp nào đã được thực hiện và được nêu trong văn bản? (0,5 điểm)
  4. Hãy giới thiệu một vài hoạt động nhân đạo đang được tổ chức và hưởng ứng hiện nay. (0,25 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi 5,6,7,8:

Em nghe thầy đọc bao ngày

Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà

Mái chèo nghe vọng sông xa

Êm êm như tiếng của bà năm xưa

Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe đổ cơn mưa giữa trời… …

Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy em lại lặng ngồi em nghe

(Nghe thầy đọc thơ – Trần Đăng Khoa)

  1. Hãy ghi lại 2 hình ảnh thiên nhiên được tác giả sử dụng để miêu tả tiếng thơ thầy đọc? (0,25 điểm)
  2. Cho biết tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong dòng thơ “Mái chèo nghe vọng sông xa/ Êm êm như tiếng của bà năm xưa”? (0,5 điểm)
  3. Đọc đoạn thơ, anh chị hiểu thế nào về tình cảm mà nhà thơ dành cho người thầy của mình? (0,5 điểm)
  4. Ghi lại suy nghĩ (khoảng 5-7 câu văn) của bản thân về những công ơn của thầy cô trong cuộc đời mỗi người? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Văn bản được viết theo phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí.
2 – Sự kiện được đề cập đến trong văn bản là: Cuộc họp tổng kết chiến dịch nhắn tin nhân đạo 2015 và phát động chiến dịch nhắn tin “nước ngọt và sinh kế cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn” do T.Ư Hội chữ thập đỏ (CTĐ) Việt Nam, cổng thông tin nhân đạo Quốc gia 1400, báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức.
3 – Những hoạt động có ý nghĩa xã hội cao đẹp đã được thực hiện và nêu trong văn bản là: xây cầu Mỹ Lợi B – huyện Cái Bè, Tiền Giang; giám định AND, hỗ trợ phẫu thuật tim cho 37 em mắc tim bẩm sinh; trao quà tết, áo ấm tặng trẻ em và đồng bào nghèo.
4 – Các hoạt động nhân đạo đang được tổ chức và hưởng ứng hiện nay:

+ Chương trình “Cơm có thịt” do nhà báo Trần Đăng Tuấn xây dựng.

+ Quyên góp, ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” do Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. …

5 – Các hình ảnh: “đỏ nắng” “xanh cây quanh nhà”.
6 – Phép so sánh trong 2 câu thơ có tác dụng: Miêu tả và làm nổi bật sự êm ái, nhẹ nhàng của “mái chèo”; khiến hình ảnh “mái chèo” càng trở nên gần gũi, thân thuộc.
7 – Đoạn thơ là tiếng nói chan chứa niềm yêu kính, trân trọng, biết ơn, thương nhớ người thầy của nhà thơ bởi thầy là người đã mang đến cho tác giả biết bao điều mới lạ.
8 – Viết một đoạn văn hoàn chỉnh, từ 5 – 7 câu, diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, các câu có sự liên kết chặt chẽ.

– Nội dung:

+ Khẳng định thầy cô là những người có công lao to lớn trong cuộc đời mỗi người: dạy tri thức khoa học, dạy cách làm người, chắp cánh ước mơ,…

+ Cần ghi nhớ, trân trọng, biết ơn công sức của thầy cô và học tập, tu dưỡng, rèn luyện tốt để trở thành những con người có ích cho xã hội, như mong ước của các thầy các cô.

 

ĐỀ HÀM LONG BẮC NINH LẦN 1

Phần 1: Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc hai đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

(Mẹ và quả – Nguyễn Khoa Điềm)

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao.

(Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Câu 1. Nêu hai phương thức biểu đạt nổi bật trong đoạn thơ thứ nhất.

Câu 2. Xác định nghệ thuật tương phản trong từng đoạn thơ trên?

Câu 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép nhân hóa trong câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”?

Câu 4. Những điểm giống nhau về nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ trên là gì? Trả lời trong khoảng 6 – 8 dòng

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức miêu tả và biểu cảm.
2 Đoạn 1: Nghệ thuật tương phản được sử dụng ở hai câu đầu: những đứa con thì “lớn lên” – bí, bầu lại “lớn xuống”. Đoạn 2: Nghệ thuật tương phản được sử dụng ở hai câu sau: lưng mẹ “còng dần xuống” – con “ngày một thêm cao”.
3 Nhân hóa thời gian qua từ “chạy” đã nói lên sự già nua của mẹ theo thời gian; từ đó bộc lộ nỗi xót xa, thương mẹ của người con.
4 Giống nhau về nội dung: Cả hai đoạn thơ đều bày tỏ nỗi xót xa, tình yêu thương, trân trọng, biết ơn của con với những hi sinh, vất vả của mẹ. Giống nhau về nghệ thuật: Đều sử dụng rất thành công nghệ thuật tương phản, nhân hóa; Hình ảnh thơ giàu sức biểu cảm.

 

ĐỀ HÀN THUYÊN BẮC NINH LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man.

Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn…”.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh).

Câu 1: Đoạn văn trên viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0.25đ)

Câu 2: Em hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn? (0.25đ)

Câu 3: Nghệ thuật đặc sắc của đoạn văn trên ? Nêu tác dụng của nghệ thuật ấy? (0.5đ)

Câu 4: Từ nội dung đoạn văn anh chị suy nghĩ về tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta (Viết đoạn văn khoảng 5-7 dòng) (0.5đ)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời từ Câu 5 đến Câu 8:

Làng Quan họ quê tôi

Những ngày bom Mỹ dội

Quán đổ dưới gốc đa

Chín nhịp cầu đứt nối

Pháo lên núi Thiên Thai

Súng trường lên Quán Dốc

Loan phượng vẫn ăn xoài

Vườn xoan đào vẫn mọc

Em tiễn anh lên đường

Đứng bên bờ em hát

Muốn gửi đi theo anh

Cả dòng sông trong mát

Mẹ mang nước lên đồi

Yêu các con mẹ hát

Bao nhiêu máy bay rơi

Sau mái đầu tóc bạc…

Thuyền thúng thuyền thúng ơi

Có ghé về tỉnh Bắc

Nghe tiếng hát quê tôi

Trên tầm bom đạn giặc

(Trích Làng quan họ, Nguyễn Phan Hách, theo Tinh tuyển thơ Việt Nam 1945 – 1975 NXBKH và XH, 1978)

Câu 5: Chỉ ra phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên? (0.25đ)

Câu 6: Nêu nội dung của đoạn thơ? (0.25đ)

Câu 7: Hình ảnh “làng quê” và “con người làng quê” được miêu tả bằng những chi tết nào? Suy nghĩ của anh (chị) về chi tiết đó? (0.5đ)

Câu 8: Cảm nhận của anh (chị) về tiếng hát xuyên suốt ba khổ thơ? (Viết đoạn văn khoảng 5-7 dòng)? (0.5đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn trên viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận.
2 Đặt tiêu đề phù hợp cho đoạn văn: Học sinh có thể đặt nhiều tiêu đề khác nhau phù hợp nội dung.

Ví dụ: Tội ác của thực dân Pháp.

3 * Nghệ thuật của đoạn văn trên:

Điệp từ “chúng”, lặp cú pháp câu bắt đầu bằng từ “chúng”, biện pháp liệt kê. Cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh: tắm, bể máu, dã man, tiêu điều, xơ xác, ngóc….

Cách đưa dẫn chứng chân thực, linh hoạt: Vừa kể vừa luận tội “chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết“. Vừa kể vừa phân tích âm mưu và hậu quả “chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều

* Tác dụng: Nhấn mạnh, tạo sự ám ảnh về tội ác của thực dân Pháp gây ra cho nhân dân ta. Hồ Chí Minh đang vạch trần luận điệu xảo trá của bọn chúng trước dư luận quốc tế. Thực dân Pháp nói có công khai hóa văn minh cho Việt Nam nhưng thực chất là đi xâm lược, đàn áp, bóc lột nhân dân ta.

4 Học sinh trình bày theo suy nghĩ riêng theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí, yêu cầu cách viết đoạn văn chặt chẽ, logic.

Gợi ý: Đó là những tội ác dã man, man rợ, được thực hiện bằng những âm mưu thâm độc. Chúng đã gieo rắc tội ác khắp nơi, bất kể người già, người trẻ, làm suy kiệt đất nước và giống nòi ta. Tội ác đó không thể dung tha.

5 Đoạn thơ viết theo phương thức biểu đạt tự sự, biểu cảm.
6 Hình ảnh làng quê vùng Kinh Bắc và con người trong những năm tháng chiến tranh bị giặc phá huỷ, vượt lên trên tất cả là tinh thần dũng cảm, kiên cường chiến đấu của người dân nơi đây cùng với niềm lạc quan về một ngày thắng lợi.
7 Hình ảnh “làng quê” và “con người làng quê” được miêu tả bằng những chi tết: Quán đổ dưới gốc đa, nhịp cầu đứt nối, pháo lên núi, súng lên Quán Dốc. Đặc biệt hình ảnh cô gái, người mẹ tiễn người con trai của làng ra trận. Những chi tiết đó thể hiện hình ảnh làng quê bị giặc tàn phá, tác giả tái hiện lại hiện thực của chiến tranh, tinh thần chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc.
8 Cảm nhận về tiếng hát xuyên suốt ba khổ thơ: Tiếng hát là đặc trưng của quê hương quan họ, nuôi dưỡng tâm hồn những chàng trai, cô gái miền quan họ. Tiếng hát biểu hiện sự lạc quan, của niềm tin tưởng vào ngày mai chiến thắng.

 

ĐỀ HÀN THUYÊN BẮC NINH LẦN 2

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử.

Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó, thật sự có những đặc sắc của một thứ tiếng khá đẹp. Nhiều người ngoại quốc sang thăm nước ta và có dịp nghe tiếng nói của quần chúng nhân dân ta, đã có thể nhận xét rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc. Họ không hiểu tiếng ta, và đó là một ấn tượng, ấn tượng của người “nghe” và chỉ nghe thôi. Tuy vậy lời bình phẩm của họ có phần chắc không phải chỉ là một lời khen xã giao. Những nhân chứng có đủ thẩm quyền hơn về mặt này cũng không hiếm. Một giáo sĩ nước ngoài (chúng ta biết rằng nhiều nhà truyền giáo Thiên Chúa nước ngoài cũng là người rất thạo tiếng Việt), đã có thể nói đến tiếng Việt như là một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong câu kéo, rất ngon lành trong những câu tục ngữ”.

(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc, trong Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1984).

1/ Chọn ra câu chủ đề của đoạn trích trên? (0,25 điểm)

2/ Đoạn trích trên được viết bằng phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)

3/ Đoạn (2) có những phép liên kết nào? Nêu tác dụng của phép liên kết đó trong việc thể hiện nội dung chủ đạo của đoạn văn? (0,5 điểm)

4/ Trong khoảng 5 – 7 dòng, hãy trình bày suy nghĩ của anh, chị về việc giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt của bộ phận giới trẻ hiện nay. (0,25 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 5 đến Câu 8:

Bần thần hương huệ thơm đêm k

hói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn chân

nhang lấm láp tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

 

Mẹ ta không có yếm đào

nón mê thay nón quai thao đội đầu rối ren

tay bí tay bầu

 váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

 

Cái cò … sung chát đào chua … câu ca

mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn kiếp con

người

cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

(Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2000)

5/ Xác định thể thơ của đoạn trích. Thể thơ ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình. (0,25 điểm)

6/ Hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào qua các câu thơ từ “Mẹ ta không có yếm đào” đến “váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa”? (0,5 điểm)

7/ Theo anh, chị cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ được gợi ý từ đâu? (0,25 điểm)

8/ Trong hai dòng thơ “ta đi trọn kiếp con người/ cũng không đi hết mấy lời mẹ ru…” nhà thơ đã triết lí về điều gì? Anh, chị có đồng tình với triết lí đó không? Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng. (0,5 điểm)

Câu Ý Nội dung
I 1 Câu chủ đề là câu 1 : Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
2 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận. Đoạn trích đã đưa ra những biểu hiện cụ thể và sinh động để chứng tỏ vẻ đẹp của tiếng Việt. Điều này thể hiện rõ đặc điểm của phép lập luận trong văn nghị luận.
3 Các phép liên kết được sử dụng trong đoạn 2 là:

– Phép liên tưởng: sử dụng trường từ vựng về ngôn ngữ như “tiếng Việt”, “tiếng nói”, “tiếng ta”, “nghe”, “câu kéo”, “tục ngữ”

– Phép nối: tuy vậy, lại, do đó,…

Giá trị của các phép liên kết là: liên kết các câu trong đoạn văn khi hướng về một chủ đề duy nhất là làm sáng tỏ vẻ đẹp và cái hay của tiếng Việt, góp phần làm tăng tính thuyết phục cho lập luận của đoạn văn.

4 Gợi ý:

– Phần lớn giới trẻ hiện nay luôn có ý thức dùng tiếng mẹ đẻ đúng cách, luôn có ý thức giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt.

– Tuy vậy, một bộ phận không có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt biểu hiện qua các sử dụng những từ ngữ, kí tự lạ chưa được chính thức đưa vào sử dụng trong tiếng mẹ đẻ.

– Là một người con của đất Việt, cần phải biết sử dụng tiếng mẹ đẻ sao cho đúng, cho hay.

5 Đoạn thơ viết theo thể lục bát. Thể thơ lục bát với nhịp trầm buồn đã giúp nhân vật trữ tình bộc lộ tâm tư, tình cảm một cách tự nhiên, chân thành, sâu lắng, tạo nên giọng điệu tha thiết cho đoạn thơ.
6 Các hình ảnh “không có yếm đào”, “nón mê thay nón quai thao đội đầu”, “Rối ren tay bí tay bầu” “váy nhuộm bùn” “áo nhuộm nâu bốn mùa” đã khắc họa chân dung người mẹ một đời nghèo khó, lam lũ, vất vả, nhọc nhằn, cơ cực.
7 Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ được gợi lên từ những câu ca dân gian.
8 Ở hai câu cuối đoạn, nhà thơ đã nêu lên triết lí về tình mẹ: Tình mẹ thật bao la, sâu sắc. Tình yêu ấy gửi trong những câu ca của mẹ với những bài học làm người. Trải qua trọn kiếp con người chúng ta cũng không sao thấu hiểu hết tấm lòng bao la ấy. (Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục). Quan niệm của tác giả thật đúng đắn và sâu sắc. Qua đó, bộc lộ tình yêu, niềm kính trọng, biết ơn mẹ sâu sắc của nhà thơ.

 

ĐỀ HẬU LỘC THANH HÓA LẦN 1

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Vị vua và những bông hoa

Một ông vua nọ rất có tài chăm sóc những cây hoa và ông đang muốn tìm một người kế vị mình. Ông quyết định để những bông hoa quyết định, vì thế ông đưa cho tất cả mọi người mỗi người một hạt giống. Người nào trồng được những bông hoa đẹp nhất từ hạt giống này sẽ được lên ngôi.

Một cô gái tên là Serena cũng muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh để trồng được bông hoa đẹp nhất. Cô gieo hạt giống trong một cái chậu rất đẹp, chăm sóc nó rất kỹ càng, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy hạt giống nảy mầm.

Năm sau, cô thấy mọi người tụ tập tại cung điện với những chậu hoa rất đẹp.

Serena rất thất vọng, nhưng vẫn tới cuộc tụ họp với chậu hoa trống rỗng. Nhà vua kiểm tra tất cả chậu hoa, rồi dừng lại ở chậu hoa của Serena. Ngài hỏi “tại sao chậu hoa của cô không có gì?” “Thưa điện hạ, tôi đã làm mọi thứ để nó lớn lên nhưng tôi đã thất bại” – cô gái trả lời.

“Không, cô không thất bại. Những hạt giống mà ta đưa cho mọi người đều đã được nướng chín, vì thế chúng không thể nảy mầm. Ta không biết tất cả những bông hoa đẹp này ở đâu ra. Cô đã rất trung thực, vì thế cô xứng đáng có được vương miện. Cô sẽ là nữ hoàng của vương quốc này”

(Dẫn theo Quà tặng cuộc sống)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? (0,25 điểm)

Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản trên. (0,5 điểm)

Câu 3. Hãy giải thích vì sao cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng ? (0,25 điểm)

Câu 4. Anh/chị hãy rút ra bài học cho bản thân khi đọc xong câu chuyện trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc bài thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Thuyền và biển

Em sẽ kể anh nghe

Chuyện con thuyền và biển:

“Từ ngày nào chẳng biết

Thuyền nghe lời biển khơi

Cánh hải âu, sóng biếc

Ðưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng

Và tình biển bao la

Thuyền đi hoài không mỏi

Biển vẫn xa… còn xa

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Thì thầm gửi tâm tư

Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cớ

Biển ồ ạt xô thuyền

(Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên?)

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió

” Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố.

(Dẫn theo Thơ Xuân Quỳnh, NXB Giáo Dục, 2014)

Câu 5. Bài thơ trên viết về đề tài gì? Viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 6. Hãy nêu nội dung chính của bài thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 7. Trong bài thơ trên, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nào qua hai hình ảnh thuyền, biển? (0,25 điểm)

Câu 8. Hãy nhận xét quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh trong bài thơ trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
2 Nội dung: Nội dung chính của văn bản : Kể về việc một vị vua muốn lựa chọn người kế vị bằng cách thử lòng trung thực của mọi người từ những hạt giống hoa đã được nướng chín và chỉ có duy nhất cô gái tên Serena là người chiến thắng nhờ lòng trung thực của mình. Câu chuyện đưa tới thông điệp: tính trung tực sẽ đem lại cho chúng ta những món quà bất ngờ.
3 Cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng vì cô đã rất trung thực khi trồng đúng hạt giống hoa mà nhà vua ban. Cô không tìm mọi cách để có chậu hoa đẹp như người khác mà chỉ chăm sóc hạt giống nhà vua đã ban.
4 Bài học của bản thân: Con người cần phải sống trung thực, có lòng tin vào sự trung thực của bản thân. Khi có lòng trung thực con người sẽ gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống.
5 Bài thơ viết về đề tài tình yêu đôi lứa, thể thơ năm chữ.
6 Nội dung chính: Từ câu chuyện mang tính ẩn dụ về “thuyền và biển”, nhà thơ đã diễn tả tình yêu của “anh” và “em” với những cung bậc: thấu hiểu, đồng cảm, nhớ nhung và khát khao gặp gỡ, qua đó thể hiện quan niệm về tình yêu của mình.
7 Thuyền, biển là hai hình ảnh ẩn dụ. Thuyền – người con trai, biển – người con gái.
8 Quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Tình yêu luôn là sự đồng cảm, thấu hiểu của hai người ở mức độ sâu sắc; luôn hướng về nhau với nỗi nhớ nhung da diết. Nhận xét về quan niệm đó: đúng hay sai, đẹp hay không đẹp, phù hợp hay không phù hợp với tình yêu đôi lứa…. (Câu trả lời phải hợp lí, có tính thuyết phục cao).

 

ĐỀ HỒNG LĨNH LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy anh giặc hoảng hốt xin hàng

Có thằng sụp dưới chân anh tránh đạn

Bởi anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

3 – 1968

(Trích Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân, Thơ người lính, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1997, tr.431)

Câu 1. Đoạn thơ trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2. Ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên có đặc điểm gì?

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng.

Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với sự hy sinh của người chiến sĩ Giải phóng quân? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc gian nan không ai làm nổi, cũng là nhờ cái gan mạo hiểm, ở đời không biết cái khó là cái gì. […]

Còn những kẻ ru rú như gián ngày, làm việc gì cũng chờ trời đợi số, chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu giàu bền, còn việc nước việc đời không quan hệ gì đến mình cả. Như thế gọi là sống thừa, còn mong có ngày vùng vẫy trong trường cạnh tranh này thế nào được nữa. […]

Vậy học trò ngày nay phải biết xông pha, phải biết nhẫn nhục; mưa nắng cũng không lấy làm nhọc nhằn, đói rét cũng không lấy làm khổ sở. Phải biết rằng: hay ăn miếng ngon, hay mặc của tốt, hễ ra khỏi nhà thì nhảy lên cái xe, hễ ngồi quá giờ thì đã kêu chóng mặt,… ấy là những cách làm mình yếu đuối nhút nhát, mất hẳn cái tinh thần mạo hiểm của mình đi.

(Trích Mạo hiểm – Nguyễn Bá Học, Quốc văn trích diễm, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2005)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 6. Theo tác giả, nhờ đâu mà “xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc gian nan không ai làm nổi” ?

Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì đối với “những kẻ ru rú như gián ngày, làm việc gì cũng chờ trời đợi số, chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự…”?

Câu 8. Anh /Chị suy nghĩ gì về câu văn: Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông? (Trình bày trong khoảng 5 đến 7 dòng)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ trên thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
2 Ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên có đặc điểm: Tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể.

– Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ là so sánh.

3 – Hiệu quả: làm nổi bật tư thế hiên ngang của người chiến sĩ mặc dù đã hy sinh; thể hiện thái độ ngưỡng mộ, khâm phục đối với người chiến sĩ.
4 Bày tỏ được tình cảm chân thành, sâu sắc đối với sự hy sinh của người chiến sĩ (Cảm phục, thấu hiểu, biết ơn,…)
5 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
6 Theo tác giả “ xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc gian nan không ai làm nổi” là nhờ “cái gan mạo hiểm, ở đời không biết cái khó là gì”
7 Tác giả thể hiện thái độ phê phán, lo ngại, trăn trở đối với “những kẻ ru rú như gián ngày, làm việc gì cũng chờ trời đợi số…”
8 Thể hiện được suy nghĩ sâu sắc về câu văn: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”

+ Câu nói trên đã đưa một bài học, một triết lí đúng đắn, sâu sắc: Trên con đường đến với những thành công, nhiều khi sẽ gặp khó khăn, trở ngại, nhưng nếu có bản lĩnh và quyết tâm thì vẫn tới đích. Những khó khăn trở ngại không đáng sợ bằng sự ngại khó, ngại khổ, thiếu ý chí, thiếu nghị lực của con người.

+ Qua khó khăn, thử thách con người sẽ trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn.

 

ĐỀ HỢP THÀNH HÀ NỘI

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Đừng nói cuộc đời mình tẻ nhạt Nhé em!

Hạnh phúc ở trong những điều giản dị Trong

ngày

Trong đêm

Đừng than phiền cuộc sống, nhé em! Hạnh

phúc ngay cả khi em khóc

Bởi trái tim biết buồn là trái tim biết vui Hạnh

phúc bình thường và giản dị lắm Em ơi!

Là tiếng xe về mỗi chiều của bố

Cả nhà quây quần trong căn phòng nhỏ Chị xới

cơm đầy bắt phải ăn no

Hạnh phúc là đem về không có tiếng mẹ ho Là ngọn

đèn khuya soi tương lai em sáng Là điểm mười đỏ tươi

mỗi khi lên bảng

Là ánh mắt một người như lạ… như quen… Hạnh phúc

là khi mình có một cái tên

Vậy đừng nói cuộc đời tẻ nhạt Nhé em!

Tuổi mười tám còn khờ khạo lắm

Đừng cố vẽ tô một chân trời xa toàn màu hồng thắm Hạnh phúc

vẹn nguyên giữa cuộc đời thường.

(Trích Hạnh phúc –Tác giả Thanh Huyền, nguồn internet)

Câu 1: Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 2: Theo tác giả, hạnh phúc bình thường và giản dị là những gì? (0,5 điểm)

Câu 3: Hình ảnh một chân trời xa toàn màu hồng thắm diễn tả điều gì ? (0,25 điểm)

Câu 4:Anh/ chị có suy nghĩ như thế nào về lời nhắn nhủ của tác giả: Đùng nói cuộc đời mình tẻ nhạt nhé em!Đừng than phiền cuộc sống, nhé em! (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng) (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

 “Xã hội là do các nhóm người, các cá nhân họp lại mà thành. Các nhóm người và cá nhân khác nhau đủ thứ. Trong gia đình, muốn yên ấm, con cái nhẫn nhịn mẹ cha, anh em nhẫn nhịn nhau, chị dâu nhẫn nhịn em chồng… tự nhiên có được gia đình đoàn tụ. Trong xã hội, muốn duy trì xã hội con người thường nhẫn nhịn, tự kiềm chế. Nhẫn nhịn là chất keo kết dính mọi người, làm nảy sinh các phẩm chất tốt đẹp như lòng vị tha, đức hi sinh, tình chung thủy, ý thức chuộng tin nghĩa. Bất kì lúc nào người khác làm tổn thương mình, nhẫn nhịn là cách giải quyết tốt đẹp nhất. Người xưa nói: “Nhịn nhất thời gió yên sóng lặng. Lùi một bước trời biển mênh mông”. Người nông nổi không biết kiềm chế, thường đẩy các quan hệ vào ngõ cụt , tạo thành những kết cục xấu. Quan hệ người và người vốn rất mong manh. Một lời nói sơ suất , một cái nhìn chế nhạo nỗi đau người khác, một lần phản bội, đều vô tình phá vỡ quan hệ và thai nghén các mâu thuẫn, xung đột. Kẻ xúc phạm người khác là kẻ yếu và trước sau sẽ bị cô lập”.

(Trích Nhẫn nhịn – phẩm chất của kẻ mạnh, Mạnh Chiêu Quân, Sách giáo khoa Ngữ văn 11, nâng cao, tập 2, NXB Giáo dục, 2007, trang 154-155)

Câu 5: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên. (0,25 điểm)

Câu 6: Theo tác giả, nhẫn nhịn có tác dụng gì? (0,25 điểm)

Câu 7: Thao tác lập luận chính nào được sử dụng trong đoạn trích? Nêu tác dụng của thao tác lập luận đó. (0,5 điểm)

Câu 8: Đoạn trích đã gợi ý cho anh/ chị suy nghĩ như thế nào về hậu quả của việc không biết kiềm chế? (trình bày trong khoảng từ 5 đến 7 dòng) (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do
2 Hạnh phúc bình thường và giản dị là :

-Tiếng xe về mỗi chiều của bố

– Cả nhà quây quần trong căn phòng nhỏ

– Chị xới cơm đầy bắt phải ăn no

– Đêm về không có tiếng mẹ ho

– Ngọn đèn khuya soi tương lai em sáng

– Điểm mười đỏ tươi mỗi khi lên bảng

– Ánh mắt một người như lạ, như quen

– Khi mình có một cái tên

3 Hình ảnh “một chân trời xa toàn màu hồng thắm” diễn tả tương lai tươi sáng, rộng mở với những điều tốt đẹp ở phía trước.
4 – Cuộc đời vui vẻ hay khổ đau, tẻ nhạt hay nhiều màu sắc phụ thuộc vào cách suy nghĩ, cảm nhận của mỗi người. Mỗi cuộc đời đều có những thi vị, hạnh phúc riêng. Chỉ cần ta luôn biết lắng nghe, cảm nhận bằng cả trái tim thì ta sẽ không thấy cuộc đời bình thường, tẻ nhạt.

– Than phiền không giúp ích gì trong việc giải quyết những khó khăn của cuộc sống. chỉ bằng cách bình tâm đối diện với nó, cố gắng để vượt qua và có một cái nhìn tích cực thì cuộc sống sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

– Em đang tuổi mười tám, em sẽ trân trọng cuộc sống của mình và vững vàng để sống một cuộc đời có ý nghĩa.

5 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn là phương thức nghị luận
6 Nhẫn nhịn có tác dụng làm nảy sinh các phẩm chất tốt đẹp như lòng vị tha, đức hi sinh, tình chung thủy, ý thức chuộng tin nghĩa.
7 – Thao tác lập luận chính được sử dụng là thao tác lập luận phân tích.

– Tác dụng: chỉ ra cho người đọc những biểu hiện cụ thể của nhẫn nhịn trong các môi trường khác nhau; ý nghĩa, tác dụng của tính nhẫn nhịn và cho thấy cả hậu quả của việc không biết kiềm chế. Từ đó, tác động sâu sắc vào nhận thức, tính cách của con người để ho biết nhẫn nhịn hơn.

8 – Hậu quả của việc không biết kiềm chế là rất lớn. Nó đẩy các mối quan hệ đi vào ngõ cụt, tạo thành những kết cục xấu. Bởi không biết kiềm chế làm bản thân mình bực bội, có thể có những lời nói và hành động sai lầm, dẫn đến hoảng cách giữa người với người càng xa, mất đi những người bạn, người thân; mất đi nhiều cơ hội tốt trong cuộc đời.

 

ĐỀ HƯNG NHÂN THÁI BÌNH

Phần I. Đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Cảm ơn là một trong các biểu hiện của ứng xủa có văn hóa. Ở ta, từ cảm ơn được nghe rất nhiều trong các cuộc họp, cảm ơn sự có mặt của quý đại biểu, cảm ơn sự chú ý của mọi người… Nhưng đó chỉ là những lời nói khô cứng ít cảm xúc. Chỉ có lời cảm ơn chân thành, xuất phát từ đáy lòng , từ sự tôn trọng nhau bất kể trên dưới mới thực sự là điều cần có cho một xã hội văn minh . Người ta có thể cảm ơn vì những chuyện rất nhỏ như được nhường vào cửa trước, được chỉ đường khi hỏi… Ấy là chưa kể đến những chuyện lớn lao như cảm ơn người đã cứu mình, nhười đã giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn… Những lúc đó, lời cảm ơn còn có ý nghĩ là đội ơn.

Còn một từ nữa cũng thông dụng không kém những xứ sở văn minh là “xin lỗi”. Ở những nơi công cộng, người ta hết sức tránh chen lấn, va chạm nhau. Nếu có ai đó vô ý khẽ chạm vào người khác , lập tức từ xin lỗi được bật ra một cách hết sức tự nhiên. Từ xin lỗi còn được dùng ngay cả khi không có lỗi. Xin lỗi khi xin phép nhường đường, xin lỗi trước khi dừng ai đó lại hỏi đường hay nhờ bấm hộ một kiểu ảnh. Tóm lại, khi biết mình có thể làm phiền đến người khác dù rất nhỏ, người ta cũng đều xin lỗi. Hiển nhiên, xin lỗi còn được thốt ra trong những lúc người nói cảm thấy mình thực sự có lỗi. từ xin lỗi ở đây đi kèm với một tâm trạng hối lỗi , mong được tha thứ hơn là một cử chỉ văn minh thông thường. Đôi khi, lời xin lỗi được nói ra đúng nơi, đúng lúc còn có thể xóa bỏ hết bao mặc cảm , thù hận, đau khổ,…Người có lỗi mà không biết nhận lỗi là có lỗi lớn nhất. Xem ra sức mạnh của từ xin lỗi còn lớn hơn cảm ơn.

Nếu toa thuốc cảm ơn có thể trị bệnh khiếm nhã, vô ơn, ích kỷ thì toa thuốc xin lỗi có thể được bệnh tự cao tự đại, coi thường người khác. Vì thế, hãy để cảm ơn và xin lỗi trở thành hai từ thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta.

Câu 1: Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 2: Vấn đề chính được bàn đến trong đoạn trích trên? (0,25 điểm)

Câu 3: Hãy giải thích vì sao tác giả cho rằng: “toa thuốc xin lỗi có thể được bệnh tự cao tự đại, coi thường người khác” (0,5 điểm)

Câu 4: Anh/ chị hãy nêu ít nhất 02 ý của việc cảm ơn vá xin lỗi theo quan điểm riêng của mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

(1)              Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi

(2)              Trọn đời nắm đất trắng chân đồi

(3)              Sống trong cát, chết vùi trong cát

(4)              Những trái tim như ngọc, sáng ngời!

(5)              Đốt nén hương thơm, mắt dạ Người

(6)              Hãy về vui chút mẹ Tơm ơi!

                   Nắng tươi xám ngói, tường vôi mới

                   Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi…

Câu 5: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

Câu 6: Xác định biện pháp tu từ được tác giả chỉ trong hai câu thơ: “Sống trong cát, chết vùi trong cát – Những trái tim như ngọc, sáng ngời!” (0,25 điểm)

Câu 7: Nêu nội dung chính của đoạn thơ (1). (0,5 điểm)

Câu 8: Anh/ chị hãy nhận xét cảm xúc của tác giả trong đoạn (2). Trả lời trong khoảng 5-7 dòng). (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Trong đoạn trích trên tác giả chủ yếu sử dụng thao tác: nghị luận.
2 Vấn đề chính được nói đến là: Văn hóa “xin lỗi” và “cảm ơn” – ý nghĩa, tầm quan trọng của nó.
3 Vì khi nói lời xin lỗi tức là thừa nhận mình có lỗi, thừa nhận những khuyết điểm, yếu kém của bản thân và phải hạ cái “tôi”, lòng tự trọng của bản thân xuống để cúi đầu nhận lỗi.
4 – Ý nghĩa của lời cảm ơn:

+ Thể hiện sự trân trọng, yêu mến những điều tốt đẹp mà người khác đã dành cho mình.

+ Là lời động viên, khích lệ cho những hành động tốt được tiếp tục nhân lên.

– Ý nghĩa của lời xin lỗi:

+ Giúp giải tỏa những khúc mắc, làm dịu đi những cơn nóng giận

+ Làm con người cũng nhờ đó mà sống vị tha hơn.

5 Phương thức biểu đạt chính là : biểu cảm.
6 Biện pháp tu từ : hoán dụ ” trái tim” -> chỉ mẹ Tơm, so sánh “như ngọc sáng ngời” -> ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của mẹ.
7 Nội dung chính của đoạn 1: Nhà thơ ngợi ca sự hi sinh vĩ đại của mẹ Tơm – người mẹ đã nuôi giấu cán bộ cách mạng, người mẹ hiền từ, nhân hậu, dũng cảm, hết lòng vì cách mạng.
8 – Cảm xúc thương tiếc,xót xa trước sự ra đi của mẹ Tơm.

– Cảm xúc tự hào về những gì đang có của đất nước, thành quả của sự hi sinh,cống hiến của người mẹ Việt Nam anh hùng đã được đền đáp xứng đáng.

 

ĐỀ SỞ GIÁO DỤC HƯNG YÊN

I/ PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4

Cả đời ra bể vào ngòi

Mẹ như cây lá giữa trời gió rung

Cả đời buộc bụng thắt lưng

Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng

Đường đời còn rộng thênh thang

Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời

 Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười

Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương

Bát cơm và nắng chan sương

Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau

Mẹ ra với gió chân cầu

Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi…

 (Trích Trở về với mẹ ta thôi Đồng Đức Bốn)

Câu 1: Nỗi vất vả, nhọc nhằn của người mẹ được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 2: Tìm câu thành ngữ được sử dụng trong câu thơ Cả đời buộc bụng thắt lưng.

Câu 3: Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng.

Câu 4: Đoạn thơ gợi cho anh/chị cảm xúc, suy nghĩ gì về mẹ? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8

Theo nghị định của các chuyên gia đầu ngành về ung thư, hiện nay tỉ lệ người mắc mới và tử vong do bệnh ung thư ngày càng da tăng. Trong đó, nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này chủ yếu là do hút thuốc lá, nghiện rượu bia và chế độ dinh dưỡng.

Trong số các nguyên nhân trên, nguyên nhân về chế độ dinh dưỡng đang là vấn đề nhức nhối và được nhiều người quan tâm nhất hiện nay. Nếu như đối với thuốc lá vả rượi bia thì những tác hại là dễ dàng nhìn thấy trước mắt và có thể từ bỏ được, thì đối với chế độ dinh dưỡng lại hoàn toàn người lại.

 Chế độ dinh dưỡng được bàn đến là tác nhân gây bệnh ung thư, đó chính là sự mất an toàn vệ sinh thực phẩm với những loại thực phẩm được bảo quản bằng các chất kích thích, thuốc tăng trọng, vượt quá hàm lượng quy định hay chế độ ăn uống không hợp lí với nhiều chất béo, ăn nhiều đồ chiên rán…

(Trích Chuyên gia giật mình vì thực phẩm bẩn gây ung thư, http://vietbao, 16/12/2015)

Câu 5. Đoạn trích sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu?

Câu 6. Theo tác giả, những nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh ung thư là gì?

Câu 7. Theo tác giả, thế nào thì được coi là mất an toàn thực phẩm? Anh/chị hãy lấy ít nhất hai dẫn chứng về thực phẩm không an toàn trên thị trường mà anh/chị biết.

Câu 8. Theo anh/chị, làm thế nào để ngăn chặn tình trạng mất an toàn thực phẩm? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Nỗi vất vả , nhọc nhằn của người mẹ thể hiện qua các từ ngữ, hình ảnh: cả đời ra bể vào ngòi, Mẹ như cây lá giữa trời gió rung, Cả đời buộc bụng thắt lưng, tóc mẹ đã bạc sang trắng trời, đau vẫn giữ, Bát cơm và nắng chan sương.
2 Câu thành ngữ được sử dụng : Thắt lưng buộc bụng.
3 Biện pháp tu từ được sử dụng là biện pháp so sánh, diễn tả sự lam lũ vất vả nhọc nhằn, lam lũ, chịu thương chịu khó chắt chiu của người mẹ để dành cho con những gì tốt đẹp nhất.
4 Viết đoạn văn ( 5-7 dòng ) nêu suy nghĩ về mẹ :

– Mẹ là người phụ nữ tần tảo, chịu thương chịu khó hết lòng vì con.

– Tình yêu thương mẹ dành cho con là vô bờ bến và vô điều kiện.

– Mỗi người làm con phải biết ơn, trân trọng những hi sinh, yêu thương mà mẹ đã dành cho mình. Hơn thế, cần cố gắng trở thành một người tử tế, một người có ích cho xã hội để báo hiếu mẹ, đừng để mẹ buồn đau.

5 Đoạn trích trên sử dụng thao tác lập luận chủ yếu: phân tích.
6 Theo tác giả, nguyên nhân chủ yếu gây ung thư : hút thuốc lá, nghiện rượu bia, chế độ dinh dưỡng.
7 Theo tác giả, mất an toàn thực phẩm là những sản phẩm được bảo quản bằng các chất kích thích, thuốc tăng trọng, vượt qua hàm lượng quy định, hay chế độ ăn uống không hợp lí với nhiều chất béo, ăn nhiều đồ chiên rán…

Ví dụ:

– Rau xanh trên thị trường bị phun nhiều chất hóa học.

– Thịt lợn bị tiêm chất kích thích cho lợn tăng trưởng nhanh.

8 Để ngăn chặn tình trạng mất an toàn thực phẩm cần:

– Nâng cao ý thức của người sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt để nói không với các chất gây hại cho sức khỏe con người.

– Với người sử dụng cần sử dụng sản phẩm rõ nguồn gốc, không ham của rẻ, đồ dùng không rõ xuất xứ; giảm chất béo, giảm ăn đồ chiên rán.

– Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân có vai trò trong việc kiểm định chất lượng sản phẩm tiêu dùng, đồ ăn.

– Có biện pháp phù hợp, chế tài xử phạt nghiêm khắc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm luật an toàn vệ sinh thực phẩm.

 

ĐỀ KIM THÀNH HẢI DƯƠNG LẦN 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi

Mái tóc em đây, hay là mây là suối

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

Thịt da em hay là sắt là đồng?

 

Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt

Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt

Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh

Trên mình em đau đớn cả thân cành

 

Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi, em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!

 

Ôi trái tim em trái tim vĩ đại

Còn một giọt máu tươi còn đập mãi

Không phải cho em. Cho lẽ phải trên đời

Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!

(Trích Người con gái Việt Nam – Tố Hữu)

Câu 1 (0,25 điểm): Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 (0,75 điểm): Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!

Câu 3 (0,25 điểm): Trong đoạn thơ trên, Tố Hữu đã viết về người con gái anh hùng nào trong lịch sử dân tộc?

Câu 4 (0,25 điểm): Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 5 đến Câu 8:

Những tiêu chí mà học sinh THPT ưu tiên khi chọn nghề gồm: Thứ nhất, nghề mà các em thích thú với nó. Thứ hai, nghề mà các em có được nhiều thông tin và hiểu biết về nó. Thứ ba, nghề dễ kiếm việc làm sau khi học xong và nghề dễ kiếm tiền. Căn cứ theo kết quả trên, có thể nhận thấy những tín hiệu tích cực trong nhận thức của học sinh về việc chọn nghề, đó là sẽ chọn những nghề mà các em thích thú với nó và những nghề mình có nhiều thông tin, hiểu biết về nó. Những thông tin về nghề mà các em mong muốn có được để hiểu hơn về loại nghề đó bao gồm: Nghề đó đòi hỏi cá nhân phải có những năng lực, khả năng gì, môi trường làm việc ra sao, những cơ hội và thách thức với nghề ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai… Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là các em học sinh chỉ mới chọn nghề theo những tiêu chí khá chủ quan (hứng thú cá nhân và hiểu biết về nghề); trong khi đó, một yếu tố khác quan trọng hơn là chọn nghề theo những dự báo về loại hình nghề nghiệp mà xã hội đang cần hoặc đang thiếu trầm trọng thì các em không chú ý đến. Đây chính là nguyên nhân khiến hàng trăm ngàn học sinh đổ xô vào những ngành đang trong tình trạng “cung cao hơn cầu” như: Công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh… mà không biết rằng, một con số cũng tương tự là hàng năm, hàng trăm ngàn sinh viên của các ngành này khi ra trường đang chịu cảnh thất nghiệp hoặc làm trái nghề. Trong khi đó, xã hội đang thiếu hụt trầm trọng đội ngũ nhân lực hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật hoặc những ngành nghề ít nhàn hạ như: Cầu đường, cấp thoát nước… thì những ngành này lại không được quan tâm đón nhận khiến lượng “cung” luôn luôn thấp hơn lượng “cầu”.

(Theo “Khuynh hướng chọn nghề của học sinh” – Báo Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh)

Câu 5 (0,25 điểm): Đoạn văn trên được viết thoe phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 6 (0,25 điểm): Xác định thao tác lập luận chính trong đoạn văn?

Câu 7 (0,5 điểm): Đoạn văn đã phản ánh hiện tượng nào trong xã hội?

Câu 8 (0,5 điểm): Là một học sinh sắp tham gia kì thi THPT Quốc gia, anh/chị có suy nghĩ gì về việc chọn nghề của mình trong tương lai? (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ viết theo thể tự do.
2 Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng ở câu thơ thứ nhất đã kể ra những hình thức tra tấn dã man, tàn bạo của bọn Mĩ – Diệm với những chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Song “Không giết được em, người con gái anh hùng!” – nó cũng càng làm nổi bật vẻ đẹp kiên cường, dũng cảm của người con gái Việt Nam
3 Trong đoạn thơ trên, Tố Hữu đã viết về chị Nguyễn Thị Lý
4 Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm.
5 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
6 Thao tác lập luận phân tích.
7 Đoạn văn phản ánh tình trạng chọn nghề theo chủ quan của học sinh THPT hiện nay đã dẫn đến sự mất cân đối giữa các ngành nghề
8 Suy nghĩ về việc chọn nghề trong tương lai:

– Đây là việc quan trọng, cần có sự cân nhắc, lựa chọn kĩ càng.

– Nên lựa chọn nghề dựa trên các tiêu chí:

+ Đam mê, sở thích của bản thân

+ Năng lực của bản thân

+ Nhu cầu của xã hội

– Lựa chọn nghề phù hợp sẽ giúp phát huy tối đa năng lực của bản thân để vươn tới thành công.

 

ĐỀ KINH MÔN HẢI DƯƠNG LẦN 1

PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Biết khao khát những điều anh mơ ước

Biết xúc động qua nhiều nhận thức

Biết yêu anh và biết được anh yêu

Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh.

(Trích Tự hát – Xuân Quỳnh)

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật trong đoạn thơ.

Câu 3. Nêu ý nghĩa của câu thơ: Biết khao khát những điều anh mơ ước.

Câu 4: Trong khổ thơ thứ nhất, những từ ngữ nào nêu lên những trạng thái cảm xúc, tình cảm của nhân vật “em”?

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 5 đến Câu 8:

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ ở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó. (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)

Câu 5. Đoạn văn trê thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 6. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là gì?

Câu 7. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện thái độ như thế nào khi nói về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của đất nước ta?

Câu 8. Viết đoạn văn (khoảng 7 dòng) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng yêu nước của giới trẻ hiện nay.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ tự do.
2 Biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật trong đoạn thơ: biện pháp ẩn dụ.
3 Ý nghĩa của câu thơ: “Biết khao khát những điều anh mơ ước”: xuất phát từ tình yêu và sự tôn trọng đối với người mình yêu, nhân vật “em” đồng cảm và sống hết mình với ước mơ của người mình yêu.
4 Những từ ngữ nêu lên những trạng thái cảm xúc, tình cảm của nhân vật “em” trong khổ thơ thứ nhất: khao khát, xúc động, yêu.
5 Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận.
6 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là phương thức nghị luận.
7 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện thái độ khảng khái, kiên quyết khi nói về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của đất nước ta.
8 Suy nghĩ về lòng yêu nước của giới trẻ hiện nay:

– Lòng yêu nước của giới trẻ hiện nay được thể hiện bằng nhiều hình thức: hăng say lao động, học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước giàu mạnh; đạt nhiều thành tích cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế; có nhiều sáng tạo, phát minh đóng góp trong nhiều lĩnh vực… Khi Tổ quốc cần, họ cũng sẵn sàng lên đường, chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc.

– Bên cạnh đó vẫn còn 1 bộ phận giới trẻ nhận thức lệch lạc, không ý thức được trách nhiệm của mình với non sông, đất nước: sống không có mục đích, lí tưởng, sa ngã vào các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước…

 

ĐỀ THPT KRÔNG – ANA

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4

Bao giờ cho tới mùa thu trái hồng

trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ

cho tới tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm… bờ ao đom

đóm chập chờn

 trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời

sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn bà ru mẹ

… mẹ ru con liệu mai sau các con còn nhớ chăng

 (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Thơ Nguyễn Duy)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0.25đ)

Câu 2. Xác định hai biện pháp tu từ được sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên (0.5đ)

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên(0.5đ)

Câu 4. Anh /chị hãy nhận xét quan niệm của nhà thơ trong hai dòng thơ: “Mẹ ru cái lẽ ở đời…sữa nuôi phần hồn” [trả lời trong khoảng 7-10 dòng] (0.25đ)

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ câu 5- câu 8

“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

Câu 5. Đoạn văn trên thuộc văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai? Viết trong thời gian nào? (0,25 điểm)

Câu 6. Đoạn văn nói về vấn đề gì? Cách diễn đạt của tác giả có gì đặc sắc? (0,5 điểm)

Câu 7. Anh (chị) hiểu như thế nào về “b rộng” “b sâu” mà tác giả nói đến ở đây? (0,25 điểm)

Câu 8. Nội dung của đoạn văn giúp gì cho anh (chị) trong việc đọc – hiểu các bài thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.
2 Hai biện pháp tu từ: lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ bao giờ cho tới…), nhân hóa

(trong câu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm).

3 Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời ấu thơ bên mẹ với những náo nức, khát khao và niềm vui bé nhỏ, giản dị; đồng thời, cho thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ và nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy.
4 Nêu quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Lời ru của mẹ chứa đựng những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm, bài học về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời; sữa mẹ nuôi dưỡng thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đó là ơn nghĩa, là tình cảm, là công lao to lớn của mẹ.

Quan điểm của tác giả thật đúng đắn và sâu sắc.

5 Đoạn văn đựợc trích từ bài Một thời đại trong thi ca, là bài tổng luận cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, được viết năm 1942.
6 Đoạn văn đề cập đến cái tôi cá nhân – một nhân tố quan trọng trong tư tưởng và nội dung của thơ mới (1932 – 1945), đồng thời, nêu ngắn gọn những biểu hiện của cái tôi cá nhân ở một số nhà thơ tiêu biểu. Bề rộng mà tác giả nói đến ở đây là cái ta. Nói đến cái ta là nói đến đoàn thể, cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Thế giới của cái ta hết sức rộng lớn.
7 Bề sâu là cái tôi cá nhân. Thế giới của cái tôi là thế giới riêng tư, nhỏ hẹp, sâu kín. Thơ mới từ bỏ cái ta, đi vào cái tôi cá nhân bằng nhiều cách khác nhau.
8 Nội dung của đoạn văn trên giúp ta có cơ sở để đọc – hiểu một số bài thơ thuộc phong trào Thơ mới (1932 – 1945) trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông. Trước hết, đoạn văn nhắc ta một điều quan trọng: Thơ mới là tiếng nói trữ tình của cái tôi cá nhân. Cũng qua đoạn văn trên, ta sẽ hiểu biết hơn về nét nổi bật của một số nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới.

 

Đ K ANH LẦN 1

Phần I: Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời từ câu 1 đến câu 4:

Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ” có quan hệ khá chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo, nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những nơi công sở, hội trường lớn,danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ đặt dưới chữ Triều Tiên to hơn ở phía trên. Đi đâu nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Triều Tiên. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lại lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác.

(Trích Bản lĩnh Việt Nam – Hữu Thọ)

Câu 1: Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

Câu 2: Tìm chủ đề của văn bản. (0,25 điểm)

Câu 3: Văn bản đã sử dụng những thao tác lập luận nào? Theo anh/chị thao tác nào nổi bật hơn? Vì sao? (0,5 điểm)

Câu 4: Từ văn bản trên, anh/chị nghĩ chúng ta sử dụng tiếng nước ngoài như thế nào cho hợp lí? (trả lời không quá 10 dòng) (0,5 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời từ câu 5 đến câu 8:

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa Trong lòng người có ngọn sóng nào không? (Trích Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến)

Câu 5: Tìm bốn từ thể hiện chủ đề văn bản? (0,25 điểm)

Câu 6: Anh/chị đã gặp hình ảnh “mẹ Âu Cơ” trong câu thơ nào, thuộc văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 12? (0,25 điểm)

Câu 7: Phát hiện các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ? Nêu hiệu quả sử dụng các biện pháp nghệ thuật đó. (0,5 điểm)

Câu 8: Trình bày cảm nhận riêng của anh/chị theo một góc nhìn khác về Tổ Quốc: Tổ quốc nhìn từ những cống hiến của cha ông ta. (trả lời không quá 10 dòng) (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Chủ đê của văn bản: Tiếng nước ngoài lấn lướt tiếng mẹ đẻ trên phương diện biển hiệu, quảng cáo.
3 – Văn bản sử dụng thao tác lập luận: phân tích, so sánh.

– Thao tác lập luận so sánh là thao tác nổi bật hơn nhằm nhấn mạnh tình trạng tiếng nước ngoài lấn lướt tiếng mẹ đẻ trên phương diện biển hiệu, quảng cáo ở nước

4 Cần sử dụng Tiếng nước ngoài:

– Sử dụng phù hợp với ngữ cảnh và môi trường sống.

– Sử dụng có văn hóa tiếng nước ngoài để tiếng nước ngoài không làm mất đi bản sắc văn hóa tiếng mẹ đẻ.

– Cần trân trọng tiếng mẹ đẻ bên cạnh việc học và phát triển ngôn ngữ nước ngoài ở trong nước.

5 Chủ đề của đoạn thơ: Tổ Quốc nhìn từ biển.
6 Hình ảnh “Mẹ Âu Cơ” xuát hiện trong câu thơ “Lạc Long Quân và Âu Cơ” trong tác phẩm “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm.
7 – Biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ: Ẩn dụ, câu hỏi tu từ.

– Hình ảnh sóng trong câu thơ Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa không chỉ là sóng biển dâng trào mà còn là sóng gió bão tố thiên nhiên và đặc biệt là làn sóng xâm lược của kẻ thù.

– Trong câu thơ Trong hồn người có ngọn sóng nào không sử dụng câu hỏi tu từ kết hợp với hình ảnh ẩn dụ “sóng” biểu trưng cho sự suy nghĩ, trăn trở, những sục sôi trong lòng con người khi đối diện với làn sóng xâm lược của giặc ngoại xâm.

=> Các biện pháp tu từ góp phần làm tăng sức biểu cảm cho sự diễn đạt, bộc lộ những trăn trở của nhà thơ, khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi công dân với vận mệnh của đất nước.

8 Cần đảm bảo các nội dung:

– Tổ Quốc nhìn từ cống hiến của cha ông ta

+ Biết bao thế hệ ông cha ta đã phải đổ mồ hôi, công sức, hi sinh xương máu để xây dựng và gìn giữ, phát triển, bảo vệ Tổ quốc.

+ Cần phải nhìn vào những mất mát, đau thương và những trang sử vẻ vang của dân tộc để ra sức công hiến và luôn sẵn sàng tinh thần chiến đấu để giữ vững độc lập dân tộc.

 

ĐỀ THPT LẠNG SƠN

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Trong làn nắng ửng, khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc.

Trên giàn thiên lý – bóng xuân sang

 (Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 2. Hãy xác định nội dung chính của đoạn thơ. (0.5 điểm)

Câu 3. Chỉ ra hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu thơ: “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”? (0,25 điểm)

Câu 4. Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 đến 7 dòng) thể hiện suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ thiên nhiên. (0,5 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Sáng 25.11, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Đặng Việt Dũng đã họp và giao Sở Văn hóa Thể thao Du lịch thành phố, đầu tháng 12, triển khai lắp đặt quầy nước miễn phí phục vụ người dân và du khách.

Theo đó, quầy nước với hệ thống nước nóng – lạnh sẽ được lắp đặt thí điểm tại hai địa điểm là công viên Biển Đông và chợ Cồn, có nhân viên phục vụ tận tình. Với mục đích vừa cung cấp nước uống miễn phí cho du khách và người dân, vừa là nơi cung cấp thông tin thành phố Đà Nẵng như hỏi đường, các điểm đến du lịch. Ngoài ra, quầy nước sẽ tích hợp các dịch vụ khác như trợ giúp y tế hay các thông tin khác liên quan đến Đà Nẵng.

Sau khi triển khai thí điểm tại hai điểm trên, Đà Nẵng sẽ tiếp tục lắp đặt tại các bệnh viện để phục vụ người nhà bệnh nhân và bệnh nhân. Đồng thời nhân rộng tại các địa điểm khác trên địa bàn thành phố.

( Dẫn theo: http://www.24h.com.vn, ngày 25/11/2015, 13:49)

Câu 5. Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. (0,25 điểm)

Câu 6. Đặt tiêu đề cho văn bản (0,25 điểm)

Câu 7. Theo thông tin nêu trong văn bản, nhiệm vụ chủ yếu của các quầy nước miễn phí là gì? (0,5 điểm)

Câu 8. Viết một đoạn văn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của sự kiện nêu trên. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ bảy chữ
2 Nội dung chính của đoạn thơ: một bức tranh xuân ở chốn thôn quê tươi sáng, rạo rực, say mê, đầy sức sống.
3 Hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu thơ: “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”: miêu tả sự tinh nghịch, nhí nhảnh, hồn nhiên của “gió”, góp phần tạo nên một bức tranh xuân ý vị, hữu tình.
4 Đoạn văn cần đảm bảo các nội dung:

– Thiên nhiên là tất cả những thứ xung quanh chúng ta. Cung cấp cho con người sự sống => Thiên nhiên là ngời bạn thân thiết và không thể thiếu của con người.

– Thực trạng hiện nay: Môi trường thiên nhiên đang bị ô nhiễm bởi chính con người gây nên. Vì vậy, bảo vệ thiên nhiên là trách nhiệm của mỗi con người và cần sự chung tay của toàn cầu.

– Con người cần có những hành động thiết thực để bảo vệ thiên nhiên: phát động phong trào mùa hè xanh, trồng cây gây rừng, không vứt rác bừa bãi, khai thác thiên nhiên có chiến lược, quy hoạch lâu dài, bên vững, xử lí chất thải công nghiệp đúng quy trình,…

5 Văn bản viết theo:Phong cách ngôn ngữ báo chí.
6 Tiêu đề văn bản: Triển khai chiến lược “quầy nước miễn phí ”
7 Nhiệm vụ chủ yếu của các quầy nước miễn phí:

+ Cung cấp nước uống miễn phí cho du khách và người dân.

+ Cung cấp thông tin về thành phố như hỏi đường, các điểm đến du lịch, trợ giúp y tế,…

8 Đoạn văn cần đảm bảo các nội dung:

+ Quầy nước miễn phí là một chiến lược có tính nhân văn cao cả: Thể hiện được sự quan tâm của Đảng và nhà nước tới việc cải thiện đời sống của nhân.

+ Chiến lược mang tầm vóc vĩ mô, nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của đất nước.

+ Chiến lược được nhân rộng sẽ là động lực cho Việt Nam tiếp cận gần hơn với nền văn minh tiên tiến của đất nước.

 

ĐỀ LÊ HOÀNG THANH HÓA

Phần I: Đọc hiểu (3đ)

Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:

Lá đỏ

Nguyễn Đình Thi –

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường như quê hương

Vai áo bạc quàng súng trường

Đoàn quân đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.

Em vẫy cười đôi mắt trong.

(Trường Sơn 12/1974)

  1. Bài thơ được viết theo thể thơ gì? (0,5đ)
  2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: “Em đứng bên đường như quê hương” ? (0,5đ)
  3. Chỉ ra các hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Các hình ảnh đó tạo nên bức tranh rừng Trường Sơn như thế nào? (0,5đ)
  4. Không khí hành quân hào hùng, thần tốc được gợi lên qua những hình ảnh nào? Hình ảnh đó làm anh/chị liên tưởng đến bài thơ nào đã được học? (0,5đ)
  5. Viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của anh/chị về hình ảnh em gái tiền phương trong bài thơ trên. (1,0đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
2 Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: so sánh (em (đứng bên đường)- quê hương).
3 Các hình ảnh miêu tả thiên nhiên: đỉnh trường Sơn lộng gió, rừng lạ ào ào lá đỏ.

Các hình ảnh vẽ lên khung cảnh rừng Trường Sơn khoáng đạt, đầy ấn tượng với những vẻ đẹp lạ lùng của rừng lá đỏ, những trận mưa lá đổ ào ào trong gió.

4 Không khí hành quân hào hùng thần tốc được thể hiện qua hình ảnh đoàn quân đi vội vã; bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa.

Thí sinh có thể liên hệ với hình ảnh trong bài thơ khác nhau, ví dụ bài Việt Bắc (quân đi điệp điệp trùng trùng. Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan).

5 Cảm nhận về em gái tiền phương:

– Hình ảnh “em gái tiền phương”: nhỏ bé giữa rừng Trường Sơn bạt ngàn, lộng gió nhưng lại mang đến cảm giác thân thương, gần gũivai áo bạc, quàng súng trường – như quê hương; với dáng đứng vững vàng bên đường khi làm nhiệm vụ.

– Hình ảnh ấy là một biểu tượng về cuộc chiến tranh nhân dân –“em gái tiền phương”, nữ chiến sĩ giao liên hay cô gái thanh niên xung phong. Sự có mặt của cô gái trên đỉnh Trường Sơn nơi tuyến đầu Tổ quốc đã nhắc với mai sau về cuộc chiến đấu toàn dân tham gia, trong đó có sự đóng góp những người con gái trẻ trung xinh đẹp mảnh mai nhưng vô cùng dũng cảm, gan dạ.

 

ĐỀ LÝ TỰ TRỌNG QUẢNG NINH

I/ ĐỌC – HIỂU (2,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu.Nhưng động tiên đa khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.

Câu 1. Đoạn văn trên thuộc văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai? Viết trong thời gian nào?

Câu 2. Đoạn văn nói về vấn đề gì? Cách diễn đạt của tác giả có gì đặc sắc?

Câu 3. Anh (chị) hiểu như thế nào về bề rộng bề sâu mà tác giả nói đến ở đây?

Câu 4. Nội dung của đoạn văn giúp gì cho anh (chị) trong việc đọc – hiểu các bài thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông?

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi :

“Mị không nói. A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại”.

(Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)

Câu 5. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?

Câu 6. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?

Câu 7. Trong đoạn văn trên, Tô Hoài sử dụng nhiều câu ngắn kết hợp với các câu dài có nhiều vế ngắn, nhịp điệu nhanh. Tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì ?

Câu 8. Đoạn văn bản trên khiến anh/chị liên tưởng đến hiện tượng nào trong cuộc sống? Nêu ngắn gọn những hiểu biết của anh/chị về hiện tượng và đưa ra một giải pháp mà anh/chị cho là hợp lí nhất để giải quyết hiện tượng này.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn đựợc trích từ bài Một thời đại trong thi ca, là bài tổng luận cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, được viết năm 1942.
2 Đoạn văn đề cập đến cái tôi cá nhân – một nhân tố quan trọng trong tư tưởng và nội dung của thơ mới (1932 – 1945), đồng thời, nêu ngắn gọn những biểu hiện của cái tôi cá nhân ở một số nhà thơ tiêu biểu.
3 Bề rộng mà tác giả nói đến ở đây là cái ta. Nói đến cái ta là nói đến đoàn thể, cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Thế giới của cái ta hết sức rộng lớn.

Bề sâu là cái tôi cá nhân. Thế giới của cái tôi là thế giới riêng tư, nhỏ hẹp, sâu kín. Thơ mới từ bỏ cái ta, đi vào cái tôi cá nhân bằng nhiều cách khác nhau.

4 Nội dung của đoạn văn trên giúp ta có cơ sở để đọc – hiểu một số bài thơ thuộc phong trào Thơ mới (1932 – 1945) trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông. Trước hết, đoạn văn nhắc ta một điều quan trọng: Thơ mới là tiếng nói trữ tình của cái tôi cá nhân. Cũng qua đoạn văn trên, ta sẽ hiểu biết hơn về nét nổi bật của một số nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới.
5 Đoạn văn được viết theo phương thức tự sự là chính.
6 Đoạn văn kể lại hành động trói Mị của A Sử trong đêm mùa xuân khi Mị muốn đi chơi.
7 Tô Hoài sử dụng nhiều câu ngắn kết hợp với các câu dài có nhiều vế ngắn, nhịp điệu nhanh. Bằng hình thức này, tác giả cho thấy hành động trói vợ của A Sử diễn ra rất nhanh, rất thuần thục, tưởng như đó là việc làm thường xuyên, quen thuộc của A Sử. Qua đây có thể thấy tính cách độc ác, tàn nhẫn của A Sử.
8 Đoạn văn bản trên khiến người đọc liên tưởng đến hiện tượng bạo lực gia đình trong đời sống. HS cần trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của mình về hiện tượng này một cách ngắn gọn, đưa ra một giải pháp có sức thuyết phục.

 

ĐỀ LỤC NGẠN BẮC GAING

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4:

“ Sức mạnh cơ bắp của mỗi người là có hạn, nhưng ở người có ý chí sắt đá thì nghị lực là vô hạn. Vì vậy đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào năng lục thật sự của bản thân mình. Với người có ý chí kiên cường thì nghịch cảnh khiến cho họ thông minh hơn, mạnh mẽ hơn. Không có giới hạn nào ngăn được ý chí của con người. Những điều kì diệu xuất phát từ dám ước mơ táo bạo và kiên tâm biến ước mơ đó thành hiện thực. Ý chí và quyết tâm mạnh mẽ giúp con người vượt lên trên hoàn cảnh để đạt được thành công. Đối với người có ý chí mạnh mẽ, khi rơi vào nghịch cảnh ngăn bước tiến, họ sẽ tìm hướng đi mới.

Nếu cuộc sống bình dị làm cho người ta thấy tẻ nhạt, thì chie khi vượt qua được sóng gió mang lại niềm vui và ý nghĩa chân chính của cuộc đời. Khi đối diện với khó khăn thách thức, họ tì mọi cách để vượt qua chứ khong tìm đường thoái lui. Thành công luôn đón chờ những con người kiên trì và quyết tâm theo đuổi đến cùng mục tiêu đã chọn. Cựu thủ tướng Anh Benjamin Disraeli quan niệm “khi con người sống cùng mục tiêu của mình thì sớm muộn cũng sẽ đặt được mục tiêu đó, không có trở ngại nào có thể ngăn cản ý chí và lòng quyết tâm của con người”. Đằng sau sự thành công vượt trội là những bài học về sự bền gan vững chí trước những thử thách và cái giá có thể phải trả. Và rồi thành công không phụ lòng những người có ý chí kiên cường và không nản lòng trước những cái giá phải trả trên bước đường thưc hiện mục tiêu của mình.”

(Theo : tamsang.com)

  1. Văn bản trên đề cập đến nội dung gì? Đặt tên cho văn bản.
  2. Xác định phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn văn trên?
  3. Tại sao “sức mạnh cơ bắp của mỗi người là có bạn, nhưng ở người có ý chí sắt đá thì nghị lực là vô hạn”.
  4. Viết khoảng 5-7 dòng bàn về ý nghĩa của ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống.

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi từ câu 5 đến 8:

À ơi giấc ngủ mùa thu

Vọng vào sâu thẳm lời ru mà về

 Trên đồng dáng mẹ tái tê

Đôi vai đè nặng sườn đè bóng đêm

Lời ru chìm nổi cánh diều

Một mình mẹ gánh cả chiều mưa giông

Chắt chiu từng hạt chờ mong

Mẹ ru hi vọng trên đồng lúa non

 À ơi!

Câu hát chon von

Chập chờn dáng cố héo hon đường cày

Nắng mưa bẻ gập lưng gầy

Lời ru nâng bước tháng ngày con đi.

(Lời ru của mẹ, Trần Thị Danh GD & Thời đại số ra ngày 25/12/2015)

  1. Hình ảnh người mẹ trong bài thơ trên được nói đến qua những chi tiết nào?
  2. Nêu cảm xúc chủ đạo trong bài thơ?
  3. Kể tên hai biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ và chỉ ra tác dụng của các biện pháp đó.
  4. Từ nội dung của bài thơ trên hãy bày tỏ cảm xúc của mình bằng một đoạn văn ngắn (từ 5 đến 7 dòng ).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Văn bản đề cập đên nội dung: Vai trò, ý nghĩa của ý chí, nghị lực trong cuộc sống của con người.

Tên văn bản: Ý chí, nghị lực/ Để đi tới thành công…

2 Phương thức biểu đạt chủ yếu là nghị luận.
3 Sức mạnh cơ bắp của mỗi người là có bạn, nhưng ở người có ý chí sắt đá thì nghị lực là vô hạn” vì: thể trạng, thể lực của con người sẽ suy giảm sau khi làm việc, đòi hỏi phải được nghỉ ngơi, bổ sung. Nhưng ý chí sắt đá thì thuộc về tinh thần, nó giúp ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chinh phục mọi ước mơ. Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường.
4 Ý nghĩa của ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống:

+ Cuộc đời có nhiều khó khăn, thức thách khắc nghiệt, ý chí, nghị lực giúp ta có sức mạnh, có quyết tâm để tìm cách giải quyết vấn đề.

+ Ý chí, nghị lực không chỉ giúp ta vươn tới thành công mà còn giúp ta khám phá chính mình, giúp khơi dậy những năng lực đặc biệt mà có thể trong hoàn cảnh bình thường ta chưa nhận ra.

+ Không có ý chí không làm dược điều gì hết.

5 Hình ảnh người mẹ được nói đến qua các chi tiết: lời ru, đôi vai, cánh đồng, chiều mưa dông, đường cày, lưng gầy.
6 Cảm xúc chủ đạo là tình cảm yêu thương, trân trọng, ngợi ca, biết ơn của người con dành cho mẹ.
7 – Biện pháp điệp từ (lời ru) và hoán dụ .

– Tác dụng:

+ Điệp từ “lời ru” nhắc đi nhắc lại 3 lần nhằm nhấn mạnh ý nghĩa lời ru của mẹ đối với mỗi người con. QUa đó, ta thấy được sự vất vả, tảo tần và tình yêu thương mẹ dành cho con.

+ Hình ảnh hoán dụ “Đôi vai đè sườn đè bóng đêm”: Nói “đôi vai“, sườn là nói tới mẹ, nói tới cuộc đời mẹ, vất vả, nhọc nhằn.

8 Đoạn thơ là lời trái tim của người con dành cho mẹ mình với tình yêu thương, trân trọng, ngợi ca, biết ơn sâu sắc. Qua lời ru của mẹ, con thấy tất cả hành trình cuộc đời đầy gian nan, vất vả của mẹ và tình cảm yêu thương, sự hi sinh vô bờ mà mẹ dành cho con. Trong lời ru của mẹ có tình mẫu tử cao cả, thiêng liêng, bất tử. Đoạn thơ làm lay động trái tim độc giả bằng tình mẫu tử thiêng liêng.

 

LƯƠNG ĐẮC BẰNG THANH HÓA

Phần 1 (3,0 điểm):

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4:

“Trên đường ta đi đánh giặc

Ta về Nam hay ta lên Bắc,ở đâu

Cũng gặp

Những ngọn đèn dầu

Chong mắt

Đêm thâu

Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt

Như những tâm hồn không bao giờ biết tắt,

Như miền Nam

Hai mươi năm

Không đêm nào ngủ được,

Như cả nước

Với miền Nam

Đêm nào cũng thức…”

(Ngọn đèn đứng gác – Chính Hữu)

Câu 1. Nêu nội dung của đoạn thơ? (0,5 điểm)

Câu 2. Hình ảnh “ngọn đèn” trong đoạn thơ tượng trưng cho điều gì? (0,25 điểm)

Câu 3. Các từ và cụm từ: chong mắt, không bao giờ nhắm mắt, không đêm nào ngủ được, đêm nào cũng thức gợi cho anh/chị những cảm nhận gì? (0,25 điểm)

Câu 4. Suy nghĩ của anh/chị về hình ảnh con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ? (Trình bày trong khoảng 5 – 7 dòng) (0,5 điểm)

 Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 5 đến 8:

“Lòng đố kị có thể gắn với sự hiếu thắng, một tâm lí muốn chứng tỏ mình không thua kém chúng bạn, thậm chí hơn người. Tâm lí hiếu thắng có thể có tác dụng kích thích người ta phấn đấu, cạnh tranh vượt lên người khác, và có ý nghĩa tiến bộ nhất định. Tâm lí đố kị ngược lại, chỉ là sự biến dạng của lòng hiếu thắng. Đó là tâm lí của kẻ thất bại. Động cơ kích thích phấn đấu giảm sút mà ý muốn hạ thấp, hãm hại người khác để thỏa lòng ích kỉ tăng lên. Phân tích lòng đố kị, nhà triết học Hi Lạp cổ đại A – ri – xtốt đã nói: “Người đố kị sở dĩ cảm thấy dằn vặt đau đớn không chỉ vì thấy mình thua kém mà còn vì nhìn thấy người khác thành công”. Nhà triết học đã chỉ ra thực chất kẻ đố kị là kẻ không muốn nhìn thấy người khác thành công”

(Phỏng theo Băng Sơn)

Câu 5. Đoạn văn trên sử dụng thao tác lập luận chính nào? (0,25 điểm)

Câu 6. Đoạn văn bàn về vấn đề gì? (0,5 điểm)

Câu 7. Theo tác giả, thực chất của “kẻ đố kị” là gì? (0,25 điểm)

Câu 8. Suy nghĩ của anh/chị về tác hại của “lòng đố kị”? (Trình bày không quá 10 dòng) (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Bài thơ nêu lên cảm xúc và suy nghĩ của người lính về nhân dân và đất nước.
2 Hình ảnh ngọn đèn dầu tượng trưng cho người lính hết lòng vì Tổ quốc, không nguôi ý chí chiến đấu, quyết tâm; cũng tượng trưng cho con người hậu phương luôn hướng về tiền tuyến, thắp sáng niềm tin cho tiền tuyến. Bởi vậy, hình ảnh ngọn đèn dầu tượng trưng toàn thể dân tộc, nhân dân Việt Nam.
3 Các cụm từ này gợi lên tình yêu nước, nỗi trăn trở lo âu cho vận mệnh dân tộc và ý chí quyết tâm đánh giặc sắt đá của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh.
4 Hình ảnh con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ:

– Đó là con người kiên cường, bất khuất, quyết tâm cao vượt mọi khó khăn để đạt được thành công.

– Đó là con người lạc quan cách mạng, yêu đời, hi vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

5 Đoạn văn trên chủ yếu sử dụng thao tác: phân tích.
6 Đoạn văn trên bàn về lòng đố kị của con người trong cuộc sống.
7 Theo tác giả, thực chất kẻ đố kị là kẻ không muốn nhìn thấy người khác thành công.
8 Tác hại của lòng đố kị:

– Lòng đố kị khiến con người không bao giờ nhận ra hạn chế của mình, không ghi nhận sự thành công của người khác, có tâm lí hiếu thắng, luôn cho mình là nhất, dễ sinh ra ảo tưởng, hão huyền.

– Lòng đố kị đôi khi mù quáng khiến con người có thể có những hành động xấu, gây ra nỗi đau, mất mát cho nhau trong cuộc sống, kìm hãm sự phát triển của tập thể.

– Lòng đố kị chỉ khiến con người sống thêm khổ đau, dằn vặt…

 

LÝ THƯỜNG KIỆT LẦN 1

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về

Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm

Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.

(Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ – Thơ tình, NXB Văn học 2002)

  1. Các phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên là gì ?
  2. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
  3. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn thơ.
  4. Viết một đoạn văn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh (chị ) sau khi đọc câu thơ: Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 8:

“Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.”

 (Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn… – Phạm Lữ Ân)

  1. Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
  2. Xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn.
  3. Chỉ ra điểm giống nhau về cách lập luận trong 4 câu đầu của đoạn trích.
  4. Cho mọi người biết giá trị riêng (thế mạnh riêng) của bản thân bạn. Trả lời trong khoảng từ 3 – 4 câu.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Những phương thức biểu đạt của đoạn thơ: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.
2 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: So sánh

– Nêu tác dụng: Biện pháp so sánh được sử dụng khiến hai câu thơ trở nên mềm mại, cuốn hút. So sánh tiếng Việt với đất cày, lụa, tre ngà, tơ tác giả gợi ra vẻ bình dị, nên thơ, gần gũi, gắn bó của tiếng Việt với cuộc sống của người nông dân, đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu, ý thức trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp văn hóa quý báu của dân tộc.

3 Nội dung chính của đoạn thơ là: Ca ngợi vẻ đẹp, thể hiện sự gắn bó, yêu quý, thấu hiểu của tác giả với tiếng Việt.
4 – Câu thơ cho thấy những ân tình của tiếng Việt, những giá trị cao cả mà tiếng Việt bồi đắp và dẫn dắt.

– Câu thơ cũng nhắc nhở về tình cảm mến yêu tha thiết, ý thức trách nhiệm của mỗi người trong việc gìn giữ, bảo vệ làm cho tiếng Việt ngày càng giàu và đẹp.

5 Phương thức nghị luận.
6 Câu “Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn”. Có thể dẫn thêm câu: Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.
7 Điểm giống nhau về cách lập luận: lập luận theo hình thức đưa ra giả định về sự không có mặt của yếu tố thứ nhất để từ đó khẳng định, nhấn mạnh sự có mặt mang tính chất thay thế của yếu tố thứ hai.
8 Câu này có đáp án mở, tùy thuộc cách trả lời và nhận định của người chấm.

 

LÝ THƯỜNG KIỆT LẦN 2

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4

Tre xanh xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi

 Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

Có gì đâu, có gì đâu

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều

Rễ siêng không ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Vươn mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

 (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Câu 1: Câu thơ nào miêu tả cây tre?

Câu 2: Hai câu thơ sau nói lên đặc điểm gì của cây tre? Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

Câu 3: Tìm biện pháp tu từ được sử dụng trong 2 câu thơ sau: Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Câu 4: Từ hình ảnh của cây tre trong đoạn thơ trên, anh (chị) hãy cho biết tác giả nói về những phẩm chất gì của dân tộc Việt Nam?

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

“… Nói tới sách là nói tới trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích lũy truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.

Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những qui luật của nó, hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước khác nhau với những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hóa, những truyền thống, những khát vọng.

Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.

 Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận xét mà cũng là một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt”.

 (Trích Về việc đọc sách – Nguồn Internet)

Câu 5: Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 6: Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản trên.

Câu 7: Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?

Câu 8: Nêu mục đích của người viết?

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Câu thơ miêu tả cây tre: Thân gầy guộc, lá mong manh
2 Hai câu thơ nói lên đặc điểm của cây tre: dễ sống, dễ trồng, thích nghi với đất bạc màu.
3 Hai câu thơ sử dụng phép tu từ nhân hóa.

Mượn hình ảnh của cây tre, tác giả muốn nói tới phẩm chất của người

4 Việt Nam: cần cù, chịu thương chịu khó, lạc quan, yêu đời và cứng cỏi, mạnh mẽ, không chịu cúi mình.
5 Phương thức nghị luận.
6 Câu chủ đề là câu: Nói tới sách là nói tới trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích lũy truyền lại cho mai sau.
7 Thao tác lập luận chủ yếu trong đoạn văn là thao tác phân tích.
8 Mục đích của người viết: Khẳng định tầm quan trọng của sách để khuyến khích mọi người đọc sách.

 

MỸ ĐỨC HÀ NỘI

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

“Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ

Những tàu chuối, bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ bé

Những bước chân thơ ấu buổi đầu tiên

Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền

Mưa cuốn đi rồi

Ơi cơn mưa quê hương

Mưa là khúc nhạc của bài ca êm mát

Những đêm ta nằm nghe mưa hát mưa ơi

Nghe mưa đập cành tre, nghe mưa rơi tàu lá

Thầm thì dào dạt vang xa”

Nhớ mưa quê hương – Lê Anh Xuân. Nxb Văn học, 2003)

 Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

Câu 2. Xác định các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong 4 dòng cuối của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

Câu 4. Từ đoạn thơ trên, anh/chị có suy nghĩ gì về vai trò của quê hương đối với tâm hồn mỗi con người? Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

“ Báo chí ở Hàn Quốc khá nhiều. Tôi không biết chữ Triều Tiên nhưng cũng xem qua khá nhiều tờ báo. Có một số tờ báo, tạp chí, số báo xuất phát bằng tiếng nước ngoài in rất đẹp. Nhưng các tờ báo phát hành ở trong nước đều không có mấy trang viết bằng chữ nước ngoài, trừ một số tạp chí khoa học, ngoại thương có in ở trang cuối mục lục bằng tiếng nước ngoài để người đọc nước ngoài nhờ dịch những bài cần đọc. Trong khi đó ở ta, khá nhiều tờ báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, xem ra để cho “oai” trong khi đó người đọc trong nước lại bị thiệt mấy trang thông tin. Phải chăng đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài mà ta nên suy ngẫm.”

( Theo Hữu Thọ, Bản lĩnh Việt Nam)

Câu 5. Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản trên? Lý giải vì sao anh ( chị) có thể xác định được như vậy? (0,5 điểm)

Câu 6. Xác định thao tác lập luận chính được tác giả sử dụng trong đoạn trích trên?(0,25 điểm)

Câu 7. Xác định hình thức viết đoạn văn của văn bản trên.(0.25 điểm)

Câu 8. Từ đoạn văn trên, theo anh ( chị ) cần làm gì để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ? Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu cảm.
2 Biện pháp so sánh “Mưa là khúc nhạc của bài ca êm mát”, biện pháp nhân hóa “mưa hát mưa ơi” “thì thầm”, điệp từ “nghe”, “mưa”.
3 Đoạn thơ là những hoài niệm của nhân vật trữ tình về quê hương, tuổi thơ êm đẹp với những trò chơi dân dã, những đêm mưa dịu mát cả tâm hồn.
4 Vai trò của quê hương đối với tâm hồn mỗi con người:

– Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là nơi ta lớn lên.

– Quê hương với tất cả những điều nhỏ bé, giản dị nhất đã nuôi dưỡng tâm hồn con người.

– Quê hương là nơi bình yên ta tìm về sau những mệt mỏi, khắc nghiệt của cuộc đời.

5 Phong cách ngôn ngữ báo chí/ chính luận/ kết hợp báo chí và chính luận. Căn cứ: nội dung, tên tác giả, nhan đề bài viết.
6 Thao tác lập luận so sánh.
7 Đoạn văn viết theo kiểu quy nạp.
8 Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt:

– Mỗi bạn trẻ cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt trong nói năng, trong hoạt động viết bằng cách thường xuyên học tập, trau dồi vốn từ, sử dụng từ ngữ đúng chuẩn mực của tiếng Việt.

– Phê phán các hành vi cố tình sử dụng sai tiếng Việt.

 

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH

Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

(…)Một bà lão chống gậy qua đường giữa dòng xe cộ tấp nập. Một em học trò phía bên kia đường nhìn thấy, nhận ra sự nguy hiểm đối với bà lão liền vội chạy tới: “Bà ơi, bà đưa tay cháu dắt bà qua”. Bà lão móm mém nở một nụ cười thân thiện. “Cảm ơn cháu! Cháu thật ngoan!”. (…)

Một người ăn xin khốn khổ, đói rách, vận bộ áo quần đen nhuốc, chân tay run lên vì cơn đói hành hạ. Người hành khất bước chân vào một quán cà phê, ngả nón xin tiền, mong được bố thí vài trăm bạc lẻ để mua chiếc bánh mì. Khách uống cà phê vẫn thản nhiên rít thuốc, ánh mắt lạnh lùng vô cảm. Ông lão hành khất đến bên người bán vé số đang giao vé cho khách, và lại chìa chiếc nón ra. Người bán vé số vùi tay vào túi quần, lôi ra mấy tờ bạc nhàu nát bị vo tròn, lấy ra một tờ, vuốt phẳng và bỏ vào nón của ông lão. Ông già cảm động run run, ông không nói một lời cảm ơn mà cúi mái đầu xuống, ánh mắt lộ ra một sự biết ơn vô cùng. Thì ra, ông ấy bị câm.

Trong cuộc sống có biết bao nhiêu sự cảm ơn có lời và không lời như thế. Với những người có văn hóa, “cảm ơn” là lời nói được sử dụng hàng ngày, những lời luôn được cất lên bằng tất cả thái độ lịch sự và tình cảm chân thực nhất. Nhưng tiếc rằng, vẫn còn không ít thanh niên chưa nghĩ vậy. Họ coi lời cảm ơn chỉ là những lời khách sáo, vì thế, chẳng cần phải nói ra. Hình như những bạn ấy vẫn nghĩ một cách đơn giản rằng nói lời cảm ơn hay làm những cử chỉ biểu lộ sự biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân tình và tăng thêm xa cách mà thôi.

Thế nhưng, cuộc sống hiện đại và yêu cầu về quy tắc giao tiếp giữa người với người đòi hỏi chúng ta phải tập làm quen với lời “làm ơn” và sau đó là “cảm ơn”. Thật hạnh phúc khi ta làm được việc có ý nghĩa, một điều tốt đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác, kéo mọi người lại gần nhau hơn. Và cũng sẽ hạnh phúc không kém khi chúng ta thấy mình đã không dửng dưng, bạc bẽo vì đã biết tri ân người giúp đỡ mình bằng những lời nói xuất phát từ đáy lòng, chân thành, lịch thiệp: “Cảm ơn”

( Theo Thanhnienonline )

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên. (0,25đ)

Câu 2: Theo tác giả, vì sao lời cảm ơn mang lại hạnh phúc cho con người? (0,5đ)

Câu 3: Nội dung chính của đoạn trích trên là gì? (0,25đ)

Câu 4: Nêu suy nghĩ của anh, chị về văn hóa cảm ơn trong cuộc sống hôm nay. (Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng ) (0,5đ)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Ca dao và mẹ

Đỗ Trung Quân

Qua bao nắng sớm chiều mưa vẫn còn

Chân trần mẹ lội đầu non

Che giông giữ tiếng cười giòn cho ai

Vì ai chân mẹ dẫm gai

Vì ai tất tả vì ai dãi dầu

Vì ai áo mẹ phai màu

Vì ai thao thức bạc đầu vì ai?

Lớn từ dạo đó ta đi

Chân mây góc biển mấy khi quay về

Mẹ ngồi lặng cuối bờ đê

Đếm năm tháng đếm ngày về của ta

Mai vàng mấy lượt trổ hoa

Hàng hiên hanh nắng sương sa mấy lần

Đồng xa rồi lại đồng gần

Thương con mẹ lội đồng gần đồng xa

“Âu ơ…” tiếng vọng xé tim

Lời ru xưa bỗng về tìm cơn mưa

Đâu rồi cái tuổi ngây thơ

Mẹ ta nay đã mịt mờ chân mây

Chiều đông giăng kín heo may

Tìm đâu cho thấy tháng ngày ầu ơ…

( Theo Thivien.net )

Câu 5. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0,25đ)

Câu 6. Nêu vẻ đẹp của hình ảnh người mẹ trong bài thơ trên. (0,5đ)

Câu 7. Trong bốn dòng thơ Vì ai chân mẹ dẫm gai – Vì ai tất tả vì ai dãi dầu – Vì ai áo mẹ phai màu – Vì ai thao thức bạc đầu vì ai? Tác giả sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của các biện pháp tu từ đó. (0,5đ)

Câu 8. Anh/chị nghĩ gì về lời ru của mẹ trong cuộc sống? ( Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng ) (0,25đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn là phương thức nghị luận.
2 Lời cảm ơn mang lại hạnh phúc cho con người vì: Thật hạnh phúc khi ta làm được một điều có ý nghĩa, một việc tốt đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác, kéo mọi người lại gần nhau hơn. Và cũng hạnh phúc không kém khi chúng ta thấy mình không dửng dưng, bạc bẽo, vì đã biết tri ân những người giúp đỡ mình bằng những lời xuất phát từ đáy lòng, chân thành, lịch thiệp: “Cảm ơn”.
3 Nội dung chính của đoạn trích là tầm quan trọng và ý nghĩa của việc cảm ơn trong cuộc sống.
4 – Cảm ơn là nét văn hóa, văn minh trong cuộc sống, thể hiện ta đã biết trân trọng những giúp đỡ mình, là sự khẳng định lớn lao ta vẫn đang sống hạnh phúc, được yêu thương trong cuộc đời này.

– Đó cũng là lời động viên, khích lệ cho những hành động tốt được tiếp tục nhân lên.

– Lời cảm ơn làm cho mối quan hệ giữa người với người thêm tốt đẹp.

– Cần phê phán những kẻ vô ơn.

5 Bài thơ được viết theo thể lục bát
6 Vẻ đẹp của mẹ:

– Tần tảo, giãi dầu mưa nắng, chịu thương chịu khó

– Hi sinh tất cả vì con

-> Mẹ là bến đỗ bình yên nhưng lớn lên thì ít có dịp quay về, để rồi thấy hối tiếc.

7 – Tác giả sử dụng điệp ngữ “vì ai” và câu hỏi tu từ

– Tác dụng:

+ Điệp ngữ: Nhấn mạnh một múc đích duy nhất là nói đến đối tượng mẹ đã hi sinh cả cuộc đời mình. Sau điệp ngữ là một loạt những liệt kê điều mẹ làm: chân mẹ dẫm gai, dãi dầu, áo mẹ bạc màu, mẹ thức bạc đầu.

+ Câu hỏi tu từ: hỏi nhưng thực ra đã biết câu trả lời. Vì ai đó chính là vì con. Con là tài sản lớn nhất của cuộc đời mẹ. Vì con mẹ có thể làm tất cả, hi sinh tất cả.

8 – Lời ru của mẹ có vai trò to lớn, ảnh hưởng đến tâm hồn đứa trẻ

– Lời ru chắp cánh cho những giấc mơ con khi còn bé và là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn khi lớn lên.

– Còn được nghe hát ru là còn có mẹ, còn được mẹ hát ru tức vẫn được sống trong ấm êm, hạnh phúc -> Cần trân trọng, biết ơn tình yêu bao la của mẹ.

 

NÔNG CỐNG THANH HÓA

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Vị vua và những bông hoa

Một ông vua nọ rất có tài chăm sóc những cây hoa và ông đang muốn tìm một người kế vị mình. Ông quyết định để những bông hoa quyết định, vì thế ông đưa cho tất cả mọi người mỗi người một hạt giống. Người nào trồng được những bông hoa đẹp nhất từ hạt giống này sẽ được lên ngôi.

 Một cô gái tên là Serena cũng muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh để trồng được bông hoa đẹp nhất. Cô gieo hạt giống trong một cái chậu rất đẹp, chăm sóc nó rất kỹ càng, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy hạt giống nảy mầm.

Năm sau, cô thấy mọi người tụ tập tại cung điện với những chậu hoa rất đẹp. Serena rất thất vọng, nhưng vẫn tới cuộc tụ họp với chậu hoa trống rỗng. Nhà vua kiểm tra tất cả chậu hoa, rồi dừng lại ở chậu hoa của Serena. Ngài hỏi “tại sao chậu hoa của cô không có gì?” “Thưa điện hạ, tôi đã làm mọi thứ để nó lớn lên nhưng tôi đã thất bại” – cô gái trả lời.

“Không, cô không thất bại. Những hạt giống mà ta đưa cho mọi người đều đã được nướng chín, vì thế chúng không thể nảy mầm. Ta không biết tất cả những bông hoa đẹp này ở đâu ra. Cô đã rất trung thực, vì thế cô xứng đáng có được vương miện. Cô sẽ là nữ hoàng của vương quốc này”.

(Trích Bốn bài học quý giá về cuộc sống –báo VietNamNet)

Câu 1. Nêu nội dung chính của văn bản trên. (0,5 điểm)

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? (0,25 điểm)

Câu 3. Hãy giải thích vì sao cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng ? (0,25 điểm)

Câu 4. Anh/chị hãy rút ra bài học cho bản thân khi đọc xong câu chuyện trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa.

(Đất nước- Nguyễn Đình Thi, SGK Ngữ văn 12, tập 1)

Câu 5. Nêu nội dung đoạn thơ? (0,5 điểm)

Câu 6. Đoạn thơ được viết theo thể thơ gì? (0.25 điểm)

Câu 7. Trong ba dòng thơ “Gió thổi rừng tre phấp phới/ Trời thu thay áo mới/ Trong biếc nói cười thiết tha”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì ? (0.25 điểm)

Câu 8. Hãy phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong ba dòng thơ trên. Trình bày trong khoảng 5-7 dòng. (0.5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Nội dung chính của văn bản : Kể về việc một vị vua muốn lựa chọn người kế vị bằng cách thử lòng trung thực của mọi người từ những hạt giống hoa đã được nướng chín và chỉ có duy nhất cô gái tên Serena là người chiến thắng nhờ lòng trung thực của mình. Câu chuyện đưa tới thông điệp: tính trung thực sẽ đem lại cho chúng ta những món quà bất ngờ.
2 Phương thức biểu đạt chính của văn bản: phương thức tự sự.
3 Cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng vì cô đã rất trung thực khi trồng đúng hạt giống hoa mà nhà vua ban. Cô không tìm mọi cách để có chậu hoa đẹp như người khác mà chỉ chăm sóc hạt giống nhà vua đã ban.
4 Bài học của bản thân: Con người cần phải sống trung thực, có lòng tin vào sự trung thực của bản thân. Khi có lòng trung thực con người sẽ gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống.
5 Nội dung đoạn thơ: Thể hiện niềm vui sướng hân hoan khi mùa thu cách mạng tháng 8/1945 thành công, Việt Bắc – cái nôi của cách mạng Việt Nam được giải phóng.
6 Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
7 Trong ba dòng thơ “Gió thổi rừng tre phấp phới/ Trời thu thay áo mới/ Trong biếc nói cười thiết tha”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa.
8 Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong 3 câu trên: miêu tả sinh động, chân thực hình ảnh đất trời vào thu: sắc trời mùa thu trong xanh, gió thu lay động cành lá khiến lá cây xào xạc như tiếng reo vui, tiếng nói cười. Đó là một hình ảnh đất nước mới mẻ, tinh khôi, rộn rã sau ngày giải phóng.

 

NGHÈN HÀ TĨNH

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

“Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không?

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u…”

(Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc nhìn từ biển)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản? (0,25 điểm)

Câu 2. Giải thích nghĩa của từ “sóng” trong 2 câu thơ sau:

“Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không” (0,5 điểm)

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ ẩn dụ trong khổ thơ? (0,25 điểm)

“Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u…”

Câu 4. Từ 2 câu thơ: “Lời cha dặn phải giữ từng thước đất – Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi”, anh/chị hãy viết đoạn văn (5 – 7 dòng) trình suy nghĩ của mình về trách nhiệm của thanh niên hiện nay đối với biển đảo Việt Nam? (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

… (1) Trong xã hội ta nhiều thanh niên biết tỏ lòng thương yêu quý mến nhân dân bằng những hành động dũng cảm và hào hiệp; lúc chiến tranh xông pha lửa đạn để bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào; lúc bình thường cứu giúp trẻ em bị tai nạn, đỡ đần người đi đường bị ốm đau,… Những việc làm mang nội dung đạo đức tốt đẹp của người thanh niên mới như thế rất đáng biểu dương, khuyến khích.

 (2) Thanh niên phải có tinh thần xung phong, gương mẫu; bất cứ việc gì tập thể cần thì thanh niên phải làm với tinh thần trách nhiệm cao nhất; song phải luôn luôn khiêm tốn, thật thà, không được phô trương, dối trá. Đó cũng là một thái độ đúng đắn của thanh niên đối với nhân dân, của cá nhân đối với tập thể.

 (3) Thanh niên phải dành thì giờ nhất định để giúp đỡ cha mẹ, săn sóc các em, chăm lo một phần công việc gia đình. Người thanh niên nào không biết tí gì đến việc nhà, không kính yêu cha mẹ, không thương mến người thân trong gia đình thì ngoài xã hội làm sao có lòng yêu mến nhân dân thực sự được? Thanh niên cần phải biết tổ chức tốt cuộc sống gia đình hợp với những tiêu chuẩn đạo đức mới nhằm tạo điều kiện cho mọi người trong gia đình làm tròn nghĩa vụ công dân, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng”.

 (Lê Duẩn – Con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức của thanh niên)

Câu 5. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản? (0,25 điểm)

Câu 6. Nêu ý chính của văn bản? (0,5 điểm)

Câu 7. Theo anh/chị vì sao tác giả lại cho rằng: “Người thanh niên nào không biết tí gì đến việc nhà, không kính yêu cha mẹ, không thương mến người thân trong gia đình thì ngoài xã hội làm sao có lòng yêu mến nhân dân thực sự được?”. (0,25 điểm)

Câu 8. Viết đoạn văn 5-7 dòng về phẩm chất đạo đức của thanh niên thời nay mà anh/ chị cho là quan trọng nhất?(0,5 điểm)

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật .
2 Sóng ở câu thơ thứ nhất là con sóng thực, con sóng ngoài biển khơi; nguy cơ hiểm họa đang bủa vây quanh biển.

Sóng ở câu thơ thứ hai có ý nghĩa biểu tượng đó là con sóng của lòng người, con sóngcủa lòng yêu nước, ý thức về chủ quyền đất nước, tinh thần sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc.

– Biện pháp tu từ ẩn dụ : mưa nguồn chớp bể, mây mù, sóng dữ, bão tố.

– Hiệu quả :

+ Thể hiện một cách kín đáo những hiểm họa đang đe dọa cuộc sống trên biển, nguy cơ cao về mất an toàn lãnh thổ của dân tộc ta.

+ Bộc lộ suy nghĩ, trăn trở, lo lắng suy tư của nhà thơ.

3 Suy nghĩ về trách nhiệm của thanh niên với biển đảo:

+ Thanh niên phải nhận thức được biển đảo Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với sự nguy hiểm, sự phức tạp và các hoạt động từ phía Trung Quốc.

+ Điều đó đòi hỏi thanh niên phải sáng suốt, mưu trí, cảnh giác trước âm mưu của các thế lực phản động trong và ngoài nước; dũng cảm, chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường, sẵn sàng hi sinh xương máu, kiên quyết đứng lên bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc, thống nhất và toàn vẹn bảo vệ an ninh của mình.

4 Phương thức biểu đạt chính : Nghị luận.
5 Ý chính của văn bản: những phẩm chất đạo đức mà thanh niên cần có để làm tròn nghĩa vụ công dân, trở thành người có ích cho xã hội.
6 Vì : Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi gắn bó với nhau bằng tình cảm huyết thống thiêng liêng. Nếu với những người trong gia đình mà không biết yêu thương, kính trọng thì cũng không biết yêu thương kính trọng người khác.
7 Về phẩm chất cần có nhất của thanh niên hiện nay: Thanh niên phải có mục đích, lí tưởng sống cao đẹp. Đó là kim chỉ nam cho mọi hành động của họ. Sống có mục tiêu, có lí tưởng cao đẹp sẽ giúp họ có kế hoạch, định hướng học tập, rèn luyện rõ ràng và quyết tâm thực hiện nó đến cùng. Những lí tưởng đó được hiện thực hóa sẽ góp phần vào sự phát triển của xã hội, đất nước.

 

NGÔ SĨ LIÊN BẮC GIANG LẦN 1

PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới, từ câu 1 đến câu 4:

(1) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vừa đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ mất hơn 40 năm nữa để vượt qua mốc thu nhập trung bình. 40 năm nữa nghĩa là chúng ta, những người đang đọc bài viết này đều đã già, rất già. Thậm chí, có những người có thể đã ở thế giới bên kia. Nhưng điều nguy hiểm là không chỉ từng cá nhân, mà ngay cả đất nước này khi ấy cũng đã già nua. …

(2) Cũng giống như một đời người, thời điểm dân số già là lúc quốc gia sẽ phải tiêu tốn tiền bạc đã tích lũy được trong suốt “thời trẻ khỏe” để phục vụ cho giai đoạn không còn hoặc suy giảm khả năng sản xuất. Chẳng hạn, năm 2009 cứ hơn bảy người đi làm mới phải “nuôi” một người già. Nhưng đến năm 2049, cứ hai người làm việc đã phải gánh một người già (chưa kể còn trẻ em). Khi ấy, nếu chúng ta chưa tạo dựng được một nền kinh tế đủ mạnh, cùng nền tảng khoa học kỹ thuật phát triển thì gánh nặng an sinh xã hội cũng như nguy cơ tụt hậu là rất lớn.

(3) Hành động vì tương lai ngay từ lúc này, theo tôi, là điều cần thiết với cả xã hội. Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách. Nợ công được khẳng định vẫn trong giới hạn an toàn. Nhưng cần tính toán trước rằng, 10 -20 năm nữa, khoản nợ ấy sẽ dồn lên vai một cộng đồng dân số đã già, chưa chắc nuôi nổi bản thân, huống hồ là trả nợ. Từng giọt dầu, từng mẩu tài nguyên… cũng cần được tiết kiệm. Bởi đó chính là “của để dành” khi đất nước về già, năng suất lao động đã sụt giảm.

(4) Trong bối cảnh đó, tôi nhận thấy, với một bộ phận thế hệ trẻ, nỗi sợ thời gian dường như vẫn còn rất mơ hồ. Họ vẫn dành thì giờ buôn chuyện, chém gió thay vì tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc. Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu.

(Phan Tất Đức, Già trước khi giàu, Vn.Express,Thứ sáu, 26/9/2014)

Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)

Câu 2: Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Tác dụng? (0,5 điểm)

Câu 3: Theo tác giả, chúng ta, đất nước chúng ta cần làm gì để không rơi vào hoàn cảnh già trước khi kịp giàu? (0,5 điểm)

Câu 4: Hãy viết một đoạn văn (từ 5- 10 dòng) nhận xét thái độ, quan niệm của tác giả thể hiện trong câu: Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu. (1,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt nghị luận.
2 Thao tác lập luận so sánh.

Tác dụng: Giúp người đọc dễ hình dung hơn về những khó khăn của thời điểm dân số già đối với một đất nước, đặc biệt là nước đang phát triển. Từ đó, mỗi người có nhận thức và hành động đúng để Việt Nam không bị già trước khi giàu.

3 Nội dung chính:

Bài viết đã đề cập đến nguy cơ tụt hậu, không đạt được mục tiêu phát triển của đất nước ta nếu không biết chớp thời cơ, bứt phá để vượt lên trong thời điểm dân số vàng.

Do vậy, chúng ta cần hành động vì tương lai ngay từ lúc này, cụ thể:

+ Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách, biết tiết kiệm tài nguyên.

+ Với tất cả mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ cần tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc.

4 Viết được đoạn văn nhận xét về quan điểm, thái độ của tác giả trong câu kết của bài.

Cần thấy được thái độ lo lắng cũng như niềm hi vọng của người viết trước tình hình thực tế của đất nước. Từ đó, nêu suy nghĩ chân thành, nghiêm túc về trách nhiệm của mỗi người trước tương lai của dân tộc.

Đoạn văn viết phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

 

NGÔ SĨ LIÊN BẮC GIANG LẦN 2

Phần I: Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Em hãy đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu dưới:

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời, khi như mặt trăng.

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời

Bảy mươi tuổi mẹ mong ngày được hái

Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

( Mẹ và Quả – Nguyễn Khoa Điềm).

Câu 1 (0.5 điểm) : Bài thơ trên chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào?

Câu 2 (0.5 điểm) : Nêu nội dung chính của bài thơ?

Câu 3 (1.0 điểm) : Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai câu thơ sau và nêu tác dụng nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:

“Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống ”

Câu 4 (1.0 điểm): Viết khoảng 5 đến 7 dòng bộc lộ cảm xúc của em khi đọc hai câu thơ cuối bài?

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là biểu cảm.
2 Nội dung chính của bài thơ: Thể hiện cảm động tình mẫu tử thiêng liêng: tình mẹ dành cho con và tình cảm yêu thương, kính trọng, biết ơn chân thành của người con đối với mẹ.
3 Những biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong câu hai câu thơ: Nhân hóa ( bí và bầu cũng “lớn”), đối lập ( Lớn lên , lớn xuống); hoán dụ (tay mẹ) .

Tác dụng nghệ thuật: (“Bí và bầu” là thành quả lao động “vun trồng” của mẹ ; “Con” là kết quả của sự sinh thành, dưỡng dục, là niềm tin, sự kỳ vọng của mẹ) => Nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng và công lao trời bể của mẹ, đồng thời thể hiện nỗi thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với mẹ.

4 Câu thơ “ Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi / Mình vẫn còn một thứ quả non xanh” , bằng nghệ thuật nói giảm nói tránh „mỏi” và biện pháp ẩn dụ “ quả non xanh”, tác giả thể hiện nỗi niềm lo lắng đến hốt hoảng khi nghĩ đến một ngày mẹ tuổi đã già mà mình vẫn chưa đủ khôn lớn, trưởng thành, vẫn là “ một thứ quả non xanh”, chưa thể thành “trái chín” mẹ mong.

Qua lời tâm sự của tác giả khi nghĩ về mẹ, tự trong lòng mỗi chúng ta dấy lên lòng kính yêu vô hạn đối với cha mẹ và mỗi người đều tự nhủ phải sống sao cho xứng đáng với công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha.

 

NGỌC TẢO HÀ NỘI LẦN 1

 Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt, họ nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng.”

 (Trích Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh)

  1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích? (0.5 điểm)
  2. Khi nói đến tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ mới, tác giả đã dùng những từ ngữ, hình ảnh nào? (0.25 điểm)
  3. Cách diễn đạt “là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua” có ý nghĩa gì? (0.25 điểm)
  4. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) nói lên trách nhiệm của anh/chị đối với tiếng Việt? (0.5 điểm)

Đọc đoạn thơ dưới đây và trả lời câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu chẳng nói nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

(Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Dịch giả Đoàn Thị Điểm)

  1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0.25 điểm)
  2. Nêu nội dung chính của đoạn thơ? (0.25 điểm)
  3. Tìm và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”? (0.5 điểm)
  4. Từ đoạn thơ trên, anh/chị có suy nghĩ như thế nào về chiến tranh? Trả lời bằng một đoạn văn (Khoảng 5 – 7 câu). (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn trích viết theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, sử dụng phương thức nghị luận.
2 Các từ ngữ, hình ảnh thể hiện tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ Mới: “yêu vô cùng”, “họ nghĩ, là tấm lụa … thế hệ qua”.
3 Cách diễn đạt “là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua” có ý nghĩa: khẳng định giá trị tuyệt vời của tiếng Việt, đó là thứ tiếng trong sáng, mềm mại, mang trong nó tâm hồn của dân tộc Việt Nam.
4 Trách nhiệm của học sinh đối với tiếng Việt:

– Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.

– Phê phán những hiện tượng dùng sai tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của nó.

– Phát huy tối đã hiệu quả của tiếng Việt trong giao tiếp, sáng tác.

5 -Đoạn thơ viết theo thể song thất lục bát.
6 Nội dung chính: Nỗi cô đơn lẻ bóng, nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ có chồng ra trận, lâu ngày chưa trở về.
7 Biện pháp so sánh [tựa] đã khắc sâu nỗi buồn của người chinh phụ.
8 Suy nghĩ về chiến tranh:

– Chiến tranh là kẻ hủy diệt bạo tàn, là kẻ thù của tình yêu, hạnh phúc của con người.

– Phản đối, lên án chiến tranh.

 

NGUYỄN HUỆ PHÚ YÊN

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

…Tình trạng quy hoạch các khu đô thị chưa gắn với vấn đề xử lý chất thải, nước thải nên ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô thị đang ở mức báo động. Trong tổng số 183 khu công nghiệp trong cả nước, có trên 60% khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các đô thị chỉ có khoảng 60% – 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải, chất thải nên chưa đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường…Hầu hết lượng nước thải chưa được xử lý đều đổ thẳng ra sông, hồ và dự báo đến năm 2010 là 510.000m3/ngày. Một ví dụ đau lòng của việc xả nước thải, hẳn không ai không biết, là trường hợp của con sông Thị Vải bị ô nhiễm bởi hoá chất thải ra từ nhà máy của công ti bột ngọt Vê Đan suốt 14 năm liền. Điều này khiến cho con sông bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều người dân ở xung quanh…

( Nguồn internet-2010)

 Câu 1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

Câu 2. Nêu nội dung và đặt nhan đề cho đoạn trích( 0,5 điểm)

Câu 3. Trong đoạn trích, tác giả sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu? (0,25 điểm)

Câu 4. Trình bày suy nghĩ của (anh/chị) về việc bảo vệ môi trường ( Viết trong khoảng 5-7 dòng). (0,5 đim)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8

… “Có nơi nào như Đất nước chúng ta

Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ

Khi giặc đến vạn người con quyết tử

Cho một lần Tổ quốc được sinh ra

Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa

Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển

Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta

Như máu ấm trong màu cờ nước Việt

Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển

Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa

Máu của họ ngân bài ca giữ nước

Để một lần Tổ quốc được sinh ra”…

( Trích “Tổ quốc ở Trường Sa” – Nguyễn Việt Chiến)

(Tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh ở đảo đá Gạc Ma )

Câu 5. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

Câu 6. Hãy chỉ ra các biện pháp tu từ và cho biết hiệu quả của các biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ “Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta/ Như máu ấm trong màu cờ nước Việt” (0,5 điểm)

Câu 7. Tác giả đã tái hiện lại tinh thần “vì nước quên thân” của những chiến sĩ ở đảo Gạc Ma qua những cụm từ nào? (0,25 điểm)

Câu 8. Trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc giữ gìn biển đảo quê hương ( viết một đoạn văn khoảng 5 -7 dòng). (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 – Nội dung: Phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường ở mức báo động ở các khu đô thị nước ta.

– Nhan đề: Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị.

3 Thao tác lập luận chứng minh.
4 – Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể và của toàn xã hội.

– Phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.

– Giải pháp:

+ Quy hoạch có chiến lược lâu dài, lấy việc đảm bảo môi trường trong sạch là mục tiêu hàng đầu.

+ Nghiêm túc thực hiện các quy trình xử lí chất thải

+ Xử lí các trường hợp vi phạm luật bảo vệ môi trường 1 cách nghiêm minh.

5 Phương thức biểu cảm.
6 Biện pháp nhân hóa “Mẹ Tổ quốc” và so sánh ” luôn ở bên ta” “như máu ấm trong màu cờ nước Việt”.

-> Tác dụng: Cách gọi “Mẹ Tổ quốc” đầy thân thương, trìu mến cùng phép so sánh đã khẳng định sự vĩ đại mà bao dung, thân thuộc của Tổ quốc trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Tổ quốc luôn bên ta và trong ta, trong triệu triệu trái tim, tâm hồn Việt.

7 Cụm từ: ngày đêm bám biển.
8 Trách nhiệm của tuổi trẻ:

– Giữ gìn biển đảo quê hương là trách nhiệm của mọi công dân nước Việt, nhất là những người trẻ tuổi hôm nay.

– Mỗi người cần ý thức rõ chủ quyền biển đảo quê hương, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

– Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất, từng con sóng, ngọn gió quê hương.

 

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HẢI PHÕNG

Phần I: Đọc – hiểu (3đ)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4

“Liên quan đến vụ tổ chức khủng bố IS đánh bom và xả súng đẫm máu ở Paris hôm 13 – 11 – 2015 vừa qua, khiến 129 người thiệt mạng và cả thế giới bàng hoàng. Tại buổi tưởng niệm các nạn nhân, một video của hãng truyền thông Le Petit Journal đã ghi lại cuộc đối thoại xúc động giữa một ông bố người Pháp gốc Việt và cậu con trai nhỏ về những kẻ khủng bố và thảm kịch vừa xảy ra. Chỉ sau thời gian ngắn, video này đã lan truyền chóng mặt trên các trang mạng xã hội và ngay lập tức nhận được hơn 11 triệu lượt chia sẻ trên Facebook.

Khi được hỏi về chuyện xảy ra ở Paris, cậu bé hồn nhiên cho biêt, đó là do những người độc ác gây ra. Cậu bé còn nói cần phải chuyển nhà vì người độc ác có súng, có thể bắn chết người. Người bố ở bên cạnh dịu dàng trấn an con trai đừng nên lo lắng, sau đó còn dạy cậu bé: “ Họ có súng còn chúng ta có hoa. Những bông hoa có thể chiến đấu chống lại những họng súng”.”

( Nguồn Internet )

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?
  2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
  3. Theo em, hình ảnh súng và hoa ở đây mang ý nghĩa gì?
  4. Viết một đoạn văn từ 5 – 7 dòng trình bày suy nghĩ của em về lời nói dịu dàng trấn an con trai của người bố: “Họ có súng còn chúng ta có hoa. Những bông hoa có thể chiến đấu chống lại những họng súng”.

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8

Anh ra khơi

Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng

Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng

Biển một bên và em một bên

Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên…

(Thơ tình người lính biển – Trần Đăng Khoa)

  1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
  2. Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản ?
  3. Hiệu quả biểu đạt của câu thơ: Biển một bên và em một bên ?
  4. Đoạn thơ cho em cảm nhận gì về hình tượng người lính biển ? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ của văn bản là phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Phương thức biểu đạt chính là tự sự.
3 -Súng là tội ác, là xả súng, chiến tranh, khủng bố, giết người

– Hoa là tình yêu thương, lòng nhân ái, sự quan tâm, cuộc sống hòa bình.

– Súng và hoa là hai hình ảnh đối lập, tượng trưng cho hai nửa thế giới. Một bên là những người luôn muốn gieo rắc tội ác, cái chết cho đồng loại; bên kia là những người luôn ước mong một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc.

4 – Người cha dạy con đối diện với cái ác, cái xấu, không sợ hãi, không lùi bước, nhưng không phải bằng cách thực hiện những hành động như họ mà bằng tình yêu thương con người. Người cha đã truyền cho con mình niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lòng nhân ái, vị tha. Đó là những điều thật nhân văn.
5 Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do
6 Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng là biện pháp so sánh “Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía”, điệp ngữ “Biển một bên và em một bên”, “ngày mai”, tương phản “Biển ồn ào, em lại dịu êm”.
7 – Ý thơ “Biển một bên và em một bên” được điệp lại ở cuối mỗi khổ thơ.

– Tác dụng: nhấn mạnh tình cảm cá nhân đã hòa chung vào tình cảm cộng đồng, tình yêu riêng tư hòa chung vào tình yêu Tổ quốc. Ý thơ còn nhằm diễn tả tâm trạng của anh, tuy chia tay nhưng anh không cô đơn vì được sống trong tình em và tình biển, tình quê hương đất nước.

8 Gợi ý:

– Hình ảnh người lính biển trong bài thơ vừa có lý tưởng cao cả, thiêng liêng, lại vừa gần gũi, đáng yêu với câu chuyện tình yêu riêng tư đã hòa vào tình yêu biển cả.

– Dũng cảm vượt qua mọi sóng gió giữa biển trời mênh mông, hi sinh tình cảm cá nhân, những người lính đã canh giữ sự bình yên cho biển trời Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

– Bày tỏ tình cảm trân trọng, ngưỡng mộ, tự hào và biết ơn các anh.

 

NGUYỄN XUÂN NGUYÊN

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

“Chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa…Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chỉ khi sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng… Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa; Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

 (Không có gì quý hơn độc lập, tự do – Hồ Chí Minh; Báo nhân Dân, số 4484, ngày 17- 7-1966)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên. (0,25đ)

Câu 2: Trong đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng kết hợp những thao tác lập luận nào? (0,25đ)

Câu 3: Chỉ ra 2 biện pháp tu từ chủ yếu được tác giả sử dụng trong đoạn trích trên và nêu ngắn gọn hiểu quả biểu đạt của chúng. (0,5đ)

Câu 4: Từ ý nghĩa của đoạn trích trên và bằng chứng kiến thức lịch sử – xã hội của bản thân. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về giá trị của cuộc sống hòa bình, độc lập hôm nay. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5đ)

Đọc bài thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

Trước ngọn thước là con đường xa tắp

Bông hoa nào cũng vẻ bình yên

Và em tin, qua cay đắng vẫn tin

Những ngọn suối không làm tan bóng

Đã vấp ngã

thưa thầy nhiều vấp ngã!

Chẳng ở đâu xa, ở ngay giữa con người

Em bước đi lặng lẽ nghĩ về thầy

Đời mau quá, vui buồn chưa kịp cũ

Đời mau quá, tóc thầy khói phủ

Giáo án mong manh bão giật đời thường

Cây trước của gió ở ngoài trang vở

Thầy một mình vật vã với văn chương

Đang mưa bão đường về sông nước ngập

Giở trang Kiều thầy giảng chạnh lòng đau.

(Thưa thầy – Hữu Thỉnh)

Câu 5: Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào: (0,25đ)

Câu 6: Xác định hai biện pháp nghệ thuật chue yếu được sử dụng trong bài thơ trên. (0,5đ)

Câu 7: Hình ảnh người thầy hiện lên như thê nào qua các hình ảnh: Đời mau quá, tóc thầy khói phủ / Giáo án mong manh bão giật đời thường / Cây trước của gió ở ngoài trang vở / Thầy một mình vật vã với văn chương? (0,25đ)

Câu 8: Cảm nhận của anh/chị về tâm sự của người học trò đối với người thầy trong bài thơ trên. Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng/ (0,5đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính là phương thức nghị luận.
2 Tác gải sử dụng thao tác lập luận chứng minh, phân tích.
3 – Biện pháp điệp cấu trúc câu và biện pháp liệt kê.

– Tác dụng:

+ Biện pháp điệp cấu trúc câu để tố cáo tội ác kẻ thù, dã tâm xâm lược và hành động xâm chiếm của chúng được thực hiện bằng một đội quân hùng mạnh, có trang bị vũ khí tối tân hiện đại.

+ Biện pháp liệt kê nhằm khẳng định tinh thần anh dũng, bền bỉ, quyết chiến đấu để đất nước thống nhất, độc lập của nhân dân ta. 10 năm, 20 năm hay 50 năm là những con số ước lệ, ý nói dù có lâu bao nhiêu, giặc có lớn mạnh thế nào, quân dân ta vẫn quyết hi sinh tất cả để giành thắng lợi cuối cùng.

4 Hòa bình hôm nay là kết quả của bao thế hệ cha anh đã ngã xuống, hi sinh xương máu, “hóa thân cho dáng hình xứ sở”. Và cho đến hôm nay vẫn có những người ngã xuống vì bình yên của quê hương.

– Lịch sử dân tộc ta là lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước, nên trong hòa bình chúng ta vẫn phải có ý thức giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, không lùi bước trước bất cứ kẻ thù nào. Đồng thời, cần xây dựng đất nước giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc.

5 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
6 – Biện pháp ẩn dụ và điệp ngữ.

– Tác dụng:

+ Điệp ngữ: “tin”, “vấp ngã” điệp ngữ được lặp lại như sự khẳng định cho thêm phần chắc chắn rằng cuộc đời có nhiều vấp ngã và khẳng định niềm tin của nhân vật trữ tình. Điệp ngữ “Đời mau quá” như một sự giật mình thảng thốt đấy tính chiêm nghiệm về sự trôi chảy của thời gian.

+ Ẩn dụ: Những ngọn suối không làm tan bóng lá -> những thay đổi của cuộc đời không làm mất đi ý nghĩa và sức sống của những bài giảng của thầy cũng như tình yêu của thầy đối với văn chương.

7 Hình ảnh người thầy hiện lên đầy ám ảnh.

– Các hình ảnh tương phản: “Tóc thầy khói phủ” chứ không phải là tóc bạc và “Giáo án mong manh” đối với “Bão giật đời thường”. Chỉ vài nét chấm phá chan chứa cảm thông đã vẽ nên chân dung người thầy giáo trong gian khó đời thường.

– Hai câu thơ ám ảnh nhất trong bài: “Cây trước cửa gió ở ngoài trang vở/Thầy một mình vật vã với văn chương” – với lối nói bỏ ngỏ rất gợi của nhà thơ – đã có hiệu quả tối đa chạm tới cõi trắc ẩn của lòng người. Cây trước cửa (chứ không phải ngoài cửa) vẫn chịu “Gió ngoài trang vở” có thể là cây đời, cây người, là cây thầy giáo gieo trồng với tay ra là có thể chạm được rưng rưng màu xanh sự sống với bao hy vọng. Bài học không chỉ ở trong trang vở, mà rõ ràng văn chương đích thực bao giờ cũng hướng tới cuộc đời. Người sáng tạo vật vã đã đành, người chuyển tải qua từng trang giáo án cũng vật vã không kém: “Thầy một mình vật vã với văn chương”. Thật khó có thể thay thế được hai từ nào hay hơn “vật vã” trong văn cảnh này.

8 Những tâm sự của người học trò đối với thầy:

– Khẳng định tình cảm thầy trò sẽ vẫn mãi vẹn nguyên dù qua bao nhiêu thay đổi của cuộc đời.

– Nhớ về những kỉ niệm gắn bó với thầy.

– Đồng cảm với những mối lo đời thường và cả tình yêu đối với văn chương của thầy.

– Qua đó, bày tỏ tình yêu, lòng kính trọng, biết ơn thầy sâu sắc.

 

PHAN THÚC TRỰC

Đọc đoạn thơ sau và thục hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

“ Hôm nay sáng mông hai tháng chín Thủ đô

hoa, vàng nắng Ba Đình Muôn triệu tim chờ…

chim cũng nín Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!

Người đứng trên đài, lặng phút giây Trông

đàn con đỏ, vẫy hai tay

Cao cao vầng trán… Ngời đôi mắt Độc lập

bây giờ mới thấy đây!”

( Trích Theo chân Bác – Tố Hữu)

Câu 1: (0,25đ). Xác định các phương thức biểu đạt của đoạn thơ.

Câu 2: (0,25đ). Khung cảnh Thủ đô sáng ngày mồng hai tháng chín được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3: (0,5đ). Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Muôn triệu tim chờ… chim cũng nín.

Câu 4: (0,5đ). Đoạn thơ gợi cho anh chị cảm xúc gì? Trình bày khoảng 5 – 7 dòng.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vừa đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ mất hơn 40 năm nữa để vượt qua mức thu nhâp trung bình, 40 năm nữa nghĩa là chúng ta, những người đang đọc bài viết này đều đã già,rất già. Thậm chí còn có người đã ở thế giới bên kia. Nhưng điều nguy hiểm là không chỉ từng cá nhân, mà ngay cả đất nước này khi ấy cũng đã già nua.

Cũng giống như một đời người, thời điểm dân số già là lúc quốc qia sẽ phải tiêu tốn tiền bạc đã tích lũy trong suốt “thời trẻ khỏe” để phục vụ cho giai đoạn không còn hoặc suy giảm khả năng sản xuất. Chẳng hạn năm 2009 cứ hơn bảy người đi làm mới phải “nuôi” một người già. Nhưng đến năm 2049, cứ hai người làm việc đã phải gánh một người già ( chưa kể còn trẻ em). Khi ấy, nếu chúng ta chưa tạo dựng được một nền kinh tế đủ mạnh, cùng nền tảng khoa học kỹ thuật phát triển thì gánh nặng an sinh xã hội cũng như nguy cơ tụt hậu là rất lớn

Hành động vì tương lai ngay từ lúc này, theo tôi, là điều cần thiết với cả xã hội. Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách. Nợ công được khẳng định vẫn trong giới hạn an toàn. Nhưng cần tính toán trước rằng, 10 – 20 năm nữa, khoản nợ ấy sẽ dồn lên vai một cộng đồng dân số đã già, chưa chắc nuôi nổi bản thân mình, nữa là trả nợ. Từng giọt dầu, từng mẫu tài nguyên… cũng cần được tiết kiệm. Bởi đó chính là “của để dành” khi đất nước về già, năng suất lao động đã sút giảm.

 Trong bối cảnh đó, tôi nhận thấy, với một bộ phận thế hệ trẻ, nỗi sợ thời gian dường như vẫn còn rất mơ hồ. Họ vẫn dành thì giờ buôn chuyện, chém gió thay vì tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc. Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chũng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu.

 (Theo Tất Đức, Già trước khi giàu, Vn.Express, Thứ sáu, 26/9/2014 )

Câu 5: (0,25đ). Xác định thao tác lập luận được sủa dụng trong đoạn (2).

Câu 6: (0,5đ). Theo tác giả cần có những hành động nào để không rơi vào hoàn cảnh già trước khi giàu?

 Câu 7: (0,25đ). Thái độ của nhà văn thể hiện như nào trong đoạn (4)?

Câu 8: (0,5đ). Câu văn: Trong bối cảnh đó, tôi nhận thấy, với một bộ phận thế hệ trẻ, nỗi sợ thời gian dường như vẫn còn rất mơ hồ gợi cho anh chị suy nghĩ gì về “nỗi sợ thời gian” của giới trẻ hiện nay? Trình bày khoảng 5 – 7 dòng.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Các phương thức biểu đạt của đoạn thơ là phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm.
2 Khung cảnh sáng mùng hai tháng chín được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh sau: hoa, nắng, hình ảnh Bác Hồ Chí Minh, người dân đứng dưới vẫy tay chào đón.
3 – Biện pháp nghệ thuật được sử dụng là biện pháp hoán dụ.

– Tác dụng: Lấy trái tim, là một bộ phận của có thể con người để nói cho toàn bộ con người, muôn triệu tim chờ là muôn triệu người dân Việt Nam chờ đợi giây phút Bác Hồ xuất hiện, chờ đợi phút giây thiêng liêng Bác đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Biện pháp hoán dụ nói lên tâm trạng hồi hộp, sự chờ mong của con người trong thời khắc lịch sử.

4 – Đoạn thơ gợi lên cho em cảm xúc tự hào. Tự hào vì qua hơn 80 năm đấu tranh chống ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp, trải qua hơn 1000 năm dưới chế độ quân chủ chuyên chế, cuối cùng nước ta cũng được độc lập, dân ta được tự do.

– Niềm hân hoan, vui sướng khi chứng kiến cảnh vật, con người đều như khoác áo mới, đều rộn rã, tươi vui.

– Ý thưc trách nhiệm của thế hệ trẻ trước vận mệnh đất nước, phải làm gì để giữ gìn truyền thống dân tộc, để xứng đáng với những gì các thế hệ cha ông đã hi sinh.

5 Thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng là thao tác nghị luận.
6 Để không rơi vào hoàn cảnh già trước khi giàu, theo tác giả, cần phải: tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc, Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách. Nợ công được khẳng định vẫn trong giới hạn an toàn. Nhưng cần tính toán trước rằng, 10 – 20 năm nữa, khoản nợ ấy sẽ dồn lên vai một cộng đồng dân số đã già, chưa chắc nuôi nổi bản thân mình, nữa là trả nợ. Từng giọt dầu, từng mẫu tài nguyên… cũng cần được tiết kiệm. Bởi đó chính là “của để dành” khi đất nước về già, năng suất lao động đã sút giảm.
7 Trong đoạn 4, thái độ của nhà văn e ngại, lo lắng trước việc những người trẻ nỗi sợ thời gian dường như vẫn còn rất mơ hồ. Họ vẫn dành thì giờ buôn chuyện, chém gió thay vì tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc. Tác giả cũng lo sợ nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chũng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu.
8 – Một trong những điều quý giá nhất của cuộc đời là thời gian. Giới trẻ hiện nay có nhiều người không biết trân trọng thời gian, dành thời gian cho những việc vô bổ, bán rẻ tương lai của mình. Có người trân trọng từng phút giây để học tập, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức cho tương lai sau này nghĩa là đang sống một cuộc đời ý nghĩa. Không biết quý thời gian khi trẻ, lúc về già sẽ hối hận.

 

THPT PHÚ NHUẬN LẦN 1

Đọc các đoạn trích sau và trả lời câu hỏi ( từ câu 1 đến câu 4)

Nhìn chung trong thơ cổ điển của nước ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính dân tộc hơn cả, có lẽ thơ Hồ Xuân Hương “Thì treo giải nhất chi nhường cho ai!”. Thơ Hồ Xuân Hương Việt Nam hơn cả, vì đã thống nhất đến cao độ hai tính dân tộc và đại chúng. Xuân Hương cũng là một “nhà nho” chẳng kém ai, cũng giỏi chữ Hán, khi cần cũng ra được câu đối “mặc áo giáp dài cài chữ đinh”, cũng giỏi chiết tự “duyên thiên đầu dọc, phận liễu nét ngang” và dùng tên thuốc bắc một cách tài tình. Nhưng Xuân Hương không chịu khoe chữ. Xuân Hương đối lập hẳn với thái cực Ôn Như Hầu, bài Cung oán ngâm khúc của ông: “Áng đào kiểm đâm bông não chúng- Khóe thu ba dợn sóng khuynh thành” lổn nhổn những chữ Hán nặng trình trịch.

Nội dung thơ Hồ Xuân Hương toát ra từ đời sống bình dân, hằng ngày và trên đất nước nhà. Xuân Hương nói ngay những cảnh có thực của núi sông ta, vứt hết sách vở khuôn sáo, lấy hai con mắt của mình mà nhìn. Cái đèo Ba Dội của Xuân Hương rõ là đèo Ba Dội, ba đèo tùm hum nóc, lún phún rêu, gió lắt lẻo, sương đầm đìa, phong cảnh sống cứ cựa quậy lên chứ chẳng phải chiếu lệ như cái Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, tuy có thanh nhã, xinh đẹp nhưng bị đạp bẹp cho vào đứng im như một bức tranh in ở ấm chén hay lọ cổ. Dễ ít có thi sĩ nào để lại dấu ấn thơ trên nước ta nhiều như Xuân Hương: chợ Trời, Kẽm Trống, Quán Khánh, động Hương Tích… Dễ ít có thi sĩ nào là người Hà Nội như Xuân Hương, xưa đâu ở gần Lí Quốc Sư, đã từng đi dạo cảnh Hồ Tây, ghé chơi chùa Trấn Quốc, từng hoài cổ trước cung Thái Hòa nhà Lí, tới đài Khán Xuân và còn để lại thơ hay thách cả sự lãng quên của thời gian. Xuân Hương vĩnh viễn hóa cái chùa Quán Sứ của thời nàng.

—– Xuân Diệu —–

Câu 1: Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn văn bản trên (0,25 điểm)

Câu 2: Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 3: Câu “ Thơ Hồ Xuân Hương Việt Nam hơn cả, vì đã thống nhất đến cao độ hai tính dân tộc và đại chúng.” là câu có hình thức: (0,5 điểm)

  1. Câu đơn.
  2. Câu đơn đặc biệt.
  3. Câu ghép chính phụ.
  4. Câu ghép đẳng lập.

Câu 4: “ Dễ ít thi sĩ nào để lại dấu ấn thơ trên nước ta nhiều như Xuân Hương: chợ Trời, Kẽm Trống, Quán Khánh, động Hương Tích…Dễ ít thi sĩ nào là người Hà Nội như Xuân Hương, xưa đâu gần Lí Quốc Sư, đã từng đi dạo cảnh Hồ Tây, ghé chơi chùa Trấn Quốc, từng hoài cổ trước cung Thái Hòa nhà Lí, tới đài Khán Xuân và còn để lại thơ hay thách cả sự lãng quên của thời gian.”

Đoạn văn trên khẳng định điều gì ở Hồ Xuân Hương và thơ của bà? Để làm nổi bật nội dung này, tác giả bài viết đã sử dụng hình thức nghệ thuật nào? (0,5 điểm)

Đọc hai văn bản sau và trả lời câu hỏi từ câu 5 đến câu 8

“Tre là loại cây thân cứng, rỗng ở các gióng, đặc ở mấu ở mấu, mọc thành bụi, thường dùng để làm nhà và đan lát”.

(Từ điển Tiếng Việt)

“ Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường

Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc, tre nhường cho con.”

(Trích: Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Câu 5: Xác định phương thức biểu đạt của hai văn bản trên (0,25 điểm)

Câu 6: Xác định phong cách ngôn ngữ của hai văn bản trên (0,25 điểm)

Câu 7: Xác định biện pháp tu từ chính và nêu tác dụng của văn bản b. (0,5 điểm)

Câu 8: Qua hình ảnh tre Việt Nam trong đoạn thơ trên anh (chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng từ 5-7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về hình ảnh con người Việt Nam (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Câu văn nêu ý khái quát chủ đề của đoạn văn bản trên là: “Nhìn chung trong thơ cổ điển nước ta…. chi nhường cho ai”.
2 Trong đoạn (1), tác giả sử dụng chủ yếu thao tác lập luận : so sánh.
3 Chọn đáp án a. Câu đơn
4 Đoạn văn trên khẳng định Hồ Xuân Hương là người phụ nữ có tính tình phóng khoáng, thích đi du lãm nhiều nơi. Những địa danh Xuân Hương đi qua đều để lại dấu ấn trong thơ của bà. Thơ Hồ Xuân Hương tả rất chân thực, sinh động những danh thắng mà nữ sĩ từng đặt chân đến.

Nghệ thuật: Điệp ngữ: “Dễ ít thi sĩ nào”; Liệt kê: chợ Trời, Kẽm Trống,…

5 Phương thức biểu đạt của hai văn bản: Thuyết minh; Biểu cảm
6 Phong cách ngôn ngữ của hai văn bản: Khoa học, nghệ thuật.
7 Biện pháp tu từ chính: nhân hóa. “Lưng trần, phơi nắng, phơi sương. Có manh áo cộc, tre nhường cho con”.

Tác dụng: Khiến hình ảnh cây tre trở nên gợi hình, gợi cảm. Tre cũng có cuộc sống như con người biết yêu thương, chở che, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, chịu thương chịu khó

8 Học sinh trình bày theo quan điểm riêng của mình nhưng phải nêu được một trong những vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam: kiên cường bất khuất, chịu thương chịu khó, yêu thương nhau.

 

PHÚ XUYÊN A

Phần I. Đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật

Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời

Dẫu phải cay đắng dập vùi

Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu

Cây khế chua có đại bàng đến đậu.

Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta

Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa

Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa

Khi ta đến gõ lên từng cạnh cửa

Thì tin yêu ngày tháng đón ta vào

Ta nghẹn ngào, Đất nước Việt Nam ơi!

(Trích trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm)

Câu 1: Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào ? (0,25 điểm)

Câu 2: Chỉ ra hai yếu tố là chất liệu văn hóa dân gian có trong đoạn thơ. (0,25 điểm)

Câu 3: Đoạn thơ thể hiện tình cảm gì của tác giả? (0,5 điểm)

Câu 4: Anh/ chị thích nhất hình ảnh nào trong đoạn thơ trên? Vì sao? Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng. (0,5 điểm).

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

Ngã ba Đồng Lộc trong suốt hơn bốn mươi năm qua đã ghi dấu ấn khốc liệt về sự hủy diệt của kẻ xâm lược đối với một con đường chiến lược mang tên Trường Sơn, một trong những yết hầu quang trọng của con đường ấy. Nó càng được mọi người biết đến bởi ở đó, có mười nữ thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4 cắm chốt nơi đây đã anh dũng hi sinh khi tuổi đời vừa mới đôi mươi.

Được biết ở cái ngã ba nhỏ bé này bốn mươi năm trước, hằng ngày có biết bao cán bộ, chiến sĩ vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu cùng với lực lượng hậu cần chi viện cho tiền tuyến. Ngã ba Đồng Lộc là huyết mạch quan trọng cho một con đường quan trọng. Chính vì thế, đã có trên 1600 cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, dân quân và thanh niên xung phong đã hi sinh ở mảnh đất đầy bom đạn này (họ là bộ đội pháo cao xạ bảo vệ con đường, là lực lượng vận tải , là bộ đội trên đường hành quân, là dân quân chiến đấu và thanh niên xung phong của địa phương luôn bám sát cung đường ngày cũng như đêm, đảm bảo cho giao thông thông suốt trong mọi tình huống). Ít ai trong chúng ta có thể hình dung nổi chỉ 1m2 nơi này đã phải hứng chịu những ba trái bom và cũng chỉ trong 7 tháng ác liệt của năm 1968, thời điểm mà mười chị hi sinh đã có gần 50 ngàn trái bom trút xuống Ngã ba Đồng Lộc. Chỉ trong cái ngày các chị ra đi mãi mãi ấy đã có 60 quả bom tấn trút xuống nơi đây đủ thấy sự tàn khốc của chiến tranh ở mức nào. (…)

(“Chuyện ở Ngã ba Đồng Lộc” – Quốc Phong, theo báo Thanh niên, lichsuvietnam.vn)

Câu 5: Trong văn bản trên, tác giả sử dụng các thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 6: Tác giả đã sử dụng những dẫn chứng cụ thể để chứng minh sự tàn khốc của chiến tranh nơi Ngã ba Đồng Lộc. Anh/chị hãy chỉ ra những dẫn chứng đó. (0,25 điểm)

Câu 7: Phân tích thái độ của tác giả đối với các nhân vật được nhắc đến trong đoạn trích trên. (0,5 điểm).

Câu 8: Trước sự hi sinh của cán bộ, chiến sĩ, dân quân, thanh niên xung phong cho dân tộc trong văn bản trên, anh/chị có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong thời điểm hiện tại. Trình bày trong khoảng 5 – 7 dòng. (0,5 điểm).

 

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ trên viết theo thể thơ : Tự do.
2 Hai yếu tố là chất liệu văn hóa dân gian: Truyện cổ tích (Tấm Cám, Cây khế), tục ngữ (Người ta là hoa đất)
3 Đoạn thơ trên thể hiện niềm tự hào của tác giả về một đất nước giàu truyền thống văn hóa, có sức sống bền bỉ, mãnh liệt.
4 HS chọn một hình ảnh bất kì và lí giải lí do yêu thích hình ảnh đó.

Ví dụ: Hình ảnh: Đất đai cằn cỗi thì con người nở hoa : ca ngợi, tự hào về con người Việt Nam cần cù, chăm chỉ, kiên cường đã khắc phục mọi hoàn cảnh, làm chủ cuộc sống, phát triển đất nước ngày càng phồn thịnh theo năm tháng.

5 Trong văn bản trên , tác giả đã sử dụng các thao tác lập luận : Phân tích và chứng minh.
6 Tác giả đã sử dụng dẫn chứng cụ thể để miêu tả sự tàn khốc của chiến tranh : có trên 1600 cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, dân quân và thanh niên xung phong đã hi sinh ở mảnh đất đầy bom đạn này, 1mét vuông phải hứng chịu ba trái bom , 7 tháng mà 50 ngàn trái bom đã trút xuống ngã ba Đồng Lộc. Trong một ngày các chị ra đi, 60 quả bom tấn chút xuống mảnh đất này.
7 Phân tích thái độ của tác giả đối với các nhân vật được nói đến :

– Với kẻ thù xâm lược, đó là thái độ căm phẫn, uất ức, lên án tố cáo trước tội ác mà kẻ thù gây ra cho dân tộc ta.

– Với những cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn, ngã ba Đồng Lộc là thái độ khâm phục, ngưỡng mộ, ngợi ca tinh thần quả cảm, yêu nước của họ. Đồng thời, bày tỏ niềm thương xót vô hạn trước sự hi sinh của họ.

8 Suy nghĩ về trách nhiệm thế hệ trẻ đối với đất nước trong thời điểm hiện tại :

– Cần gìn giữ, bảo vệ thành quả cách mạng mà cha ông để lại. Đề cao tỉnh thần cảnh giác và nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường cách mạng trước mọi âm mưu của các thế lực thù địch.

– Trong thời bình như hiện nay, nhất là trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, thanh niên cần rèn luyện sức khỏe, trau dồi tri thức, bắt kịp với những tiến bộ khoa học kĩ thuật để xây dựng đất nước.

 

PHÙNG KHẮC KHOAN HÀ NỘI

Phần I : Đọc hiểu ( 3.0 điểm )

Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1đến câu 3

Nhóm tác giả Lê Bích vừa giới thiệu bộ tranh mang tên Chào mừng bạn đến với thời đại smartphone. Lấy chủ đề không mấy xa lạ về trào lưu sống ảo của những người nghiện smartphone, bộ tranh vẽ ra một thế giới, nơi những chiếc điện thoại được tôn xưng là ông hoàng, và những đầy tớ phục vụ chung quanh chính là nhiều bạn trẻ ngày nay. Theo Lê Bích, kỉ nguyên smartphone là thời đại mà “ điện thoại ngày một thông minh và mỏng manh hơn, con người thì ngày một ngu đi và béo ị”, thời đại của những người “ bạn bè ngã thì cười, còn điện thoại rơi thì khóc”. Thời đại smartphone cũng sinh ra những điều khó hiểu như “ chụp ảnh trong nhà xí”, thích người yêu có ngoại hình lí tưởng nhưng lại lỡ bước qua nhau vì mải nhìn vào màn hình điện thoại…vẫn với lối vẽ tranh hài hước, châm biếm, bộ tranh của nhóm tác giả Lê Bích nhắn gửi, với chiếc smartphone trên tay, chúng ta nâng niu vì sợ đánh mất, rơi vỡ, còn nhiều thứ khác khi đánh rơi chúng ta lại quá lười để cúi nhặt lên, như một mối quan hệ, một ước mơ.

( Theo www.ione.vnexpress.net, ngày 29/10/2015 )

Câu 1: Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích trên là gì? ( 0.5 điểm)

Câu 2: Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích trên ( 0.5 điểm )

Câu 3: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 5-7 dòng bàn về tác hại của smartphone (điện thoại thông minh trong đời sống hiện nay ) ( 0.5 điểm )

Đọc kĩ đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 6:

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi

( Trích “ Đò lèn” – Nguyễn Duy )

Câu 4: Tại sao viết về bà tác giả lại liên tưởng đến “ dòng sông xưa” trong đoạn thơ? ( 0.5 điểm)

Câu 5: Các từ “ đã muộn”, “ nấm cỏ” có vai trò gì trong việc thể hiện tâm trạng của nhà thơ? ( 0.5 điểm )

Câu 6: Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về vấn đề đặt ra qua đoạn thơ ( 0.5 điểm )

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích trên là phân tích.
2 Biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu là điệp ngữ “smartphone” nhằm nhấn mạnh sự hiện diện, sức hút cũng như ảnh hưởng của nó với đời sống con người hiện nay.
3 Tác hại của smartphone trong thời đại hiện nay:

– Ánh sáng màu xanh của smartphone gây tổn hại đến võng mạc của mắt, thậm chí là mù lòa theo thời gian nếu thường xuyên xem smartphone vào ban đêm.

– Nghiện điện thoại và các ứng dụng giải trí, nhất là các mạng xã hội khiến giảm hiệu quả học tập, làm việc.

– Hàng loạt “căn bệnh” nảy sinh: “sống ảo”, vô cảm, xã cách với cuộc sống thực, không biết quan tâm đến mọi người xung quanh.

4 Viết về bà, tác giả lại liên tưởng đến “dòng sông xưa” bởi vì dòng sông là hình ảnh gắn với miền quê, đặc biệt nơi đây giờ có nấm mộ bà. Tác giả đã tạo ra 2 hình ảnh đối lập: thiên nhiên vẫn tồn tại đó nhưng bà của ông đã không còn nữa. Vì thế, nỗi xót xa, ân hận càng đau đáu, day dứt, ám ảnh không nguôi.
5 Các từ “đã muộn”, “nấm cỏ” diễn tả tâm trạng nhà thơ đầy dằn vặt, day dứt, ân hận vì sự muộn màng.
6 Viết đoạn văn:

– Tình yêu thương gia đình là tình cảm vĩnh cửu, khi biết thương yêu là dấu hiệu của sự trưởng thành.

– Đôi khi, để nhận ra một điều giản dị, người ta phải trả một cái giá vô cùng đắt ,có thể là sự nhận thức muộn màng về những điều gần gũi. Bởi vậy, mỗi chúng ta hãy trân trọng tình cảm chúng ta đang có ,quý giá nâng niu nó đừng để phải hối hận về sau.

 

QUẢNG NINH LẦN 1

Đọc bài thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Lá đỏ

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

 

Em đứng bên đường như quê hương

Vai áo bạc quàng súng trường.

 

Đoàn quân vẫn đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa.

 

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.

 

Em vẫy tay cười đôi mắt trong.

(Nguyễn Đình Thi, Trường Sơn, 12-1974)

1/ Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

2/ Dựa vào những thông tin trong tác phẩm, nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời của bài thơ. (0,5 điểm)

3/ Hình ảnh “em gái tiền phương” được khắc họa như thế nào? Hình ảnh đó gợi lên cho anh/chị suy nghĩ gì về sự góp mặt của những người phụ nữ trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc? Viết khoảng 10 dòng. (0,5 điểm)

4/ Bài thơ từng được cho là có những dự cảm, dự báo về thắng lợi tất yếu của dân tộc. Theo anh/ chị điều đó được thể hiện qua câu thơ hoặc hình ảnh thơ nào? (0,25 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

“Tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái

“(1) Hôm rồi tôi có dịp ghé nhà một ông tá hải quân cùng quê chơi. Ông hiện phụ trách quân lực của cả một vùng. Ông vừa cất xong ngôi nhà (biệt thự thì đúng hơn) và sắm xe hơi mới. Bước vào phòng khách ngôi nhà, ập vào mắt tôi chính là chiếc tủ rượu hoành tráng được gắn sát chiếm diện tích gần nửa bức tường chính diện. Thôi thì đủ thương hiệu rượu danh tiếng: từ Chivas, Hennessy, Napoleon, Johnnie Walker cho tới Vodka xịn tận bên Nga… được gia chủ bày khá ngay ngắn trên kệ. Ông đi giới thiệu cho chúng tôi xuất xứ từng chai rượu: chai này thằng bạn đi nước ngoài về tặng, chai kia đồng nghiệp cho, chai nọ do cấp dưới biếu với giọng khá hào hứng cũng như thể hiện sự am hiểu về rượu ngoại…. …

(2) Câu chuyện thứ hai tôi muốn đề cập với các bạn thói quen đọc sách của người Do Thái. “Trong mỗi gia đình Do Thái luôn luôn có 1 tủ sách được truyền từ đời này sang đời khác. Tủ sách phải được đặt ở vị trí đầu giường để trẻ nhỏ dễ nhìn, dễ thấy từ khi còn nằm nôi. Để sách hấp dẫn trẻ, phụ huynh Do Thái thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý.” Tác giả Nguyễn Hương trong bài “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện” (đăng trên trang tin điện tử Cinet.com của Bộ VH-TT-DL) kể với chúng ta như vậy. …

(3) Câu chuyện về cái “tủ rượu” của ông tá hải quân trong câu chuyện đầu bài và cái “tủ sách” của người Do Thái, hay câu chuyện “văn hóa đọc” của người Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với khoảng cách phát triển hiện tại giữa chúng ta với thế giới. Để đất nước và con người Việt Nam phát triển về mọi mặt, bền vững, việc đầu tiên là phải làm sao để “văn hóa đọc” của người Việt lan tỏa và thăng hoa, tạo thói quen đọc sách và yêu sách. Muốn phát triển như Âu-Mỹ, Nhật hay người Do Thái, trước hết phải học hỏi văn hóa đọc từ họ. Phải làm sao nhà nhà đều có “tủ sách” để tự hào và gieo hạt, chứ không phải là “tủ rượu” để khoe mẽ vật chất và phô trương cái tư duy trọc phú. Mọi thay đổi phải bắt đầu từ thế hệ trẻ.”

(Dẫn theo http://vanhoagiaoduc.vn/tu-ruou-cua-nguoi-viet-va-tu-sach-cua-nguoi-do thai- 19029.html)

5/ Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

6/ Các ý trong đoạn trích trên được trình bày theo kiểu nào? (0,25 điểm)

7/ Anh/ chị cảm nhận được thông điệp gì từ đoạn trích trên? (0,5 điểm)

8/ Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 giải pháp để phát triển “văn hóa đọc” của người Việt. Trả lời trong khoảng 5- 7 dòng. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Bài thơ viết theo thể thơ tự do.
2 Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: tháng 12/1974. Đó là thời điểm cuộc chiến tranh chống Mĩ ở giai đoạn gấp rút. Tất cả quân và dân đang dồn sức cho tiền tuyến, tiến về Sài Gòn. Bài thơ được tác giả viết giữa rừng Trường Sơn.
3 Hình ảnh “em gái tiền phương”: nhỏ bé giữa rừng Trường Sơn bạt ngàn, lộng gió nhưng lại mang đến cảm giác thân thương, gần gũi vai áo bạc, quàng súng trường – như quê hương; với dáng đứng vững vàng bên đường khi làm nhiệm vụ. Hình ảnh ấy là một biểu tượng về cuộc chiến tranh nhân dân –“em gái tiền phương”, nữ chiến sĩ giao liên hay cô gái thanh niên xung phong. Sự có mặt của cô gái trên đỉnh Trường Sơn nơi tuyến đầu Tổ quốc đã nhắc với mai sau về cuộc chiến đấu toàn dân tham gia, trong đó có sự đóng góp những người con gái trẻ trung xinh đẹp mảnh mai nhưng vô cùng dũng cảm, gan dạ.
4 Bài thơ từng được cho là có những dự cảm, dự báo về thắng lợi tất yếu của dân tộc. điều đó được thể hiện qua câu thơ chào em, em gái tiền phương. Hẹn gặp nhé, giữa Sài gòn.
5 Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí.
6 Các ý trong đoạn trích trên được trình bày theo kiểu quy nạp.
7 Thông điệp từ đoạn trích:

– Đọc sách là một thói quen tốt, giúp phát triển con người toàn diện, cả về trí tuệ và nhân cách. Cần hình thành thói quen đọc sách, nhất là ở thế hệ trẻ.

8 Gợi ý giải pháp biến việc đọc sách thành thói quen phổ biến: xây dựng các thư viện ở khu dân cư, phát huy tối đa vai trò của thư viện trường học, tổ chức các hội thi tìm hiểu, giới thiệu sách,…

 

QUẢNG XƯƠNG 3 LẦN 1

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi chăng nữa. Nó giống một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ, gọn gàng. Mảnh vườn này làm cho chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm cho họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn giông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong mạnh như thế. Con người cần có một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.

 [Theo A.I.Ghec – xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa – Thông tin – Hà Nội, 1997]

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên. (0,25 điểm)

Câu 3: Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp đó trong việc diễn đạt nội dung của đoạn trích? (0,5 điểm)

Câu 4: Theo quan điểm của riêng anh/chị, cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng của của nhà mình gây ra những tác hại gì? [Trả lời ít nhất 2 tác hại trong khoảng 5 – 7 dòng] (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8

Bao giờ cho tới mùa thu

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao

giờ cho tới tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm bờ ao

đom đóm chập chờn

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi Mẹ ru

cái lẽ ở đời

sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn bà ru

mẹ, mẹ ru con

liệu mai sau các con còn nhớ chăng?

(Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Câu 5: Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

Câu 6: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.(0,25 điểm)

Câu 7: Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên và nêu tác dụng. (0.5 điểm)

Câu 8: Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của bản thân về hai câu thơ sau: Mẹ ru cái lẽ ở đời – sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn. (Trong khoảng 5 – 7 dòng) (0,5điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn được viết theo phương thức nghị luận.
2 Nội dung chính của đoạn trích là tác hại, hậu quả của việc sống một cuộc sống riêng, không quan tâm đến ai, không quan tâm đến bất cứ điều gì.
3 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn là biện pháp so sánh. So sánh cuộc sống riêng giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ, gọn gàng. Nhưng mảnh vườn ấy cũng tiềm tang không ít những tác hại đến với chủ nhân của nó. Quan trọng nhất là con người không thể hạnh phúc với một mảnh vườn như thế.

– Tác dụng của biện pháp tu từ đó là làm cho đoạn văn thêm sinh động, giàu hình ảnh. Vấn đề nghị luận mà tác giả đưa ra vì thế không trở nên nặng nề, giáo điều mà được người đọc tiếp nhận một cách trực quan, nhẹ nhàng. Những điều tác giả trình bày trong đoạn văn vì thế dễ đi vào lòng người đọc và được bạn đọc lưu giữ lâu hơn, làm thay đổi nhận thức và hành động.

4 Tác hại của cuộc sống riêng không biết đến bất cứ điều gì ngoài ngưỡng cửa nhà mình:

– Vô cảm với mọi người, mọi điều xảy ra xung quanh mình.

– Không nâng cao được tầm hiểu biết, nhận thức cá nhân. Khi tri thức của nhân loại đang được tang lên hàng ngày theo cấp số nhân mà bản thân chỉ biết thu hẹp bản thân trong vỏ ốc của mình thì không tự mở rộng và phát triển được bản thân.

– Khi xảy ra bất kì sóng gió nào, không có dũng cảm để đối mặt, trở nên lúng túng, dễ thỏa hiệp hay bỏ cuộc, trở thành người hèn nhát, yếu mềm. Lâu dài, sẽ không làm được việc gì có ích và trở thành gánh nặng cho người thân và xã hội.

5 Nội dung chính của đoạn thơ là lời hát ru của mẹ với ý nghĩa sâu sắc, gửi gắm những ước mơ, khát vọng của con người. Nội dung của lời hát ru nuôi lón tâm hồn đứa con. Đồng thời, tác giả cũng đầy trăn trở, liệu rằng mai này lớn lên, con có còn nhớ những lời hát ru ấy để làm đẹp tâm hồn mình và sống cho xứng đáng với những câu hát ngọt ngào ấy của mẹ.
6 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là phương thức biểu cảm.
7 – Biện pháp được sử dụng trong bốn câu thơ đầu là nhân hóa và điệp từ

– Tác dụng:

+ Điệp từ “bao giờ cho tới” được điệp lại hai lần như những ước mong thiết tha, những khát vọng cháy bỏng của người mẹ về một tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng của con. Hình ảnh tuổi thơ vì thế hiện lên đầy sống động, nên thơ. Trong lời ru ấy còn gửi gắm ước mong của mẹ làm sao cho con mau lớn để có thể chứng kiến những cảnh tượng tốt đẹp, để vui chơi với một tuổi thơ tươi đẹp nhất.

+ Nhân hóa “trái bòng trái bưởi đánh đu giữa rằm” là cách nói giàu hình ảnh, tạo nên một cái nhìn trẻ thơ, trong trẻo, hồn nhiên về những trái bòng, trái bưởi ngày tết thiếu nhi, ngày hội trăng rằm.

8 – Hai câu thơ là một chiêm nghiệm, một triết lí sâu sắc về cuộc đời. Đứa trẻ lớn lên nhờ dòng sữa ngọt ngào của mẹ, nhưng dòng sữa mát dịu ấy nuôi lớn con về thể xác, còn tâm hồn con sẽ trưởng thành dần bắt đầu từ những bài hát ru. Đó là sự đúc kết đầy nhân văn của một con người đã trưởng thành từ những lời ru của bà, của mẹ, chứa đựng biết bao tình cảm trân trọng, biết ơn.

 

QUỲNH LƯU NGHỆ AN

Đọc bài thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

MẸ VÀ QUẢ

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời, khi như mặt trăng.

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi một thứ quả trên đời

Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái

Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả xanh non

(Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính và thể thơ của bài thơ trên. (0,25 điểm)

Câu 2. Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện bao nhiêu lần? Chữ “quả” ở dòng thơ nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng thơ nào mang ý nghĩa biểu tượng? (0,25 điểm)

Câu 3. Nêu nội dung chính của bài thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 4. Từ bài thơ, anh/chị có suy nghĩ gì về tình mẹ trong cuộc sống của chúng ta? (Trình bày trong đoạn văn khoảng 5-7 dòng) (0,5 điểm)

Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:

Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.

(Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt và thao tác lập luận chính của văn bản. (0,25 điểm)

Câu 6. Tìm và chỉ ra tác dụng của phép tu từ so sánh được sử dụng trong văn bản trên. (0,25 điểm)

Câu 7. Nêu nội dung chính của văn bản. (0,5 điểm)

Câu 8. Theo anh/chị, cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình gây ra những tác hại gì? (Trả lời ít nhất 02 tác hại theo quan điểm riêng của bản thân trong khoảng 5-7 dòng) (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Phương thức biểu đạt chính : Biểu cảm.

– Thể thơ: bảy chữ. I

– Trong nhan đề và bài thơ, chữ quả xuất hiện 5 lần.

2 – Chữ “quả” mang ý nghĩa tả thực ở các câu thơ:

+ Những mùa quả mẹ tôi hái được.

+ Những mùa quả lặn rồi lại mọc.

– Chữ quả mang ý nghĩa biểu tượng:

+ Và chúng tôi môt thứ quả trên đời.

+ Mình vẫn còn là một thứ quả non xanh

3 Bài thơ thể hiện một cách cảm động tình mẫu tử thiêng liêng: tình mẹ dành cho con và tình cảm yêu thương, kính trọng, biết ơn chân thành của người con đối với mẹ. Đồng thời, bài thơ cũng là nỗi lo âu, hoảng sợ của người con khi chưa kịp trưởng thành để đền đáp công ơn của mẹ.
4 Cần đảm bảo các nội dung:

– Tình mẹ là thứ tình cảm thiêng liêng trong lòng mỗi con người.

– Tình mẹ thể hiện ở việc hy sinh vô điều kiện cho con cái, dành tất cả những điều tốt đẹp nhất cho con.

– Mỗi người cần phải biết trân trọng, gìn giữ và báo đáp công ơn sinh thành nuôi dưỡng của mẹ, của cha

5 Phương thúc biểu đạt: Nghị luận

Thao tác lập luận trong đoạn trích: so sánh.

6 Tác giả đã so sánh cuộc sống của mỗi người (cuộc sống đầy đủ tiện nghi; cuộc sống biệt lập;cuộc sống lúc sóng gió; …) với một mảnh vườn (mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng; mảnh vườn có lớp rào bao quanh; mảnh vườn lúc dông tố nổi lên;…)

Tác dụng: việc sử dụng pháp so sánh khiến đoạn văn trở nên sinh động, truyền cảm, dễ hiểu, có sức thuyết phục cao chứ không khô khan như khi chỉ sử dụng lí lẽ thuần túy.

7 Nội dung chính của văn bản: khẳng định cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống sai lầm.

Hoặc: bác bỏ một quan niệm sống sai lầm: sống bó hẹp trong ngưỡng cửa nhà mình.

8 Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình gây ra những tác hại:

– Tạo cho con người có cái nhìn nhỏ bé, hạn hẹp về thế giới xung quanh.

– Gây nên thói vô cảm, ích kỉ, chỉ biết đến cái tôi cá nhân của mình mà không quan tâm đến mọi người và thế giới xung quanh.

 

QUỲNH LƯU 2 NGHỆ AN LẦN 1

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Những hiện tượng nảy sinh trong giới trẻ thể hiện qua âm nhạc, thời trang, và lối sống cho thấy một lớp văn hoá mới – văn hoá giới trẻ – đã ra đời, hoàn toàn phù hợp với những biến đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội của đất nước trong thời đại mới, đặc biệt là ở những đô thị lớn…Với những đặc điểm của một xã hội mang tính chất hiện đại phản ánh xã hội đô thị Việt Nam đương đại mang lại cho giới trẻ nhiều tự do và chọn lựa hơn…Tuy nhiên, bên cạnh đó, chủ nghĩa hiện đại phản ánh cũng đem đến những lo âu và bấp bênh khi những đổi thay ồ ạt đang diễn ra trên toàn thế giới bao gồm trong nó cả sự mơ hồ do không hề có những chuẩn mực nhất định nào cho những thay đổi này. Đây là những khó khăn mà thế hệ trẻ phải đối mặt trong quá trình xây dựng bản sắc cho riêng mình, những bản sắc đang trong giai đoạn định hình được miêu tả là vụn vặt và rời rạc. Quá trình này đòi hỏi thanh niên phải luôn tỉnh táo, độc lập, làm chủ được những mối quan hệ cũng như tương lai của bản thân. Thực tế cho thấy thanh niên ngày nay phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Những định kiến dựa vào văn hoá truyền thống do vậy sẽ chỉ làm tăng thêm nơi họ sự mơ hồ vốn có. Văn hoá giới trẻ là một thực tế xã hội cần được công nhận. Thanh niên ngày nay rất năng động và luôn nỗ lực hết sức để khẳng định mình. Chúng ta cần khuyến khích điều đó. Cách suy nghĩ cởi mở, khách quan là rất cần thiết trong việc hỗ trợ thế hệ trẻ chọn lựa cho mình một hướng đi đúng đắn.

(Dẫn theo Lê Thu Hường- Lê Duy Thể, http: // www.vanhoahoc.com.)

Câu 1. Đoạn văn trên đề cập tới vấn đề gì? (0.5 điểm)

Câu 2. Tác giả quan tâm đến những hiện tượng nào nảy sinh trong giới trẻ? (0,25 điểm)

Câu 3 Tác giả xác định thanh niên cần phải làm gì để xây dựng bản sắc riêng cho mình? (0,25 điểm)

Câu 4. Theo tác giả, xã hội cần làm gì để hỗ trợ giới trẻ lựa chọn con đường đi đúng đắn? Đánh giá về góc nhìn này? (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Nấm mồ xanh

như một giọt lệ ngưng

trên hình hài Tổ quốc

chúng tôi đến bên anh như lá xanh non cúi nhìn cội rễ một màu

thạch thảo thanh tao.

Từ nơi nào mẹ đã tiễn anh đi? mái rạ,

bờ đê hàng cây, góc phố…

đê vẫn xanh và bờ cây còn gió…

(Viết bên mộ liệt sĩ vô danh– Tuyết Nga)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ ? (0,25 điểm )

Câu 6. Xác định biện pháp tu từ có trong đoạn thơ trên? Tác dụng? (0,5 điểm)

Câu 7. Từ đoạn thơ, nghĩ gì khi thấy có những người làm giả hồ sơ thương binh, bệnh binh? (0.25 điểm)

Câu 8. Viết đoạn văn ngắn (6-8 dòng) trình bày cảm xúc của anh (chị) khi đọc đoạn thơ trên (0.5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn trên đề cập tới vấn đề: về vấn đề văn hóa của giới trẻ.
2 Tác giả quan tâm đến những hiện tượng nảy sinh trong giới trẻ : âm nhạc, thời trang, lối sống.
3 Tác giả xác định thanh niên cần phải tỉnh táo, độc lập, làm chủ được những mối quan hệ cũng như tương lai của bản thân.
4 Theo tác giả, xã hội cần: cần khuyến khích, có cách suy nghĩ cởi mở, khách quan để hỗ trợ giới trẻ lựa chọn con đường đi đúng đắn.

– Đánh giá về góc nhìn này: Đây là góc nhìn biện chứng, khoa học, dân chủ, nhân văn.

5 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.
6 – Xác định biện pháp tu từ có trong đoạn thơ trên và nêu tác dụng

+ Biện pháp ẩn dụ, so sánh: Nấm mồ xanh như một giọt lệ ngưng trên hình hài Tổ quốc.; chúng tôi đến bên anh như lá xanh non cúi nhìn cội rễ

+ Tác dụng: Khẳng định nỗi xúc động của tác giả khi nghĩ về mất mát đau thương, sự cống hiến, sự hi sinh của các anh- những liệt sĩ sĩ vô danh. Xương máu các anh đã vẽ nên hình hài đất nước. Đồng thời thể hiện tấm lòng biết ơn của thế hệ hôm nay với các liệt sĩ đã ngã xuống vì sự bình yên của Tổ quốc.

7 Từ đoạn thơ, nghĩ gì khi thấy có những người làm giả hồ sơ thương binh, bệnh binh. Suy nghĩ: sự phẫn nộ, day dứt, xót xa… vì đó là hành động vô đạo đức, vi phạm pháp luật.
8 Viết đoạn văn ngắn (6-8 dòng) trình bày cảm xúc của anh (chị) khi đọc đoạn thơ trên.

– Về hình thức: đúng yêu cầu một đoạn văn, đúng dung lượng.

– Nội dung: trình bày được cảm xúc: sự xúc động, tự hào, biết ơn…

 

SẦM SƠN LẦN 1

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay được coi như là một sự thực và là một hiện tượng toàn cầu, có những ảnh hưởng đáng kể tới cuộc sống con người. Vấn đề ô nhiễm môi trường bắt nguồn từ khi con người biết săn bắt, hái lượm., biết làm chủ thiên nhiên và dần dần biết cách chế ngự, thay đổi thiên nhiên. Sự thay đổi, chế ngự thiên nhiên mang lại lợi ích thiết thực cho nhu cầu thiết yếu và sự phát triển của con người. Tuy nhiên khi đạt đến một mức độ nào đó vượt quá ngưỡng giới hạn của các sinh vật, của thiên nhiên sẽ nảy sinh vấn đề ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường sống tồn tại dưới các dạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm phóng xạ. Và một trong những biến đổ nguy hiểm nhất đặt ra của hiện tượng ô nhiễm môi trường đó là vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu.

(Báo điện tử)

Câu 1. Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)

Câu 3. Xác định câu chủ đề của đoạn văn? (0,25 điểm)

Câu 4. Từ đoạn trích trên anh/chị hãy nêu quan điểm của mình về sự tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta hiện nay. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trong biếc nói cười thiết tha.

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cách đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa.

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

 Câu 5. Hãy xác định chủ đề của đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

Câu 6. Đoạn thơ được làm theo thể thơ gì? (0,25 điểm)

Câu 7. Nêu biện pháp tu từ được tác giả sử dụng chủ yếu trong đoạn thơ trên? (0,5 điểm)

Câu 8. Câu thơ “Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi” biểu đạt vấn đề gì? (0,5 điểm)

 

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Thao tác lập luận phân tích.
3 Câu chủ đề là câu 1.
4 Một số gợi ý: – Biến đổi khí hậu đối đã có ảnh hưởng lớn tới nước ta hiện nay, gây nên hậu quả nghiêm trọng: thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, nhiệt độ tăng lên, bão lũ, hạn hán,…

– Con người cần có ý thức bảo vệ môi trường để hạn chế sự biến đổi khí hậu, cũng chính là bảo vệ sự sống của chính mình.

5 Chủ đề của đoạn thơ là bộc lộ niềm vui sướng tự hào khi đất nước giành lại được độc lập, chủ quyền.
6 Thể thơ tự do.
7 Biện pháp tu từ chủ yếu trong đoạn thơ là điệp ngữ “của chúng ta” những” và lặp cấu trúc ở các câu 5 – 6, 7 – 8 – 9.
8 Câu thơ “Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi” biểu đạt niềm vui sướng căng tràn của nhà thơ khi đứng gữa không gian rộng lớn của đất nước.

 

SÔNG LÔ LẦN 2

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Thời gian

Thời gian qua kẽ tay

Làm khô những chiếc lá

Kỉ niệm trong tôi

Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn

Riêng những câu thơ còn xanh

Riêng những bài hát còn xanh

Và đôi mắt em như hai giếng nước.

(Văn Cao)

  1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?
  2. Bài thơ được chia làm mấy phần? Nội dung chính của từng phần?
  3. Cụm từ “những câu thơ”, “những bài hát” trong hai câu thơ 5 và 6 có ý nghĩa gì?
  4. Từ “còn xanh” trong hai câu thơ 5 và 6 diễn tả điều gì?

 

Câu Ý Nội dung
I a Văn bản thuộc PCNN nghệ thuật.
b Phần 1 (4 câu thơ đầu): Sức tàn phá của thời gian.

Phần 2 (3 câu cuối): những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian.

c Cụm từ “những câu thơ”, “những bài hát” trong hai câu thơ 5 và 6 có ý nghĩa: Biểu tượng cho nghệ thuật.
d Từ “còn xanh” trong hai câu thơ 5 và 6 diễn tả Sự tồn tại mãi mãi với thời gian.

 

TÂN YÊN LẦN 2

Đọc khổ thơ sau và trả lời câu hỏi:

(…)

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kì

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ, tôi đi

Cô bé nhà bên ( có ai ngờ )

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đèn tròn thương ( quá đi thôi )

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại…

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

(Quê hương Giang Nam)

  1. Đoạn thơ trên kể về sự việc gì? (0,5 điểm)
  2. Tìm và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp trong đoạn thơ? (0,5 điểm)
  3. Đoạn thơ trên cho anh/chị biết thêm điều gì về tâm hồn con người Việt Nam trong những năm kháng chiến? (0,5 điểm)

Đọc đoạn văn và thực hiện các yêu cầu sau:

“Cuộc sống của một người Việt Nam điển hình phần nhiều đã được định đoạt sẵn. Đi học, lên Đại học, tốt nghiệp, tìm một việc làm ổn định, được trả lương tốt, làm trong nhiều năm để được thăng tiến dần dần. Đối với phần lớn người Việt Nam, theo đuổi giấc mơ hình như là chuyện viển vông. Bố mẹ không trả tiền cho bạn đi học để bạn theo đuổi giấc mơ. Bạn cần phải tìm một công việc tốt để có thể giúp đỡ gia đình.

Với những ai có hoàn cảnh gia đình khá giả hơn, nỗi sợ là điều giữ chân họ. Họ e ngại với việc phá vỡ những nguyên tắc xã hội. Phần nhiều người Việt Nam có tính cách thụ động, là những người đi theo chứ không phải người tiên phong. Nếu có ai đó đi trước và thử trước, tôi sẽ theo sau chứ không bao giờ làm người dẫn đường. Áp lực xã hội sẽ khiến bạn phải đi theo con đường đã được vẽ sẵn. Đi lệch hướng là một việc đáng sợ không nên làm.”

(John đi tìm Hùng – Tran Hung John)

  1. Anh/chị hiểu như thế nào là “thụ động”? Tìm từ trái nghĩa với tự đó? (0,5 điểm)
  2. Câu nói: “Nếu có ai đó đi trước và thử trước, tôi sẽ theo sau chứ không bao giờ làm người dẫn đường” gợi liên quan tới câu tục ngữ nào? (0,5 điểm)
  3. Theo anh/chị, ý kiến của Tran Hung John có đúng không? Hay viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của bản thân về điều đó. (0,5 điểm).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn thơ nói về cuộc gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” – một chiến sĩ bộ đội và cô hàng xóm nay đã trở thành du kích, giữa cuộc hành quân.
2 Biện pháp tu từ cú pháp trong đoạn thơ là biện pháp chêm xen: “Cô bé nhà bên ( có ai ngờ )”, “Mắt đèn tròn (thương thương quá đi thôi )”. Tác dụng: bộc lộ kín đáo cảm xúc của nhân vật “tôi” (ngạc nhiên, bất ngờ, yêu mến).
3 Tâm hồn con người Việt Nam trong những năm kháng chiến vừa anh hùng, quả cảm, vừa gần gũi, thân yêu với những tình cảm đời thường nhất.

– Họ anh dũng tham gia kháng chiến, vào bộ đội với ước mong lớn nhất là đánh đuổi giặc thù, giải phóng quê hương. Ở họ, tình yêu nhà, yêu quê hương đã lớn lên thành tình yêu đất nước. Lí tưởng cao nhất là lí tưởng giải phóng dân tộc.

– Những con người hi sinh cao cả. Hi sinh cuộc sống gia đình, nơi có mẹ có cha để nhận lấy trách nhiệm nặng nề mà vinh quang. Những người mẹ sẵn sàng cho con đi kháng chiến dù biết có thể các anh chẳng thể trở về.

– Ở họ luôn có khát khao yêu đương với trái tim mãnh liệt, chân thành. Tình yêu đôi lứa, cá nhân hòa chung vào tình yêu Tổ quốc.

4 Thụ động là làm theo người khác một cách máy móc, không có chính kiến của riêng mình, không sáng tạo, không suy nghĩ.

Từ trái nghĩa với thụ động là chủ động.

5 Câu nói: “Nếu có ai đó đi trước và thử trước, tôi sẽ theo sau chứ không bao giờ làm người dẫn đường” gợi liên quan tới câu tục ngữ “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”
6 HS bày tỏ quan điểm của bản thân, đồng tình hay không đồng tình với ý kiến của Tran Hung Jonh và nêu rõ lí do tại sao.

 

TIÊN HƯNG THÁI BÌNH

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4:

“… Hậu quả nhãn tiền đã quá rõ ràng khi mỗi năm trên mảnh đất hình chữ S có 150.000 người mắc ung thư và nửa số đó phải từ giã cõi đời, ngày càng có nhiều những ngôi “làng ung thư”, ngộ độc thực phẩm từ chóng mặt, nôn mửa cho đến tử vong nay không còn là những trường hợp đơn lẻ ,cá biệt mà mang tính đông loạt, từ vài chục cho đến vài trăm người từ quy mô gia đình cho đến cả trường học và xí nghiệp.

Nguy hơn, thực phẩm bẩn chính là kẻ sát nhân thầm lặng, ảnh hưởng và di hại tới nhiều thế hệ làm kiệt quệ giống nòi, người tiêu dùng có còn đủ tỉnh táo để phân biệt trong ma trận thực phẩm giăng như mạng nhện ấy đâu là sạch, đâu là bẩn hay bất lực tòng tâm để rồi “nhắm mắt đưa chân”.

Nếu không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời, rồi đây 10, 20 năm sau tỷ lệ mắc ung thư và tâm thần của người Việt sẽ cao hơn rất nhiều, mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng sống, cải tạo nòi giống chẳng lẽ bó tay trước những người đang đầu độc dân tộc mình!

Phát triển sẽ là gì nếu không phải giúp người dân nâng cao đời sống, tạo môi trường lành mạnh, an toàn để mỗi chúng ta sống và đóng góp cho xã hội, nhưng thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu không cắt bỏ đi sẽ di căn thành ung thư , háy hành động ngay hôm nay đừng để đến lúc vô phương cứu chữa.”

(Trích “ Vấn nạn thực phẩm bẩn, chẳng nhẽ bó tay?” – Trương Khắc Trà)

  1. Đoạn văn bản trên được viết ttheo phương thức biểu đạt nào? (0,25 điểm)
  2. Hãy cho biết nooin dung của đoạn văn bản. (0,25 điểm)
  3. Chỉ ra biện pháp tu từ và hiệu quả sử dụng của biện pháp tu từ ấy trong câu văn: “thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu không cắt bỏ đi sẽ di căn thành ung thư”. (0.5 điểm)
  4. Theo anh/ chị, biện pháp cụ thể nào để cắt bỏ “Cái u ác tính” thực phẩm bẩn? (0,25 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ 5 đến 8:

“… Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước trôi sông;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.”

(Trích “ Chiều xuân” – Anh Thơ)

  1. Nêu nội dung của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)
  2. Phương thức biểu đạt chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ trên là gì? (0,25 điểm)
  3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Đò biếng lười nằm mặc nước trôi sông”. (0,25 điểm)
  4. Chỉ ra những từ láy có trong đoạn thơ. Phân tích hiệu quả biểu đạt của chúng. (0,5 điểm)

 

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn được viết theo phương thức nghị luận.
2 Nội dung của đoạn văn đề cập đến vấn đề thực phẩm bẩn – hiểm họa của xã hội Việt Nam.
3 – Biện pháp tu từ: so sánh

– Tác dụng: Nhấn mạnh nguy cơ, tác hại to lớn của việc sử dụng thực phẩm bẩn ở nước ta hiện nay. Nó như cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu không cắt ngay sẽ di căn thành ung thư. Khi ung thư rồi thì vô phương cứu chữa.

4 Để cắt bỏ “cái u ác tính” thực phẩm bẩn”, cần phải:

– Xây dựng ý thức của từng người dân trong việc giữ gìn vệ sinh thực phẩm.

– Biện pháp xử lí bằng pháp luật của nhà nước với những cá nhân, tập thể vi phạm vấn đề giữ gìn an toàn vệ sinh thực phẩm.

5 Nội dung của đoạn thơ là khung cảnh chiều xuân trên làng quê thanh bình, mọi cảnh vật đều bình yên, nhẹ nhàng.
6 Phương thức được sử dụng chính trong đoạn thơ trên là miêu tả.
7 -Biện pháp được sử dụng là nhân hóa: “Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi”
8 – Các từ láy được sử dụng là: êm êm, im lìm, vắng lặng, tơi bời.

 – Tác dụng của việc sử dụng từ láy: miêu tả đặc điểm, trạng thái của từng sự vật; làm bức tranh chiều xuân trở nên gợi hình, gợi cảm, toát lên vẻ thanh bình, thơ mộng.

 

THPT THÁI NGUYÊN

Đọc lời bài hát Khát vọng (Phạm Minh Tuấn) và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Hãy sống như đời sống, để biết yêu nguồn cội,

Hãy sống như đời núi, vươn tới những tầm cao,

Hãy sống như biển trào, như biển trào, để thấy bờ bến rộng,

Hãy sống như ước vọng để thấy đời mênh mông,

Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la?

Và sao không là phù sa rót mỡ màu cho hoa?

Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa?

Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư?

Và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông?

Và sao không là hạt giống xanh đất mẹ bao dung?

Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc?

Sao không là mặt trời gieo hạt năng vô tư?

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt của văn bản (0,25đ)

Câu 2: Nêu nội dung bao trùm của văn bản (0,5đ)

Câu 3: Điệp ngữ “Sao không là” có tác dụng biểu đạt như thế nào? (0,25đ)

Câu 4: Qua câu “Và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông?”, tác giả muốn nhắn nhủ điều gì (0,5đ).

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 8 :

“Thưa quý vị! Đã phải trải qua những cuộc chiến tranh ngoại xâm tàn bạo và đói nghèo cùng cực nên khát vọng hòa bình và thịnh vượng của Việt Nam chúng tôi càng cháy bỏng. Chúng tôi luôn nỗ lực tham gia kiến tạo hòa hình, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ hành tinh của chúng ta. Việt Nam đã sẵn sàng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Chúng tôi sẵn lòng đóng góp nguồn lực, dù còn nhỏ bé, như sự chi ân đối với bạn bè quốc tế đã giúp chúng tôi giành và giữ được độc lập, thống nhất đất nước, thoát khỏi đói nghèo. Việt Nam đã và sẽ mãi mãi là một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế…”

(Trích Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước phiên thảo luận cấp cao của Đại Hội đồng LHQ khóa 68)

Câu 5: Đoạn trích sử dụng phong cách chức năng ngôn ngữ nào? (0,25đ)

Câu 6: Theo tác giả, Việt Nam đã làm gì để chứng tỏ mình là “một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”? (0,25đ)

Câu 7: Vì sao Việt Nam mong muốn “sẽ mãi là một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”? (0,5đ)

Câu 8: Đặt nhan đề cho đoạn trích trên (0,5đ)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Xác định phương thức biểu đạt biểu cảm.
2 Nội dung bao trùm của văn bản: Bày tỏ khát vọng mãnh liệt được cống hiến cho xã hội, cho cuộc đời.
3 Điệp ngữ “sao là không là” có tác dụng nhấn mạnh khát vọng cao đẹp của người nghệ sĩ, lời thúc giục, nhắc nhở con người về lẽ sống đẹp.
4 Câu thơ “và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông” gợi suy nghĩ: khát vọng mãnh liệt, mạnh mẽ sống phải có trách nhiệm phải làm đổi thay cuộc sống, góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước.
5 Đoạn trích sử dụng phong cách chức năng ngôn ngữ: chính luận.
6 Việt Nam đã trở thành “một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” qua các việc làm:

– Việt Nam nỗ lực tham gia kiến tạo hòa bình ,xóa đói giảm nghèo ,bảo vệ hành tinh của chúng ta.

– Sẵn sàng tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên Hợp Quốc.

– Sẵn lòng đóng góp nguồn lực dù còn nhỏ bé, như sự chi ân với bạn bè quốc tế đã giúp chúng tôi giành và giữ độc lập.

7 Việt Nam mong muốn trở thành “một đối tác tin cậy,một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” vì:

– Việt Nam đang trong công cuộc hội nhập để phát triển nên việc trở thành một đối tác tin cậy sẽ giúp các nước tạo điều kiện thuận lợi,giúp đỡ Việt Nam .

– Việt Nam muốn trở thành một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế để mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp của Việt Nam sẽ được quốc tế bảo vệ, can thiệp , hỗ trợ .

8 Đặt nhan đề: Việt Nam và khát vọng hòa nhập quốc tế.

 

SỞ GIÁO DỤC THANH HÓA

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;

Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,

Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

Làm giật mình một cô nàng yếm thắm

Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra ho

(Chiều xuân– Anh Thơ, Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục 2008, tr.51-52)

Câu 1. Các từ êm êm, im lìm, tơi bời, vu vơ, rập rờn, thong thả, chốc chốc thuộc loại từ gì? (0.25 điểm).

Câu 2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi? Tác dụng của biện pháp tu từ đó? (0.5 điểm)

Câu 3. Tìm những câu thơ có sử dụng từ chỉ màu sắc. (0.25 điểm)

Câu 4. Viết một đoạn văn (7 – 10 dòng) thể hiện cảm nhận của anh/chị về bức tranh quê buổi chiều xuân được tác giả phác hoạ trong bài thơ. (0.5 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi, đã từng ca ngợi Nguyễn Trãi như sau: “Gió thanh hây hẩy gác vàng, người như một ông tiên ở trong tòa ngọc. Cái tài làm hay, làm đẹp cho nước, từ xưa chưa có bao giờ…”. Nguyễn Trãi không phải là một ông tiên. Nguyễn Trãi là người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lý tưởng cao quý. Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc. Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Nguyễn Trãi rất xứng đáng với lòng khâm phục và quý trọng của chúng ta. Ca ngợi người anh hùng của dân tộc, chúng ta đã rửa mối “hận nghìn năm” của Nguyễn Trãi.

(Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc – Phạm Văn Đồng, dẫn theo Bài tập Ngữ văn 11, tập 1, NXB Giáo dục 2008, tr.72)

Câu 5. Trong câu “Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi, đã từng ca ngợi Nguyễn Trãi như sau…”, cụm từ “một người bạn của Nguyễn Trãi” là thành phần gì? (0.25 điểm)

Câu 6. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Tác dụng của thao tác lập luận ấy ? (0.5 điểm)

Câu 7. Phép liên kết chủ yếu được tác giả sử dụng trong đoạn trích là gì? (0.25 điểm)

Câu 8. Nêu nội dung chính của đoạn trích? (0.5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Từ láy
2 – Biện pháp tu từ nhân hoá

– Tác dụng: Bức tranh quê được cảm nhận sinh động và có linh hồn.

3 Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời (màu tím)

Ngoài đƣờng đê cỏ non tràn biếc cỏ (màu xanh)

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ (màu đen)

Trong đồng lúa xanh rờn và ƣớt lặng (màu xanh)

Làm giật mình một cô nàng yếm thắm (màu đỏ)

4 Đoạn văn cần đảm bảo được các ý:

+ Khái quát được vẻ đẹp yên bình của bức tranh quê buổi chiều xuân

+ Bức tranh là những nét phác hoạ về thiên nhiên

+ Một bức tranh dùng tĩnh để tả động cho thấy vẻ đẹp giản dị, thanh bình

+ Tình cảm gắn bó của con người trước cảnh vật

5 Thành phần phụ chú.
6 – Thao tác lập luận so sánh.

– Tác dụng: Sử dụng thao tác lập luận so sánh đã góp phần làm nên vẻ đẹp phong phú của con người Nguyễn Trãi.

7 – Phép lặp và phép thế.
8 Đoạn trích tập trung ca ngợi Nguyễn Trãi vừa là một thi nhân với “cái tài làm hay, làm đẹp cho nước, từ xưa chưa có bao giờ”, lại vừa là một anh hùng có cả sự nghiệp lừng lẫy lẫn mối “hận nghìn năm”.

 

THỪA THIÊN HUẾ

Đọc kĩ ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4:

“Chƣa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng nhƣ không thoát hết đƣợc vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kiết (kết tụ lại) cái u uất vào tận bên trong lòng ngƣời thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra đƣợc. Nó là nỗi ủ kín bực dọc bƣng bít. Nó giống nhƣ cái trạng huống thở than của một cảnh ngộ tri âm…Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dƣ ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thƣa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cỡ cuối thu dầm dề mƣa ẩm và nhức nhối xƣơng tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành….Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím”

( Trích từ “Chùa đàn” – Nguyễn Tuân)

Câu 1: Đoạn văn trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Nêu các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ đó? ( 0,5 điểm)

Câu 2: Trong ngữ liệu trên, Nguyễn Tuân sử dụng rất nhiều tính từ chỉ tính chất. Anh chị hãy thống kê 5 từ láy chỉ tính chất. ( 0,25 điểm)

Câu 3: Biện pháp tu từ chủ yếu nào được tác giả sử dụng trong việc miêu tả tiếng đàn? Tác động của biện pháp tu từ ấy? ( 0,5 điểm)

Câu 4: Đoạn văn này giúp anh/ chị nhớ đến tiếng đàn của các nhân vật nào trong những tác phẩm đã học ở chương trình Ngữ Văn THPT? Hãy trình bày nét tương đồng với tiếng đàn trong tác phẩm ấy.( 0,25 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bầu và bí thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

( Mẹ và quả – Nguyễn Khoa Điềm)

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lƣng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao

( Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Câu 5: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn thơ thứ nhất? ( 0,25 điểm)

Câu 6: Em hiểu như thế nào về câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”? (0,25 điểm)

Câu 7: Những điểm giống nhau về nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ trên là gì? (0.5 điểm )

Câu 8: Từ nội dung của hai đoạn thơ trên,anh ( chị ) hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 đến 7 dòng) nêu suy nghĩ của em về tình mẫu tử (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
2 Các từ láy chỉ tính chất: ngậm ngùi, hậm hực, nghẹn ngào, dầm dề, khốn đốn.
3 Biện pháp tu từ nhân hóa.
4 Có thể liên tưởng đến tiếng đàn của Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên. Nét tương đồng: tiếng đàn cũng chính là tiếng lòng thổn thức, đau đớn của các nhân vật, nó hé mở về cuộc đời đầy bi kịch của nhân vật.
5 Phương thức tự sự.
6 “Thời gian chạy qua tóc mẹ”: Nói tới sự trôi chảy của thời gian cũng như già nua của người mẹ theo thời gian.
7 Giống nhau về nội dung: Cả hai đoạn thơ đều bày tỏ nỗi xót xa, tình yêu thương, trân trọng, biết ơn của con với những hi sinh, vất vả của mẹ.

Giống nhau về nghệ thuật: Đều sử dụng rất thành công nghệ thuật tương phản, nhân hóa; Hình ảnh thơ giàu sức biểu cảm.

8 Viết đoạn văn đúng yêu cầu về hình thức: một đoạn văn, 5 -7 dòng, diễn đạt trôi chảy, không mắc lỗi diễn đạt.

Nội dung: Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, cao quý, cần biết trân trọng. Bày tỏ lòng biết ơn, tình yêu thương với bậc sinh thành…

 

THUẬN THÀNH – BẮC NINH

 Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Tthơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thƣờng. Làm thơ là đang sống, không phải chỉ nhìn lại sự sống, làm một câu thơ yêu, tâm hồn cũng rung động nhƣ khi có ngƣời yêu trƣớc mặt. Bài thơ là những câu, những lời diễn lên, làm sống ngay lên một tình cảm, một nỗi niềm trong lòng ngƣời đọc. Ta nói truyền sang hình nhƣ ngƣời đọc chỉ đứng yên mà nhận. Nhƣng kì thực, cái trạng thái tâm lí truyền sang ấy là ngƣời đọc tự tạo cho mình, khi nhìn những chữ, khi nghe những lời, khi mọi sợi dây của tâm hồn rung lên vì chạm thấy những hình ảnh, những ý nghĩa, những mong muốn, những tình cảm mà lời và chữ của bài thơ kéo theo đằng sau nhƣ vầng sáng xung quanh ngọn lửa.

(Nguyễn Đình Thi, Mấy ý nghĩ về thơ, Ngữ văn 12. tập một)

Câu 1 : Xác định phong cách ngôn ngữ chính của văn bản? (0,25 điểm)

Câu 2: Chỉ ra câu văn nêu nội dung chính của văn bản?(0,25 điểm)

Câu 3: Theo Nguyễn Đình Thi. nhà thơ dùng phương tiện/chất liệu nào để thể hiện tình cảm. cảm xúc của mình? (0,5 điểm)

Câu 4: Trong số những bài thơ đã học hoặc đã đọc. bài thơ nào để lại cho anh (chị) ấn tượng sâu đậm nhất? Tình cảm/cảm hứng chủ đạo mà nhà thơ gửi gắm trong bài thơ đó là gì? Tình cảm/cảm hứng ấy đã tác động như thế nào đến đời sống tinh thần của anh (chị)? Hãy trả lời ngắn gọn trong khoảng 10 – 12 dòng. (0,5 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Bên kia sông Đuống

Quê hƣơng ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tƣơi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hƣơng ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

 Ruộng ta khô Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lƣỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm. SGK Ngữ văn 12. Nâng cao. Tập một. NXB Giáo dục Việt Nam. 2013.tr.17)

Câu 5: Xác định các phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn thơ.(0,25 điểm)

Câu 6: Tìm những từ ngữ, hình ảnh thể hiện lòng căm thù giặc của tác giả.(0,25điểm)

Câu 7: Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của nhà thơ ?(0,5 điểm)

Câu 8: Từ đoạn thơ trên, hãy viết một đoạn văn ngắn (10 – 12 câu) về tình yêu quê hương của thanh niên hiện nay. (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
2 Câu: Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường.
3 Theo Nguyễn Đình Thi, nhà thơ dùng phương tiện/chất liệu là ngôn ngữ (lời và chữ) để thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình.
4 Thí sinh nêu tên một bài thơ, nêu được tình cảm/cảm hứng chủ đạo, chỉ ra tác động của bài thơ đến đời sống tinh thần. Nội dung câu trả lời phải hợp lí, có sức thuyết phục.
5 Miêu tả, tự sự, biểu cảm.
6 Các từ ngữ, hình ảnh là: khủng khiếp, ngùn ngụt lửa hung tàn, ruộng ta khô, nhà ta cháy, chó ngộ một đàn, lƣỡi dài lê sắc máu.
7 – Niềm tự hào về truyền thống văn hóa và tình yêu thiết tha với quê hương.

– Nỗi đau xót khi quê hương bị giặc xâm chiếm.

– Lòng căm thù quân xâm lược.

8 Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ theo những hướng khác nhau, nhưng cần làm rõ các nội dung:

– Tình yêu quê hương của thanh niên hiện nay phải được thể hiện ở sự cố gắng gìn giữ những giá trị văn hóa, tinh thần của quê hương; học tập và lao động, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh.

– Phê phán những biểu hiện của thái độ ích kỉ, bàng quan trước những vấn đề của quê hương; những biểu hiện của tình yêu quê hương chưa đúng đắn.

 

THUẬN THÀNH 1 LẦN 2

Phần I: Đọc – Hiểu (3 điểm) Đọc văn bản sau :

(1) Đƣa những cuốn sách về với quê hƣơng mình, với mái trƣờng cũ thân thƣơng của mình, để các em nhỏ sẽ không còn “khát” sách đọc. Đó là công việc thiện nguyện của những ngƣời tham gia chƣơng trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”, đang chung tay đeo đuổi mục tiêu để 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc nhƣ trẻ em thành phố.

(2) Anh Nguyễn Quang Thạch, ngƣời khởi xƣớng chƣơng trình hiện đang trong quá trình đi bộ xuyên Việt từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh. Chuyến đi đƣợc khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015. Anh là cử nhân tiếng Anh, đã từng trải qua nhiều vị trí ở cơ quan nhà nƣớc và từng làm việc cho một số tổ chức quốc tế. Chuyến đi bộ xuyên Việt của anh lần này là mong muốn kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trƣờng học, dòng họ… để đạt con số 300 nghìn tủ sách đƣợc xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc.

(…) (3) Chƣơng trình Sách hóa nông thôn Việt Nam ra đời theo mong muốn của anh là nhằm giải quyết vấn đề thiếu sách ở nông thôn mà theo anh là để nâng cao dân trí, xây dựng tinh thần chia sẻ trách nhiệm xã hội trong cộng đồng. Tâm nguyện của anh là tạo ra một hệ thống thƣ viện mi-ni rộng khắp cả nƣớc để mọi ngƣời dân thôn quê có thể tiếp cận tri thức. Chƣơng trình Sách hóa nông thôn Việt Nam đến nay đã thực hiện thành công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách đƣợc xây dựng, giúp hơn 200 nghìn ngƣời dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm.”

(Trích “Đưa sách về làng” – Nhân dân cuối tuần tháng 4 năm 2015)

Trả lời các câu hỏi:

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.
  2. Đoạn (2) giới thiệu những thông tin gì về hành động “đi bộ xuyên Việt” của anh Nguyễn Quang Thạch?
  3. Từ nội dung văn bản, hãy nêu mục tiêu và kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”.
  4. Theo số liệu của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch: hiện nay, trung bình người Việt đọc 0,8 cuốn sách/năm. Từ thực trạng này, anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về anh Nguyễn Quang Thạch và chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam” do anh khởi xướng. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Đọc văn bản sau:

Tôi đứng lặng giữa cuộc đời nghiêng ngả

Để một lần nhớ lại mái trƣờng xƣa

Lời dạy ngày xƣa có tiếng thoi đƣa

Có bóng nắng in dòng sông xanh thắm.

Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng

Trƣởng thành này có bóng dáng hôm qua

Nhớ đƣợc điều gì đƣợc dạy những ngày xa

Áp dụng – chắc nhờ cội nguồn đã có.

Nƣớc mắt thành công hoà nỗi đau đen đỏ

Bậc thềm nào dìu dắt những bƣớc đi

Bài học đời đã học đƣợc những gì

Có nhắc bóng ngƣời đƣơng thời năm cũ.

Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ

Để cây đời có tán lá xum xuê

Bóng mát dừng chân là một chốn quê

Nơi ơn tạ là mái trƣờng nuôi lớn.

Xin phút tĩnh tâm giữa muôn điều hời hợt

Cảm tạ mái trƣờng ơn nghĩa thầy cô.

(Lời cảm tạ – sưu tầm)

Trả lời các câu hỏi:

  1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên?
  2. Nêu rõ phép tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng”.
  3. Nêu nội dung chính của bài thơ trên.
  4. Anh chị hiểu hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán lá xum xuê” như thế nào? Từ ý thơ này, hãy viết một đoạn văn ngắn nêu vai trò của mái trường và thầy cô đối với cuộc đời của mỗi người. trả lời trong 5- 10 dòng.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
2 Những thông tin về hành động đi bộ xuyên Việt của anh Nguyễn Quang Thạch

– Về hành trình: từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh

– Về thời gian: khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015.

– Về mục đích: kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học, dòng họ… để đạt con số 300 nghìn tủ sách được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc.

3 Mục tiêu và kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn ViệtNam”

– Mục tiêu: 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em thành phố.

– Kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”: thực hiện thành công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm.

4 Cần nêu được quan điểm của bản thân về anh Nguyễn Quang Thạch và ý nghĩa của chương trình “Sách hóa nông thôn ViệtNam”. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

– Anh Nguyễn Quang Thạch: là một người có tâm huyết với cộng đồng, có lí tưởng sống đẹp, biết chăm lo cho sự phát triển của thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em nông thôn.

– Chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam“: là một chương trình thiết thực, ý nghĩa, giúp cho mỗi người có nhận thức đúng hơn về sách và quan tâm nhiều hơn đến việc đọc sách.

5 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: biểu cảm.
6 Câu thơ “Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng” sử dụng phép tu từ ẩn dụ: “ngọt đắng”: chỉ những thăng trầm, buồn vui trong cuộc đời.
7 Nội dung chính của đoạn thơ trên: Đoạn thơ ghi lại tâm trạng, suy nghĩ của một người học trò khi đã rời xa mái trường với tình cảm yêu thương, trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc. Càng trưởng thành, càng nếm trải những thăng trầm, buồn vui trong cuộc sống, mỗi người lại càng thấm thía hơn tấm lòng bao dung, yêu thương và công lao của thầy cô, mái trường.
8 Hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán lá xum xuê” thể hiện công lao to lớn của thầy cô đối với học trò: chăm chút, thắp sáng ước mơ, niềm tin cho học trò bằng cả trái tim yêu thương để từ đây, các em bước ra đời vững vàng, cứng cáp, sẵn sàng cống hiến cho cuộc đời.

Đoạn văn cần nêu được vai trò của thầy cô và mái trường đối với cuộc đời mỗi người: giúp mỗi người hoàn thiện bản thân về trí tuệ, tâm hồn

 

TRẦN PHÚC VĨNH PHÚC LẦN 1

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

…Trả lời phỏng vấn trong chƣơng trình truyền hình trực tiếp của Hãng truyền hình Mỹ ABC News, giới thiệu về hang Sơn Đoòng của Việt Nam, phó Thủ tƣớng Vũ Đức Đam đã nói: “Phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu sống còn đối với du lịch mà với cả nền kinh tế. Cần đảm bảo phát triển song hành với bảo vệ môi trƣờng; gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp và quan trọng hơn là ngƣời dân địa phƣơng có thể tham gia và thừa hƣởng thành quả phát triển.

Trong hơn 20 năm qua, kinh tế Việt Nam tăng trƣởng liên tục ở mức trung bình gần 6% trong khi thu nhập của nhóm 40% ngƣời có thu nhập thấp tăng tới trên 9%. Du lịch cũng giúp nhiều ngƣời cải thiện cuộc sống.

Việt Nam có rất nhiều phong cảnh rất đẹp, đa dạng và nền văn hóa đậm đà. Chúng tôi có 54 dân tộc với những nét văn hóa truyền thống độc đáo. Chúng tôi khuyến khích phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái để du khách khám phá thiên nhiên và chiêm ngƣỡng nét văn hóa của các dân tộc”.

(Theo Tin tức online )

Câu 1. Nêu nội dung chính của đoạn trích trên ? (0,5 điểm)

Câu 2. Dựa vào đoạn trích hãy cho biết, Phó Thủ tướng quan niệm như thế nào về “phát triển bền vững” đối với du lịch ? (0,25 điểm)

Câu 3. Phó Thủ tướng khuyến khích phát triển du lịch văn hóa và du lịch sinh thái dựa trên cơ sở nào ? (0,25 điểm)

Câu 4. Viết đoạn văn từ 10 đến 15 dòng, quảng bá cho một địa điểm du lịch mà em ấn tượng nhất. (0,5 điểm)

Đọc các đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

  1. Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rƣợu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhƣng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhƣng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!” Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi đƣợc mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhƣng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rƣợu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo…

 (Trích Chí Phèo – Nam Cao, Ngữ văn 12, tập1, NXB Giáo dục 2006)

  1. Làng trên xóm dƣới! Bên sau phía trƣớc! Bên ngƣợc bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, thằng nào con nào ở gần đây mà qua, đứa ở xa mà lại, nó day tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi thì buông tha nó ra, không thì tôi chửi cho đơơới !

 (Trích Bƣớc đƣờng cùng – Nguyễn Công Hoan, NXB Văn học 2004)

Câu 5. Anh/ chị hiểu khái niệm “chửi”là như thế nào ? (0,25 điểm)

Câu 6. Cho biết chủ thể, đối tượng, nguyên nhân, mục đích của lời chửi trong đoạn trích (a) và (b) (0,25 điểm)

Câu 7. Raxun Gamzatop nói: Mỗi làng quê đều có riêng những lời chửi rủa, hai đoạn trích trên đã thể hiện “nghệ thuật chửi” có lớp có lang, có vần có điệu như thế nào? (0,5 điểm)

Câu 8. Theo anh/chị có nên giữ thói quen “chửi” trong cuộc sống không? Làm thế nào để ngay cả khi giận dữ vẫn có thể hành xử một cách có văn hóa? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản:

– Phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng đối với du lịch;

– Du lịch thức đẩy kinh tế phát triển cải thiện cuộc sống của nhiều người; Việt Nam khuyến khích phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái.

2 Phó thủ tướng quan niệm “phát triển bền vững” là:

– Du lịch phải song hành với bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa truyền thống.

– Người dân địa phương tham gia và hưởng lợi từ du lịch.

3 Phó Thủ tướng khuyến khích phát triển du lịch văn hóa và du lịch sinh thái vì: Việt Nam có nhiều phong cảnh rất đẹp, đa dạng và nền văn hóa đậm đà, độc đáo.
4 Yêu cầu:

– Hs viết đoạn văn thuyết minh với dung lượng từ 10 đến 15 câu.

– Nội dung cần có: tên điểm du lịch, ấn tượng sâu sắc nhất khi đến với điểm du lịch này.

5 Khái niệm “chửi”: Là dùng lời lẽ nặng nề, gay gắt, thô tục để mắng mỏ, xúc phạm, làm nhục một ai đó.
6 Đoạn trích (a):

+ Chủ thể: Chí Phèo

+ Đối tượng: trời, đời, cả làng Vũ Đại, những ai không lên tiếng đáp lời Chí; “đứa đẻ ra Chí” – XH TDPK;

+ Nguyên nhân: Chí say rượu và nhận ra mình đã bị biến thành kẻ tha hóa, cô độc;

+ Mục đích: chửi để được giao tiếp.

– Đoạn trích (b):

+ Chủ thể: người đàn bà mất gà ;

+ Đối tượng: đứa trộm gà;

+ Nguyên nhân: mất gà, tiếc của;

+ Mục đích: chửi để tìm gà và đe những kẻ trộm gà.

7 – “Nghệ thuật chửi” đoạn 1: lời chửi tưởng như vô duyên cớ của kẻ say rượu nhưng đó là tiếng chửi của kẻ tỉnh táo, nhận ra kẻ thù của đời mình – cái đứa đẻ ra Chí – xã hội thực dân phong kiến. Đối tượng chửi được sắp xếp có lớp có lang, phạm vi thu hẹ dần: từ trời, đời, làng Vũ Đại,…

– “Nghệ thuật chửi” đoạn 2: sử dụng phép đối, ngắt nhịp đều đặn tạo cho lời chửi có vần có điệu nhịp nhàng, trầm bổng, réo rắt bài bản.

8 – Trong xã hội hiện đại con người không nên giữ thói quen “chửi”, vì mọi mâu thuẫn, bất đồng, tức giận đều có thể giải quyết bằng đối thoại với lời lẽ văn minh, lịch sự. Mọi góp ý, chỉ dạy, quan điểm cá nhân cũng sẽ được bày tỏ thấu tình đạt lí qua đối thoại văn minh chứ không phải là chửi đổng, chửi thề.

– Khi giận dữ luôn phải nhắc mình nhớ nguyên tắc thứ nhất là bình tĩnh, kiềm chế không nên “cả giận mất khôn”, không nói năng bột phát, nói lấy được. Giữ im lặng chờ sự việc lắng xuống, khi tức giận qua đi thì xem xét kỹ lưỡng sự việc và bày tỏ ý kiến quan điểm bằng lời lẽ chừng mực có văn hóa.

 

VIỆT YÊN BẮC GIANG

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 5:

Bây giờ là buổi trƣa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thƣờng cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cƣời một mình.

Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tƣơng đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh nhƣ đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”

 Xa đến đâu mặc kệ, nhƣng tôi thích ngắm mắt tôi trong gƣơng. Nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại nhƣ chói nắng.

(Lê Minh Khuê – “Những ngôi sao xa xôi”)

Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?

Câu 2: Về cấu tạo ngữ pháp, câu văn “Im ắng lạ” thuộc loại câu nào?

Câu 3: Câu văn “Một cái cổ cao, kiêu hãnh nhƣ đài hoa loa kèn” có sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Hiệu quả của biện pháp nghệ thuật đó?

Câu 4: Cụm từ được gạch chân trong câu “Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá” là thành phần nào trong câu?

Câu 5: Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy?

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn: phương thức tự sự.
2 Về cấu tạo ngữ pháp, câu văn “Im ắng lạ” thuộc loại câu đặc biệt.
3 – Câu văn “Một cái cổ cao, kiêu hãnh nhƣ đài hoa loa kèn” có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh.

– Hiệu quả: khắc họa vẻ đẹp của nhân vật “tôi”, vẻ đẹp tự tin kiêu hãnh khó lẫn.

4 Cụm từ được gạch chân trong câu “Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá” là thành phần khởi ngữ trong câu.
5 Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất.

 

VĨNH PHÚC LẦN 1

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về

Có con nghé trên lƣng bùn ƣớt đẫm

Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Chƣa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt nhƣ đất cày, nhƣ lụa

Óng tre ngà và mềm mại nhƣ tơ.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

 Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.

( Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ – Thơ tình, NXB Văn học 2002)

  1. Các phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên là gì ?
  2. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:

Ôi tiếng Việt nhƣ đất cày, nhƣ lụa

Óng tre ngà và mềm mại nhƣ tơ.

  1. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn thơ.
  2. Viết một đoạn văn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh (chị ) sau khi đọc câu thơ: Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 8:

(1) Có thể sẽ có nhiều, rất nhiều ngƣời không tin. Làm sao để tin đƣợc bởi vì chữ “nghề” đƣợc hiểu là công việc để kiếm sống, tức là có thu nhập để chăm lo cho cuộc sống bản thân, gia đình. Nên nói làm từ thiện là “đi cho” chứ ai lại “cá kiếm” bao giờ.

(2) Chuyện tƣởng nghe chừng vô lý, là khó xảy ra, nhƣng nó lại là sự thật, thậm chí xuất hiện nhan nhản cứ nhƣ “nấm mọc sau mƣa” trên… mạng xã hội Facebook. Mạng thì tƣởng là ảo, nhƣng chuyện là thật và tiền là thật của trò kiếm sống bằng nghề “làm từ thiện” online.

… (3) Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận, những mảnh đời kém may mắn là một trong những điều độc ác. Thế nên ai đang nghĩ, đang suy tính hay đang lọc lừa bằng cách “lấy từ thiện làm nghề mƣu sinh”, ắt hẳn chƣa bao giờ có đƣợc một giấc ngủ trọn vẹn. Họ mới chính là những ngƣời đáng thƣơng hơn cả những ngƣời có số phận không may, kém may mắn, phải không các bạn?

 (Theo Blog – Dantri.com.vn, 18/12/2015)

  1. Văn bản trên thuộc kiểu phong cách ngôn ngữ nào?
  2. Chỉ ra giọng điệu và thái độ của tác giả trong đoạn (1).
  3. Thao tác lập luận trong đoạn (3) là gì?
  4. Phân tích cấu tạo ngữ pháp và xác định kiểu câu của câu văn sau: Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận, những mảnh đời kém may mắn là một trong những điều độc ác.

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Những phương thức biểu đạt của đoạn thơ: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.
2 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: So sánh

– Nêu tác dụng: Biện pháp so sánh được sử dụng khiến hai câu thơ trở nên mềm mại, cuốn hút. So sánh tiếng Việt với đất cày, lụa, tre ngà, tơ tác giả gợi ra vẻ bình dị, nên thơ, gần gũi, gắn bó của

– tiếng Việt với cuộc sống của người nông dân, đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu, ý thức trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp văn hóa quý báu của dân tộc.

3 Nội dung chính của đoạn thơ là: Ca ngợi vẻ đẹp, thể hiện sự gắn bó, yêu quý, thấu hiểu của tác giả với tiếng Việt.
4 – Câu thơ cho thấy những ân tình của tiếng Việt, những giá trị cao cả mà tiếng Việt bồi đắp và dẫn dắt.

– Câu thơ cũng nhắc nhở về tình cảm mến yêu tha thiết, ý thức trách nhiệm của mỗi người trong việc gìn giữ, bảo vệ làm cho tiếng Việt ngày càng giàu và đẹp.

5 – Văn bản thuộc kiểu phong cách ngôn ngữ : Báo chí.
6 – Giọng điệu: Mỉa mai, châm biếm .

– Thái độ: Bất bình, khinh miệt,…

7 Thao tác lập luận trong đoạn (3) : Bình luận.
8 + Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận, những mảnh đời kém may mắn: Chủ ngữ

+ là một trong những điều độc ác: Vị ngữ

– Thuộc kiểu câu đơn.

 

VĨNH PHÚC LẦN 2

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Ăn tết rừng xong từ

giã chú tắc kè

chúng tôi xuôi – ào ào cơn lũ đổ các binh

đoàn tràn vào thành phố đang mùa thay

lá những hàng me

Lá me vàng lăn tăn trải thảm phố hè

chồi xanh lăn tăn nơi đầu cành run rẩy

cơn gió thoảng chút hƣơng rừng đâu đấy hạt mƣa

đầu mùa trong suốt giữa lòng tay

 

Ngƣời bạn tôi không về tới nơi này anh

gục ngã bên kia cầu xa lộ

anh nằm lại trƣớc cửa vào thành phố

giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh

 

Đồng đội, bao ngƣời không “về tới” nhƣ anh nằm lại

Cầu Bông, Đồng Dù, và xa nữa … tất cả họ, suốt một

thời máu lửa

đều ƣớc ao thật giản dị: sắp

 về!

Thành phố Hồ Chí Minh, Tết Mậu Ngọ, 1978

(Trích Tiếng tắc kè kêu trong thành phố – Nguyễn Duy, Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, 1984)

Câu 1. Những phương thức biểu đạt nào được sử dụng trong đoạn thơ?

Câu 2. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: chúng tôi xuôi – ào ào cơn lũ đổ.

Câu 3. Điều ƣớc ao thật giản dị được nói tới ở cuối đoạn thơ đã thể hiện niềm mong mỏi gì của người lính nói riêng và của toàn dân tộc nói chung?

Câu 4. Đoạn thơ gợi cho anh/chị tình cảm gì với những người lính? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

(1) Cái quý giá nhất trên đời mà mỗi ngƣời có thể góp phần mang lại cho chính mình và cho ngƣời khác đó là “năng lực tạo ra hạnh phúc”, bao gồm năng lực làm ngƣời, năng lực làm việc và năng lực làm dân.

(2) Năng lực làm ngƣời là có cái đầu phân biệt đƣợc thiện – ác, chân – giả, chính – tà, đúng – sai…, biết đƣợc mình là ai, biết sống vì cái gì, có trái tim chan chứa yêu thƣơng và giàu lòng trắc ẩn. Năng lực làm việc là khả năng giải quyết đƣợc những vấn đề của cuộc sống, của công việc, của chuyên môn, và thậm chí là của xã hội. Năng lực làm dân là biết đƣợc làm chủ đất nƣớc là làm chủ cái gì và có khả năng để làm đƣợc những điều đó. Khi con ngƣời có đƣợc những năng lực làm việc này thì sẽ thực hiện đƣợc những điều mình muốn. Khi đó mỗi ngƣời sẽ trở thành một “tế bào hạnh phúc”, một “nhà máy hạnh phúc” và sẽ ngày ngày “sản xuất hạnh phúc” cho mình và cho mọi ngƣời.

 (3) Xã hội mở ngày nay làm cho không ai là “nhỏ bé” trên cuộc đời này, trừ khi tự mình muốn “nhỏ bé”. Ai cũng có thể trở thành những “con ngƣời lớn” bằng hai cách, làm đƣợc những việc lớn hoặc làm đƣợc những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn. Và khi biết chọn cho mình một lẽ sống phù hợp rồi sống hết mình và cháy hết mình với nó, mỗi ngƣời sẽ có đƣợc một hạnh phúc trọn vẹn. Khi đó, ta không chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc, mà còn có cả một cuộc đời hạnh phúc. Khi đó, tôi hạnh phúc, bạn hạnh phúc và chúng ta hạnh phúc. Đó cũng là lúc ta thực sự “chạm” vào hạnh phúc.

 (Để chạm vào hạnh phúc Giản Tư Trung, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, 3/2/2012)

Câu 5. Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn (2) của đoạn trích trên.

Câu 6. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích.

Câu 7. Tại sao tác giả lại cho rằng: Xã hội mở ngày nay làm cho không ai là “nhỏ bé”?

Câu 8. Anh/Chị chọn cách “chạm” vào hạnh phúc bằng việc “làm những việc lớn” hay “làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn”. Vì sao? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ: biểu cảm, tự sự, miêu tả.
2 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ là biện pháp so sánh.

– Hiệu quả: Làm nổi bật những bước chân dồn dập, tâm trạng đầy háo hức của những người lính trong ngày trở về.

3 Niềm mong mỏi đoàn tụ của người lính và khát vọng hòa bình của cả dân tộc.
4 Bày tỏ được tình cảm chân thành, sâu sắc dành cho người lính, như: xúc động, thương tiếc trước sự hi sinh của người lính; xót xa, day dứt trước những đau thương, mất mát do sự tàn khốc của chiến tranh; biết ơn, cảm phục, tự hào về họ.
5 Thao tác lập luận chính là giải thích.
6 Nội dung chính của đoạn trích: Bàn về năng lực tạo ra hạnh phúc và cách thức để chạm đến hạnh phúc của con người.
7 Theo tác giả, Xã hội mở ngày nay làm cho không ai là “nhỏ bé”, bởi vì: Ai cũng có thể trở thành những “con ngƣời lớn” bằng hai cách, làm đƣợc những việc lớn hoặc làm đƣợc những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn.
8 – Trình bày được sự lựa chọn lối sống theo quan điểm riêng của bản thân: hoặc làm những việc lớn, hoặc làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn, hoặc kết hợp cả hai tùy vào từng thời điểm trong cuộc đời.

– Nêu lí do thuyết phục để khẳng định sự lựa chọn theo quan điểm riêng của bản thân.

 

YÊN LẠC LẦN 2

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Đánh giá đời sống của mỗi ngƣời cao hay thấp hãy nhìn vào thời gian nhàn rỗi của họ. Có ngƣời làm việc “đầu tắt mặt tối” không có lấy chút nhàn rỗi. Có ngƣời phung phí thời gian ấy vào các cuộc nhậu nhẹt triền miên. Có ngƣời biết dùng thời gian ấy để phát triển chính mình. Phải làm sao để mỗi ngƣời có thời gian nhàn rỗi và biết sử dụng hữu ích thời gian ấy là một vấn đề lớn của xã hội có văn hóa.

Đánh giá đời sống một xã hội cũng phải xem xã hội ấy đã tạo điều kiện cho con ngƣời sống với thời gian nhàn rỗi nhƣ thế nào. Công viên, bảo tàng, thƣ viện, nhà hát, nhà hàng, câu lạc bộ, sân vận động, điểm vui chơi,…là những cái không thể thiếu. Xã hội càng phát triển thì các phƣơng tiện ấy càng nhiều, càng đa dạng và càng hiện đại. Xã hội ta đang chăm lo các phƣơng tiện ấy, nhƣng vẫn còn chậm, còn sơ sài, chƣa có sự quan tâm đúng mức, nhất là ở các vùng nông thôn.

Thời gian nhàn rỗi chính là thời gian của văn hóa và phát triển. Mọi ngƣời và toàn xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi ngƣời.

(Phỏng theo Hữu Thọ, dẫn theo SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.94)

Câu 1. Đoạn trích trên chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

Câu 2. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích trên? (0,5 điểm)

Câu 3. Đặt nhan đề cho đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 4. Nêu ít nhất 03 biện pháp để sử dụng thời gian nhàn rỗi của bản thân một cách hợp lí. Viết một đoạn văn ngắn 5 -7 dòng. (0,5 điểm).

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 7:

Năm 20 của thế kỷ 20

Tôi sinh ra. Nhƣng chƣa đƣợc làm ngƣời

Nƣớc đã mất. Cha đã làm nô lệ.

Ôi những ngày xƣa… Mƣa xứ Huế

Mƣa sao buồn vậy, quê hƣơng ơi!

Ngẩng đầu lên, không thấy mặt trời

Ðất lai láng những là nƣớc mắt…

 

Có lẽ vậy thôi… Tôi đã trôi nhƣ con thuyền lay lắt

Trên dòng sông mù sƣơng

Tôi đã khô nhƣ cây sậy bên đƣờng

Ðâu dám ƣớc làm hoa thơm trái ngọt

Tôi đã chết, lặng im, nhƣ con chim không bao giờ đƣợc hót

Một tiếng ca lảnh lót cho đời

Nếu chậm mùa xuân ấy, em ơi!

(Một nhành xuân – Tố Hữu)

Câu 5. Trong đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)

Câu 6. Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh mặt trời nƣớc mắt trong đoạn thơ. (0,5 điểm)

Câu 7. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất được thể hiện trong 7 dòng thơ cuối? (0,5 điểm)

 

Câu Ý Nội dung
I 1 – Đoạn trích chủ yếu sử dụng thao tác lập luận bình luận
2 Nội dung chính của đoạn trích: Nói về việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của mỗi người, nêu thực trạng và kêu gọi mọi người, xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi bởi đó là vấn đề văn hóa.
3 Đặt nhan đề: Thời gian nhàn rỗi/ Sử dụng thời gian nhàn rỗi/ Thời gian nhàn rỗi- vấn đề văn hóa…
4 – Hình thức: HS viết đúng hình thức đoạn văn, đúng quy định về số dòng (không đúng trừ 0,25).

– Nội dung: Nêu ít nhất 3 biện pháp để sử dụng thời gian nhàn rỗi của bản thân một cách hợp lí:

Ví dụ: đọc sách, chơi thể thao, tham gia các câu lạc bộ, du lịch…

5 – Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
6 – Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh:

+ Mặt trời – tượng trưng cho tự do/ ánh sáng của lí tưởng/cuộc sống tươi đẹp;

+ Nƣớc mắt – tượng trưng cho sự thương đau/ mất mát/ nô lệ/ lầm than/ cuộc sống tối tăm.

7 – Biện pháp nghệ thuật tiêu biểu nhất: So sánh. – Tác dụng: thể hiện rõ tình trạng mất phương hướng, mất niềm tin và mơ ước, sống vô nghĩa, lay lắt c

 

YÊN LẠC LẦN 2

Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Hùng vĩ thay, toàn thân đất nƣớc

Tựa Trƣờng Sơn, vƣơn tới Trƣờng Sa

Từ Trà Cổ rừng dƣơng đến Cà Mau rừng đƣớc

Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa

Đã qua, thuở âm u bóng giặc

Trắng khăn tang, tàn lụi cỏ cây

Đã qua, mỗi đêm Nam ngày Bắc

Giữa quê hƣơng mà nhƣ kiếp đi đày (…)

Tôi lại mơ … Trên Thái Bình Dƣơng

Tổ quốc ta nhƣ một thiên đƣờng

Của muôn triệu anh hùng làm nên cuộc sống

Của tự do, hy vọng, tình thƣơng…

( Trích Vui thế, hôm nay … – Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 1999)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25đ)

Câu 2. Trong khổ thơ đầu tiên, tác giả đã dùng những hình ảnh nào để làm rõ sự “hùng vĩ” của “toàn thân đất nƣớc”? (0,25đ0

Câu 3. Chỉ ra và phân tích ý tác dụng của biện pháp so sánh trong khổ thơ thứ hai. (0,5đ)

Câu 4. Hai dòng cuối của khổ thơ thứ ba cho thấy những phẩm chất gì của con người Việt Nam? (0,5đ) (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng )

Đọc đoạn văn bản sau đây và thực hiện yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Về nƣớc sau 10 năm học và sống ở Anh, chỉ ở vài ngày, anh bạn tôi đã phải thốt lên: “Toàn ngƣời ăn, ngƣời chơi thế này thì lấy ai xây dựng đất nƣớc?”. Vào lúc 8 – 9 giờ sáng, cao điểm nhất của giờ làm việc, nam thanh nữ tú ngồi la liệt, lƣớt điện thoại. Ngƣời gác chân thủng thẳng, ngƣời thẩn thơ gạt tàn thuốc, nhâm nhi cà phê… Đến chiều, cùng vào giờ hành chính, các quán cà phê vẫn cứ tấp nập ngƣời. Sau 16 giờ, các quán nhậu từ sang trọng đến bình dân đều đông nghẹt.

Khách hàng trẻ ngƣời Việt đã trở thành “cỗ máy in tiền”, cho các quán cà phê, đồ ăn nhanh, rạp chiếu phim nhập ngoại. Thậm chí, những thƣơng hiệu gà rán, đồ ăn nhanh mà bạn tôi nói rằng bên nƣớc ngoài ế ẩm lắm thì vào Việt Nam lại trở thành hàng “hot”. Ngƣời trẻ kéo nhau vào giết thời gian đồng thời thể hiện độ sành điệu.

Trong một cuộc giao lƣu, với câu hỏi làm sao để trở nên giàu có của các bạn trẻ, chủ tịch một tập đoàn đa quốc gia chua chát trả lời rằng trƣớc khi bàn đến việc to tát, các bạn hãy dốc sức vào công việc nhỏ, hãy bớt thời gian cà phê, ăn nhậu, thời gian lên mạng vô bổ… Lƣời mà thích chơi sang. Sự lãng phí không chỉ chuyện những chai bia, điện thọa xịn, xe đẹp mà rất nhiều ngƣời Việt đang phung phí cả những thứ quý giá nhất của đời ngƣời là thời gian, sức khỏe và trí tuệ.

(Theo dân trí.com.vn, ngày 28/03/2016)

Câu 5. Chỉ ra phong cách ngôn ngữ chính của đoạn trích trên (0,25đ)

Câu 6. Đoạn trích trên đã nhắc đến những điều đáng trách nào của một bộ phận giới trẻ? (0,5đ)

Câu 7. Trong đoạn trích, lời khuyên đưa ra cho những người trẻ tuổi muốn làm giàu là gì? (0,25đ)

Câu 8. Thế hệ trước đã đổ bao xương máu để “Tổ quốc ta nhƣ một thiên đƣờng – Của muôn triệu anh hùng làm nên cuộc sống”, vậy thế hệ hôm nay đã sống xứng đáng với những sự hi sinh đó hay chưa? (0,5đ)( trình bày khoảng 5 đến 7 dòng )

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
2 Tác giả đã dùng những hình ảnh để làm rõ sự “hùng vĩ” của “toàn thân đất nước”: “tựa Trƣờng Sơn, vƣơn tới Trƣờng Sa”, “Trà Cổ rừng dƣơng đến Cà Mau rừng đƣớc”, “đỏ bình minh mặt sóng khơi xa”.
3 Biện pháp so sánh trong khổ thơ 2: “Giữa quê hương mà như kiếp đi đày” nói về năm tháng chiến tranh ác liệt của dân tộc, những người dân họ sống trên mảnh đất quê hương mà như người tù khổ sai, lao dịch trước sự áp bức bóc lột của thực dân trong chiến tranh -> Bộc lộ nỗi đau xót trước tình cảnh của nhân dân và lòng căm thù giặc sâu sắc.
4 Hai dòng cuối của khổ thơ thứ ba cho thấy những phẩm chất của con người Việt Nam: hiên ngang, bất khuất, kiên cường, dũng cảm, dám hi sinh cho độc lập, tự do của dận tộc; lối sống nghĩa tình, chan chứa yêu thương và hi vọng vào ngày mai tươi sáng.
5 Phong cách ngôn ngữ: báo chí.
6 Đoạn văn trên nhắc đến điều đáng trách của bộ phận giới trẻ: thói lười làm chỉ thích ăn chơi, hưởng thụ, lãng phí (cà phê, facebook, ăn sang, dành nhiều thời gian lên mạng).
7 Trong đoạn trích trên, lời khuyên đưa ra cho giới trẻ muốn làm giàu là:Trước khi làm những việc to tát các bạn hãy dốc sức vào những công việc nhỏ, hãy bớt thời gian cà phê ăn nhậu,thời gian lên mạng vô bổ…
8 Thế hệ hôm nay đã và đang cố gắng sống xứng đáng với sự hi sinh đó : mỗi người hôm nay đã và đang ý thức được giá trị của hiện tại là nhờ sự hi sinh anh dũng của thế hệ trước. Bởi vậy, mỗi người ở cương vụ khác nhau, nghề nghệp khác nhau, tuổi tác khác nhau đã và đang góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam. Sự đóng góp toàn diện,vững mạnh trên mọi mặt trận tạo điều kiện cho nước nhà ngày càng ổn định vững mạnh. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một bộ phận thanh niên sống lười biếng, ỷ lại, thích hưởng thụ, sống không có lí tưởng,… như vậy là thiếu trách nhiệm với bản thân, xã hội và tương lai đất nước.

 

YÊN THẾ BẮC GIANG LẦN 2

Ngày 1-1947 – Trong khi đợi anh em công nhân thu xếp cơ quan in, Khang và tôi in đã. Nhƣng mới làm việc đƣợc độ một tuần thì Tƣ lại lên, bàn nên thiên lại chỗ nhà đồng chí Chẩn, liên lạc ở dƣới tiện hơn.

Lại chuyển vận gạo, muối, vải, đá luôn hai ngày. Mình khuân vác đã khá khoẻ rồi. Đi núi, cũng nhanh hơn, đỡ mệt hơn. Đƣờng đi đến nhà đồng chí Chẩn, bấy giờ mình thấy thƣờng rồi. Nhƣng đƣờng lên cơ thì thật là cơ cực. Hoàn toàn không có đƣờng đi. Dốc chết ngƣời. Nhiều chỗ phải bám lấy cây, đánh đu lên. Thế mà mình vẫn đeo nửa bị dó gạo, cố đi cho bằng đƣợc. Đi ba, bốn chuyến liền, mỗi chuyến vừa lên vừa xuống đến một giờ. Lúc này mình mới biết đƣợc sức của mình. Thì ra mình cũng khoẻ chẳng kém gì ai. Thƣờng thƣờng, ngƣời ta chƣa bao giờ dùng đến tất cả sức lực của mình. Một phần khả năng của ngƣời ta vẫn bỏ phí hoài, đến nỗi ta không biết rằng ta có nó. Tôi thấy rằng sau kháng chiến, nếu tôi thích đi cày, đi cuốc hơn cầm bút, tôi có thể đi cày, đi cuốc đƣợc. Cực nhọc không đáng sợ.

Anh bạn hỡi ! Hôm đi Phú Thọ, mới phải ngồi thuyền chật, anh đã cằn nhằn suốt cuộc hành trình. Anh thật là thảm hại !

Thiên ơi ! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện cho con chóng hơn cha luyện. Con sẽ không chế. Con sẽ thành cứng rắn.

(Nhật ký Ở rừng, Nam Cao).

Đọc đoạn văn trên và thực hiện những yêu cầu sau:

  1. Đoạn trích được viết bằng thể nhật ký. Để viết thành công thể văn này, nhà văn Nam Cao đã dùng phương thức biểu đạt nào là chủ đạo? Tại sao ? (0.5 điểm).
  2. Chỉ ra phương thức liên kết chính của đoạn trích. (0.5 điểm).
  3. Tư tưởng mà người cha nói với con ở cuối đoạn trích: Thiên ơi ! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện cho con chóng hơn cha luyện. Con sẽ không chết. Con sẽ thành cứng rắn đem đến cho anh (chị) nhận thức gì ? (Viết đoạn văn khoảng 20 dòng giấy thi) (1 điểm).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Phương thức biểu đạt chủ đạo mà nhà văn Nam Cao sử dụng là phương thức tự sự. Đặc trưng của thể nhật kí là kể lại các sự việc diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn nào đó. Nhà văn Nam Cao sử dụng phương thức tự sự để đáp ứng yêu cầu trên của thể loại.
2 Phương thức liên kết chính của đoạn trích là phương thức nối. Nhà văn sử dụng những từ nối như sau: nhƣng, lại, cũng, thế mà (cụ thể học sinh đọc vào đoạn trích).
3 Tư tưởng mà người cha nói với con ở cuối đoạn trích: “Thiên ơi ! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện cho con chóng hơn cha luyện. Con sẽ không chết. Con sẽ thành cứng rắn.” thể hiện triết lí sống về sự rèn luyện con người qua thử thách cuộc đời là điều cần thiết đối với mỗi con người.

Cuộc sống với những gian nan thử thách mà nó đặt ra sẽ rèn luyện con người trở nên cứng rắn hơn, mạnh mẽ hơn. Người cha nói với con câu triết lí này không chỉ nhấn mạnh vai trò của việc trải nghiệm trong cuộc đời, trong câu nói đó người đọc nhận thấy vẻ đẹp của tình cha đối với con, một người cha đầy trải nghiệm cuộc sống.

 

 

YÊN THẾ LẦN 3

Phần I. Đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4.

” Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hoà bình, hữu nghị nhƣng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hoà hình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.

(Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

Câu 1: Nội dung cơ bản của đoạn trích là gì ? (0.25 điểm)

Câu 2: Nội dung đó được thể hiện chủ yếu qua phép liên kết nào ? (0.25 điểm)

Câu 3: Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nƣớc, nhất định không chịu làm nô lệ“.

Anh/ chị hãy tìm ra thông điệp chung của hai văn bản ? Thông điệp đó đã thể hiện sâu sắc truyền thống cao quí nào trong đời sống tinh thần, tình cảm của dân tộc? (0.25 điểm).

Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 15 câu trình bày suy nghĩ của anh/ chị về sức mạnh của truyền thống yêu nước (0.75 điểm).

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 7.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải bƣớc biên cƣơng mồ viễn xứ

Chiến trƣờng đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Tây Tiến ngƣời đi không hẹn ƣớc

Đƣờng lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

– Phù Lưu Chanh, 1948, Tây Tiến, Quang Dũng –

Câu 5. Anh (chị) hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ trên (0,25 điểm).

Câu 6. Từ “Tây Tiến” được lặp lại bao nhiêu lần trong đoạn trích ? Tác dụng của phép điệp ấy là gì ? (0,25 điểm).

Câu 7. Từ hai câu thơ Áo bào thay chiếu, anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành, anh (chị) hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 20 dòng giấy thi) trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp và sự phát huy tư tưởng yêu nước trong thời điểm hiện tại (1 điểm).

 

Câu Ý Nội dung
I 1 Đoạn văn là lời tuyên bố của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
2 Sử dụng nhiều phương pháp liên kết: phép lặp từ “chủ quyền” “thiêng liêng”; phép thế từ “chủ quyền biển đảo” thay bằng “điều thiêng liêng”.
3 Thông điệp chung của hai văn bản đều nêu cao truyền thống yêu nước, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam.
4 Học sinh viết một đoạn văn về chủ đề sức mạnh truyền thống yêu nước cần đảm bảo hình thức đoạn văn, có luận điểm, các luận cứ và lập luận chặt chẽ.

Gợi ý:

– Dân tộc ta có truyền thống yêu nước. Nó là sức mạnh giúp chúng ta đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, chủ quyền lãnh thổ.

– Nó cũng là động lực để chúng ta xây dựng, phát triển đất nước; đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội nhập quốc tế.

– Cần bồi dưỡng lòng yêu nước của thế hệ trẻ.

5 Hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tây Tiến” năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh, khi Quang Dũng rời xa đơn vị của mình chưa lâu, nhớ về Tây Tiến mà viết bài thơ này.
6 Từ “Tây Tiến” được được lặp 3 lần.

Tác dụng của phép điệp. Từ “Tây Tiến” được lặp lại như một hình ảnh có sức gợi mạnh mẽ đến đoàn quân hùng dũng một đi không trở lại. Từ ngữ được lặp lại không chỉ mang ý nghĩa nhấn mạnh mà hơn cả điệp từ tạo sự kết nối hình tượng từ đầu đến cuối bài thơ. Một hình ảnh xuyên suốt đầy ấn tượng tạo cho người đọc cảm nhận rõ rệt về đoàn quân qua hình dung của tác giả.

7 Học sinh viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp người lĩnh Tây Tiến qua hai câu thơ “Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”, cần cảm nhận được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng qua hai câu thơ.

Về hình thức: Biết viết một đoạn văn có luận điểm, các luận cứ và lập luận chặt chẽ.

Gợi ý: – Một lần nữa tác giả nhắc đến sự ra đi của người lính Tây Tiến “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Người lính gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu để che thân, đồng đội phải đan cho họ những tấm nứa, tấm tranh…

– Thế nhưng tác giả đã cố gắng làm giảm đi tính chất bi thương của những mất mát:

+ Áo bào (áo mặc ngoài của các vị tướng thời xưa) đã khiến họ trở thành những chiến tướng sang trọng.

+ Về đất là cách nói giảm nói tránh, cái chết lại là sự tựu nghĩa của những người anh hùng, thanh thản và vô tư sau khi đã làm tròn nhiệm vụ.

+ Sông Mã gầm lên khúc độc hành vừa dữ dội vừa hào hùng, khiến cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Sông Mã tấu lên bản nhạc dữ dội của núi rừng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng của dân tộc về nơi vĩnh hằng.

 

hoangbach

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x